1900-1956












KỲ THỨ 4


Bây giờ nói đến các nữ thi sĩ tiền chiến : Anh Thơ, Vân Đài, Hằng Phương… và ở đây tôi chỉ đề cập thi sĩ điển hình Ngân Giang.
Ngân Giang, một nữ sĩ đứng hàng đầu thơ tâm tình tranh đấu - tác giả Xuân chiến địa trích đoạn dưới đây , một bài thơ hay nói lên sự hòa hợp xã hội đi lên trong giai đoạn giao thời tiền chiến 1945:

“…Công chúa Ngọc Hân mơ Nguyễn Huệ
Bởi say sự nghiệp khách anh hùng
Em cũng mơ người trai đất Việt
Sẽ là những bậc Nguyễn Quang Trung

Đẹp gì chăn gối trong khi cả
Dân tộc sôi lên chí quật cường
Hãy gác tình riêng mưu nghiệp lớn
Để đong máu giặc dội biên cương

Ngày mai trọn phận người dân nước
Vó ngựa xin dừng trước mái gianh
Để ngắm ai xưa ngồi dệt lụa
Má đào còn thắm tóc đương xanh

Nếu sớm hy sinh nơi chiến địa
Chữ vàng chói lọi ánh vinh quang
Em kiêu hãnh như chồng em đã
Sống với thời gian vượt thế gian…”
(…..)

Thi sĩ tiền chiến Tự lực văn đoàn, ngoài Thế Lữ -trưởng nhóm thơ , còn Huy Cận, Xuân Diệu, Anh Thơ … Và ngay bản sắc thơ độc đáo - vẫn cần có một chef de file- thì Thế Lữ chưa đúng là một trưởng nhóm ( thơ) - khi so sánh với thi nhân nước ngoài

Bài Nhớ rừng tưởng niệm thời oanh liệt nay còn đâu , chẳng có gì mới mẻ - mượn hơi tứ thơ Où sont les neiges d’antan ( Thời oanh liệt nay con đâu?” - hoặc Hai con hạc trắng bay về Bồng lai vay tượng hình thơ cổ Trung hoa. Sự liên tưởng này nếu có, chỉ là chắp vá – tuy nhiên phải thừa nhận Thế Lử có đôi chút tài mọn điều phối ý tưởng phù phép tạo được sự đồng nhất thành bài thơ nổi tiếng Nhớ Rừng, hoặc hai con hạc trắng điệu nghệ mơ mộng bay về Bồng lai. Thế Lữ đã biết mượn đà văn hoá phương tây làm của riêng - rất đáng cảnh tỉnh kẻ chỉ biết mượn ý tác phẩm trung thành người khác- hay nói khác đạo, sao chép tùy tiện đặt bút ký tên mình như sự hãnh diện tài năng sáng tạo. Một thuật ngữ epigone- phương tây dùng chỉ bọn bắt chước, sao chép thấp kém trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, thi ca, âm nhạc, triết học. ( epigone: an inferior imitator, especially of some distinguished writer, artist, musician, or philosopher).
Còn Xuân Diệu- thi sĩ nổi tiếng đô hội thanh xuân , với Yêu là chết ở trong lòng một ít - sao chép tư tưởng không ít : Partir , c’est mourrir un peu. Và trong thơ Huy Cận có hai câu, mới đầu đọc lên nghe thật hay , tư tưởng mới, ý thơ lại lý thú lại tân kỳ:

Thâu trong cái ngáp dài vô hạn
Hình ảnh lung lay vũ trụ tàn

tưởng là độc đáo riêng của chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm - hoá ra bắt chước sao chép tân ý Charles Baudelaire - Les Fleurs du Mal ( tạm dịch: Ác hoa ):

Et dans un baillement avalerait le monde.

