ĐỌC LẠI
254 BÀI THƠ QUỐC ÂM THI TẬP
CỦA NGUYỄN TRÃI



Bài 2



Câu 1 bài 2 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1- Phiên âm từ Nôm ra quốc ngữ :

Trần Văn Giáp Phạm Trọng Điềm 1956 :

Thương Chu bạn cũ các chư đôi


Đào Duy Anh 1976 :

Thương Chu bạn cũ các chưa đôi

Bùi Văn Nguyên 1994:

Thương Chu bạn cũ các chưa đôi

Vũ Văn Kính 1995 :

Thương Chu bạn cũ các chưa đôi 

Nhóm Mai Quốc Liên 2000 :

Thương Chu bạn cũ gác chưa đôi

2- Chú Thích :

TVG-PTĐ :
Thương Chu : hai thời đại Trung Quốc cùng với hạ thông thương gọi là Tam Vương , kế tiếp đời Đường Ngu , giai đoạn nguyên thuỷ chuyển sang nô lệ manh nha .

DDA :
 Các chưa đôi : khó hiểu
Nguyễn Trãi gọi bạn cũ đời ThươngChu thì chỉ có thể là Y Doãn (Thương) và Chu Công (Chu) , cũng như chính NT giúp dựng nghiệp nhà Lê , Y Doãn – Chu Công cả hai đều làm nên sự nghiệp rồi mà còn giữ quyền vị suốt đời chứ không như mình sau khi đã thành công ( thửa việc rôi )lạI phảI lánh về để hưởng an nhàn cho nên tự xét mình chưa có thể tự cho mình chưa sánh được với bạn đời xưa . Vậy các chưa đôi nghĩa là đều là chưa sánh đôi với được.
bản B Đường Ngu bạn cũ lẫn chưa đôi . (Chữ “các” và chữ ”lẫn “ dễ lộn với nhau).

BVN :
Thương Chu Chu thay thế Hạ, , đến Ân Thương, , có phần suy thoái, nhân đó nhà Chu đã xảo quyệt dùng vũ lực, lật đổ nhà Thương để giành ngôi công chủ .
Ở đây NT kín đáo nói nhà Minh đã lật đổ nhà Hồ để cướp nước ta .
Do đó bạn cũ của NT đời Hồ, lúc này có ngườI làm việc với nhà Minh , như ngày xưa bề tôi nhà Thương, có kẻ chạy theo nhà Chu . NT nói “ các chư đôi” là nói không thể theo bạn cũ , kiểu bợ đợ giặc Minh, mà phảI đi ẩn chớ thôi , đó là ý tiếp cận thửa đề câu thứ 2 .

MQQL :
Nhà Thương 1000-11000 TCN
Nhà Chu 11000-256 TCN ( Tây Chu 1100-771 TCN và Đông Chu 771-256 TCN
Gác chưa đôi : gác lạI , chưa đôi co .
Nhóm MQL viết: TVG-PTĐ phiên là các chư đôi và chú “chưa hiểu rõ “ chí theo đúng nguyễn văn phiên ra. ĐDA phiên là các chưa đôi và chú : “ chưa hiểu rõ “ , rồI cho là “đều chưa sánh đôi với được “ Bùi văn Nguyễn cũng phiên là các chưa đôi và hiểu là “ không thể theo bạn cũ , kiểu bợ đỡ giăc Minh , mà phải đi ở ẩn chớ thôi “.
Kiều Thu Hoạch ( tài liệu chép tay ) : các chư đôi , chư tiếng Hán là Các , chỉ là tiếng đệm , Các chư đôi là nói ‘ mỗI người mỗi nơi , chỉ bạn bạ đồng tâm đồng chí cùng .
P. Schneider đã phiên là Thương Chu iện cũ và đã liên hệ vớI bài 58 QÂTT . Sự liên hệ ấy sai.
VVK phiên “ các chưa và đã hiểu là “đều chưa nhiều , đôi là nhồi , đầy ( trang 10 )

3-Nhận xét :

Câu này có phiên âm khác nhau :

các/gác
Chư /chưa
Và có cách giải thích khác nhau , Bùi Văn Nguyên suy luận Minh Hồ , người khác thì Y Doãn Chu Công .