Và thế giới thơ Vũ Hoàng Chương ngông nghênh, đôi khi chán chường lại chẳng biết tại sao chán chường, chẳng có lý do gì để biết tại sao? Mà có lý do đi nữa, đã mấy ai phi lý có lý do như Albert Camus đâu? Vũ Hoàng Chương vào văn nghiệp thơ- ban đầu rất mặc cảm tự ti vị nghệ thuật - cho rằng ý nghĩa art pour art phải sống khác người, riêng biệt, không cần hiểu đồng loại , quay mặt lại , như một kẻ từ hành tinh xa lạ đến hạ giới, vẻ kiêu kỳ. Ông được quyền khinh đời như phản ánh văn chương Nguyễn Tuân (Vang bóng một thời) , nhưng phải là trang bất tử văn học việt- vì trước đó tác giả là kẻ chán đời thực sự chân thành, sống trải kinh nghiệm máu xương, chán đời lại là yêu cuộc sống . Và một thanh niên mới bước ra khỏi lề trường học bày đặt chán chường nhân thế, hô hào đời phi lý t muốn nôn mửa - thì sự phi lý ấy sẽ được nhìn ra sao , và đối với kẻ mang trong huyết quản ba bốn, mươi năm đời chán mình , còn mình thì vẫn chẳng thương đời.
Với Vũ Hoàng Chương- chúng tôi thừa nhận có nhiều bài thơ ngang tàng phá phách, lại chưa có niềm kiêu hãnh lớn Nietzsche:

Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh.

Qua Lưu Trọng Lư- nhà thơ chịu ảnh hưởng tây phương ít nhất, và nặng tình, ý đông phương- càng nhiều hơn sao chép ý tưởng thơ Nhật bản. Thơ ông có một ý vị trầm buồn, đôi khi tiềm tàng hùng ý. Hình ảnh , tứ thơ thời dĩ vãng phản ánh trong thơ thật tuyệt diệu, chẳng hạn một hình ảnh thơ nhớ mẹ thiếu thời lúc non trưa:

…Mỗi lần nắng mới hắt bên song
Xao x ác gà trưa gáy não nùng
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng
Chập chờn sống lại những ngày không…(*)

Một thi sĩ khác đã gạt ra ngoài hình ảnh yêu đương trong thơ văn xã hội tiền chiến. lấy yêu đương làm nỗi khuây khỏa chính đáng - thì độc nhất người ấy đi trên tình yêu lứa đôi tầm thường, hướng về suy tư hờn vong quốc Chiêm Thành- bóng gió nước Nam bị Pháp đô hộ. Người ấy là nhà thơ Chế Lan Viên:

..Tôi có chờ đâu có đợi đâu?
Mang chi xuân lại chỉ thêm sầu
Với tôi tất cả là vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau…

*( Bài thơ Nắng Mới này Lưu Trọng Lư đạo thơ Nguyễn Vỹ. Xem thêm trong Thư viết ở Sài Gòn của Thế Phong( NXB Văn Uyển, San José, California 2000 -chú thích năm 2000)
Rồi Hàn Mặc Tử, Trần Huyền Trân, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, T.T.Kh., Trần Trung Phương, Huyền Kiêu, Đoàn Văn Cừ, Đinh Hùng, Lan Sơn, Huy Thông, Hồ Dzếnh vv… danh nhân quen tên thời tiền chiến chưa hẳn gây được tăm tiếng lừng lẫy trong nền t hi nghệ tiền chiến Việt nam có đủ sức vóc đương đầu thế giới. Nhưng tạo được tăm tiếng cá nhân ngay ở trong nước, thì họ đã có một chỗ đứng vững vàng.

Vậy sự thất bại lớp thi sĩ tiền chiến bắt đầu từ đâu? Chính là họ đã sống trong một khung cảnh quá eo hẹp, nhỏ bé, khoảng không gian bó rọ bốn bức tường thành phố, cùng khai thác được một ít vốn sống thuở thanh thiếu niên thôn quê, chưa nhiều cơ hội đi sâu từng lớp sinh hoạt nhiều con người qua nhiều thành phố, làng mạc- nên không thể khai triển vốn sống có được - tóm lạ họ không tạo được cơ hội mà chỉ theo đuôi cơ hội sẵn có rồi làm mới lại.
Đa số văn thi sĩ tiền chiến bị bó giọ, thiếu tâm hồn sáng tạo ,và chẳng có một văn nhân nào dá m hy sinh cả đời cho văn chương nghệ thuật . ( trừ Hàn Mặc Tử) Thế giới văn chương tiền chiến chỉ có niềm kiêu mọn, đạt đỉnh văn chương thật hiếm hoi. Người làm cách mệnh thì nửa đời, nửa đoạn , khi bị gông xiềng , chống đối tiêu cực qua hình ảnh con hổ bị nhốt ở Sở Thú. ( Nhớ rừng : Thế Lữ)
Còn nữa, tình trạng thâm nhập văn hóa ngoại quốc, đa số văn thi sĩ tiền chiến đã phỏng dịch, phóng tác-, mong nổi tiếng nhanh hơn. Trí hẹp, tham vọng mọn, ham muốn danh xuông ở nước nhà đã là đủ, nên không sao thể so bì với thế giới được! Xin ghi lấy nhận định này làm kinh nghiệm cho lớp sau.
Tình trạng văn nghệ nước ta giai đoạn 1930-1945 chẳng khác gì tình trạng văn nghệ và xã hội Nga vào thế kỷ XIX bao nhiêu? Gia đình khá giả đều cho con cái theo học trường Pháp, thanh niên thiếu nữ nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp ở ngoài xã hội—và đó là điều được mệnh danh thuộc gia tộc quí phái ( noblesse oblige ) . Nhìn sang văn nghệ ở Nga thời ấy, nhờ nhà văn dám hy sinh trọn đời cống hiến cho văn chương, như Dostoievski, Léon Tolstoi, Gogol, Tourgueniev…. mới được thế giới biết đến. Ở ta, không chỉ nghèo nàn về tác phẩm hay , một phần sao chép cái hay, cái đẹp văn chương nước ngoài, hẳn không thể có được tác phẩm nổi bật là lẽ đương nhiên. Thời kỳ chữ quốc ngữ phôi thai, danh từ thiếu thốn, chúng ta phải để nguyên văn ngôn từ Pháp - đến ngay một cuốn từ điển chỉ để giải nghĩa tiếng việt chuẩn mực cũng không. Tuy vậy, ở Nga thời kỳ ấy cũng chịu ảnh hưởng văn chương Pháp không ít, chẳng khác mấy so với ta.- tác phẩm văn chương Dos. Leon Tolstoi vv.. tiếng Pháp xen lẫn được in chữ nghiêng, en francais dans le texte.

Văn nghệ , xã hội, bối cảnh chính trị luôn tiến triển song hành với nhau. Có khi bối cảnh chính trị, nhờ biết được qua văn chương phản ánh, như trường hợp Voltaire, J, J, Rousseau ở Pháp hoặc nhà văn xã hội Nga Maxime Gorki chẳng hạn. Đôi khi chính trị đưa văn nghệ đi theo đà cách mạng như trường hợp kháng chiến 1945 ở Việt Nam. Cuộc kháng chiến làm bừng tỉnh thức giấc tâm trí nhà văn, nhà thơ t iền chiến –dài ngủ li bì trong đêm dài bị bảo hộ- bừng mắt dậy bựt đổi thay. Giấc mộng lãng mạn chủ nghĩa xưa kia chịu ảnh h ưởng phương tây được rũ bỏ, và coi như mình đã chót sống ê trệ. Có một điều lạ, chủ nghĩa lãng mạn classicisme châu Âu là catholisme văn nghệ. Khởi đầu từ giáo chủ triết gia Aristote lan sang Pháp , đến các nhà phê bình nghiên cứu văn học Boileau, Laharpe vv… dần dà lan tỏa sang kịch tác gia Corneille, Racine, Voltaire và các nhà văn nghệ khác nữa. Ông tổ thực hành chủ nghĩa lãng mạn cao độ phải kể J. J. Rousseau, Chateubriand - đem hẳn cuộc sống riêng tư hoà nhập đời sống t hường nhật xã hội - tạo thành một chủ nghĩa văn chương lãng mạn .