4-   Kết Luận :

Câu 1 bài 2 nên phiên âm như sau :

Thương chu bạn cũ các chư thôi

 

Câu 2 bài 2 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi


1- Phiên âm Nôm ra Quốc ngữ :

Trần văn Giáp Phạm Trọng Điềm

Sá lánh thân nhàn thủa việc rôi


Đào Duy Anh :

Sá lánh thân nhàn thuở việc rồi


Bùi Văn Nguyên:

Sá lánh thân nhàn thuở việc rồi


Vũ Văn Kính :

Xa lánh thân nhàn thuở việc rồi


Mai Quốc Liên :

Xá lánh thân nhàn thuở việc rồi

2- Chú thích :

Đào Duy Anh :

Sá : Từ sá chúng tôi thấy thường dùng theo nhiều nghĩa ; khẳng định như sá lánh (đành nên lánh ); Phủ định : sá chi là chẳng kể chi , sá quản là chẳng quản , lại có nghĩa là vấn từ như câu 4 bài 32 ( nước non nguyệt hiện sá thôi chèo ).

Mai Quốc Liên :

Phiên âm khác VVK Xa lánh
Xá lánh : chữ xá có nghĩa là hãy , nên , phải , Tự điển Genibrei đã dịch là xá kíp hôì trào cho mau; xá giữ .
Rồi : rảnh rỗi , nghỉ ngơi . Ngày rỗi , rỗi tay , ăn nhưng ngồi rồi, Rỗi rảnh .
Câu này ý nói : Hãy lánh cho thân nhàn lúc đã rỗi rãi .

3- Nhận xét :

câu 2 bài 2 :
chỉ có chữ 1 câu 2 bài 2 phiên âm có khác nhau
sá/xa/xá
Riêng Bùi Văn Nguyên không có chú thích gì .
Vũ Văn Kính thì phiên âm là xa lánh , còn tác giả khác đều phiên âm là : xá/ sá lánh  Tra từ điển AR ( TK 17 ) trang 668 thì thấy sá , đi đàng  sá , đi đàng đi sá , xá , phố xá , xá  x ét  .

Tự điển chữ Nôm viện NCHN trang 986 có :
sá C2 nên cần phải ( sá l ánh thân nhàn thuở việc rồi NT )
Xá  trang 1261 C2 nên cần phải , hãy ( cổ )( Có thân thì xá cốc  chưng nhàn NT 14 a ) 

4- Kết luận :

câu 2 bài 2 nên đọc là :

Sá lánh thân nhân thủa  việc rồi .

   

Câu 3 bai 2 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1- Phiên âm Nôm ra quốc ngữ :

TVG-PTĐ :

Gội tục trà thường pha nước tuyết


ĐDA :

Cởi tục chè thường pha nước tuyết


BVN :

Cởi tục trà thường pha nước tuyết 


VVK:

Gội tục trà thường pha nước tuyết


MQL :

Cơỉ tục trà thường pha nước tuyết

 

2- Chú thích :

TVG-PTĐ :

Gội tục : trút sạch tục luỵ , bụi trần .

ĐDA:

Cởi, ĐDA cho rằng chữ Nôm là cội ,chắc là  viết lộn bộ “mộc “với “thủ”  , đọc là cổi hay cởi .

BVN:

Cởi tục : cởi là trút bỏ .

MQL : chú thích TVG : Gội tục ; ĐDA cởi tục chè thường …

3- Nhận xét :

câu 3 bài 2 có một chữ phiên âm khác nhau
  “Gội /”cởi”/cổi
Tra từ điển AR trang 297
Gội đầu,
Tự điển chữ Nôm viên NC HN
Trang 206 –207 có 6 chữ “cởi “
C2 bộ cải ; F1 bộ khẩu + cải; F1 bộ thủ + cối : cởi (cổi);
F1 mịch + cối ; F1 bộ Y + cối .
Trang 448 :
gội dùng nước giũ sạch tóc ,thấm đượm  

4- Kết luận

Câu 3 bài 2 có lẽ đọc là :

Cởi tục trà thường pha nước tuyết ./.

 

Câu 4 bài 2 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1- Phiêm âm Nôm ra quốc ngữ

TVG-PTĐ

Tầm thanh trong vắt tiễn trà mai


ĐDA

Tìm thanh trong vắt tịn chè mai


BVN :

Tầm thanh trong vắt tiễn chè mai


VVK

Tìm thanh trong vắt tạn chè mai


2- Chú thích :

TVG-PTĐ :
Tầm thanh : Tìm nơi trong sạch , ý nói là trần thế
DDA :
Tịn :
chữ này trong truyện Kiều , Hoa tiên ký phiên là tận .
Nên phiên là “tịn”, tức là hết ( cũng như tận ) Ở nông thôn Thanh nghệ Tĩnh ngườI ta bthường nói tịn (đến tịn nơi ) chứ không nói tận.
Tịn chè mai tức là hết chè hồng mai cho nên phảI uống nước tuyết , nhưng đó là muốn tìm cái thanh cao .
BVN :
Tầm thanh trong vắt tức rất trong , không có vẩn đục
Tiễn :chữ Hán nghĩa là thích hợp, thích ứng

3-Nhân xét :

Câu 4 bài 2 có sự phiên âm khác nhau
Chữ
tầm/ tìm
tiễn/tạn/tịn
Tra từ điển AR
Trang 720
tận , hết , tận thế , hết thế,
Tra tự điển chữ Nôm Viện NCHN
Trang 1053-1054 có 2 chữ
Tầm : Tầm bằng 5 thwocs ta, , khoảng , lúc , độ , chừng ; tầm xuân loài xcây , tầm phào , Trang 1126 có 1 chữ tìm A2 ( HV tầm ) Côd gắp cái đã mất hoặc hướng dẫn cái mong muốn ( Lều tiện Nhan Uyên tìm tới đỗ NT 21 b ).

4- Kết luận

Câu 4 bài 2 có lẽ đọc là

Tầm thanh trong vắt tận chè mai

 

Câu 5 bài 2 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

1- Phiên âm Nôm ra quốc ngữ

TVG-PTĐ :

Chim kêu hoa nở ngày xuân tĩnh

ĐDA :

Chim kêu hoa nở ngày xuân tĩnh

BVN :

Chim kêu hoa nở ngày xuân tĩnh

    VVK :

Chim kêu hoa nở ngày xuân tĩnh

MQL :

Chim kêu hoa nở ngày xuân tạnh

2-Chú thích :

Các tác giả đều không có chú thích câu 5 bài 2 QÂTT Nôm Nguyễn Trãi

3- Nhận xét:

Các tác giả đều phiên âm nôm ra quốc văn khá giống nhau

Chim kêu hoa nở ngày xuân tĩnh

Riêng MQL thì phiên âm là

Chim kêu hoa nở ngày xuân tạnh

  Tra từ điển chữ Nôm Viện NCHN
Trang1047 có 2 chữ tạnh ( loại chữ C2 hv tịnh ) và A2 hv tình ( nhật + thanh ) , Nghĩa là dứt mưa , trờI trong sáng ,
Trang 1127 có chữ tịnh ( cổ tĩnh ) A1 ( hv tịnh ) . Không thấy chữ tĩnh ( tinh + dẫu ngã );

4- Kết luận

Có lẽ bản MQL đọc là chính xác

Chim kêu hoa nở ngày xuân tạnh.







    ....CÒN TIẾP...


© tác giả giữ bản quyền.
. đăng ngày 12.02.2009 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội.

. TÁC PHẨM CỦA T.S. NGUYỄN VĂN HOA CHỈ ĐĂNG TẢI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART Ở NGOẠI QUỐC.