Và thế` kỷ XVIII là một thế giới lẫn lộn vàng thau, đạo đức giả, ru ngủ tâm hồn con người và là thế kỷ lộn xộn vô trật tự nhất. Rồi bước sang thế kỷ XIX ,thê kỷ tinh hoa chọn lọc mức độ hưng thịnh có kỷ cương.- nên được gọi là siècle romanesque ( thế kỷ lãng mạn ) . Ở Anh, Shakeaspear đã tung hoành bão tố, ở Nga Pouckhine cũng không kém. Thực ra ở Pháp ,Thụy Điển, Đan Mạch thời kỳ ấy cùng dấy lên phong trào văn chương lãng mạn cực thịnh. Riêng Pháp lại lao đầu vào cái mới với tất cả sinh động, mà chính cái cũ -chủ nghĩa lãng mạn cổ điển, tượng trưng đang có vị thế bao trùm- nền văn nghệ trẻ trung ấy vẫn bị dằng co cái cũ, nền móng cái mới chưa có căn bản vững chắc. Lướt qua sinh hoạt văn chương tư tưởng, từ trung cổ đến thế kỷ XVII, XVIII, ở Pháp chẳng có gì nổi bật đáng lưu tâm. Còn ở Anh, thì Walter, Scott đã từng lúng túng ban đầu, sau lại ngạc nhiên với tác phẩm được đưa vào chương trình giáo dục của Pope và Blair chẳng hạn, và cuối cùng thì cùng bước vào lãng mạn chủ nghĩa. Ở Pháp, người ta thấy Victor Hugo xuất hiện, theo đầy đủ bản năng thiên tài sự sung sức cao độ. Ở Ba Lan là Mickiewicz, ở Ý Mazani, ở Đan Mạch Oclensehaper và Thụy Điển là Tegner vv…
Phong trào lãng mạn mạnh nhất làm khởi điểm cho tất cả phong trào các nước khác, v2 một Đức quốc dẫn đầu . Còn phong trào lãng mạn cổ điển Pháp tràn sang nước ta , như một thứ phát tán chủ nghĩa sang nơi bị đô hộ, ban đầu đượccoi như hiện tượng mới lạ. Sự bắt chước hẳn là thấp kém, bao giờ thì chẳng vậy, học sinh thiếu căn bản dễ bị ảnh hưởng non nớt –sao vượt tư tưởng thầy truyền đạt, mà thực ra thì bậc thầy ấy chẳng tái cán gì cho lắm!
Nói chung, không riêng ta chịu ảnh hưởng phong trào lãng mạn , các nước chịu ảnh hưởng lẫn nhau- sở dĩ ta hấp thụ kém cỏi, bởi tâm hồn á đông chưa thích hợp trực diện nhận lãng mạn phương tây như họ nhận với nhau.
Riêng ở Nga, chỉ một mình Pouckhine đã tạo được một chủ nghĩa lãng mạn riêng biệt, khác hẳn romantisme thế giới giai đoạn ấy. Nhà văn Nga đưa ra một thứ lãng mạn rút ngay trong đời sống phóng khoáng bản thân , khi viết thơ trường thiên Eugene Oneguine . Tác phẩm điển hình chủ nghĩa lãng mạn rất ư riêng tư Pouckhine- đứa con tinh thần trong văn chương mà ông yêu nhất có đôi chút tân kỳ, phản ảnh hình tượng sống tác giả. Thế giới riêng biệt của lãnh tụ văn nghệ lãng mạn rất ư riêng tư ,và sự sống sung mãn cá nhân đồng rung cảm hoà đồng với xã hội ở mức độ cao đỉnh chóp của Pouckhine.
Ở ta, Tự Lực văn đoàn theo chủ nghĩa lãng mạn, duy chỉ Khái Hưng và Nhất Linh thành công hơn cả. Nếu Khái Hưng tả nhân vật lãng mạn không cần dựa vào hoàn cảnh sống riêng tư, xã hội, tập quán dân tộc- thì ông hư cấu vẫn tạo được tác phẩm văn chương lãng mạn- chẳng hạn tả hai người yêu nhau không lấy được nhau- tình tiết rất ư là nước mắt-thì phỏng theo Wuthering Heights (Đỉnh gió hú- đã được dịch sang việt ngữ) của Emily Bronte.Và Khái Hưng đã vượt được sự sao chép hình tượng lãng mạn chung ấy. Tôi muốn nhấn mạnh lối sống và kỹ thuật tả cảnh yêu đương đôi lứa của Khái Hưng rất độc đáo khác hẳn các nhà văn đồng thời- Khái Hưng đã nổi tiếng là điều không cần bàn cãi. Nhóm Tự Lực văn đoàn đã tránh được sao chép ảnh hưởng từ nội dung trung thành mà họ mượn, tiểu thuyết nhóm này đã thành công-- còn thơ thì trái lại, sao chép ý tưởng thơ phương tây quá trung thành, dầu tài như Xuân Diệu- đã có lần thoát dịch ý thơ tây , đọc thơ ta mà chẳng là thơ ta, thơ tây thì kém chât lượng thơ tây:

Lẫn với đời quay tôi cứ đi
Người người không thấu giữa lòng si
Cũng như xa quá nên ta chỉ
Thấy giấy yên như một miếng bìa…

Tới Huy Cận sao chép dịch ý thơ Charles Beaudelaire làm của riêng: Thâu trong cái ngáp dài vô hạn như đã nói ở phần trên.
Thời kháng chiến, bài thơ Trở về Xuân Diệu mới chính là của Xuân Diệu- không cần vay mượn ai khác nữa. Xuân Diệu tả mẩu đời thường nhật - một đất nước mới đang vươn mình, độc lập đang nẩy mầm:

… Tôi lại về vì khúc nhạc sau đây
Đập vang trời, mời cả nước cùng mây
Ai muốn ngủ thế nào cũng được
Như một sớm trên đường vang tiếng guốc
Như một trưa chim chóc réo mùa hè
Tiếng dũa rèn đập nắng chảy vàng hoe
Tiếng tia sáng múa vườm qua chiếc búa
Những bánh xe quay, những guồng máy lụa
Những bàn châm dậm những cánh tay nhanh
Tiếng cất nhà. Trời đất gõ lanh canh
Kêu thánh thoát trong khi thành cửa sổ
Những tia máy phì phì đang tập thở
Những con tầu đầy sức rúc huyên thuyên

Tôi phải về nghe dự nhạc đoàn viên
Nhân loại mới nói cười như trẻ nhỏ
Việt Nam sau một thời lao khổ
Bây giờ cười như hoa nở….

Lại nhớ đến nhà thơ hậu chiến khác chịu ảnh hưởng Xuân Diệu- , qua bài Trở về - đây là liên tưởng làm tựa điểm -để Quách Thoại sáng tạo được Cờ dân chủ bứt đi xa hơn.
Có thể nói nhà thơ hậu chiến tài năng bậc nhất trong bình diện văn nghệ hậu chiến ( miền Nam) . Thơ phản ánh hình tượng sống thực tiễn của chính nhà thơ Quách Thoại- khổ như con vật- ngược lại đời sống tinh thần lại thanh tao thánh thiện!
Những bài thơ hay của Quách Thoại, phải kể đến:: Cờ dân chủ ,Như Băng trường tình, Em bé mồ côi, Tôi phải về… Có thể gọi chủ nghĩa lãng mạn cách mạng trở lại như thác đổ trong thơ ông, qua lối nhìn rất ư tinh tế tới tủy, não, rung cảm, yêu, hởn, giận ghét, công phẫn, chịu đựng thầm lặng- sau Quách Thoại xuất thần viết được nhiều bài tuyệt bút. Chẳng hạn Như Băng trường tình:

…Như Băng! Như Băng! vì đâu mà lệ ứa
Ta khóc than nghĩ tủi phận đời ta
Một linh hồn lạc lõng giữa bao la
Một tình yêu chưa một lần trao gởi
Tim cô đơn chưa một lần ấm sưởi
Lạnh trong hồn thấu ở trong sương
Nghe đêm xuống tưởng buồn như tận thế
Lệ rất nhiều mà khóc chẳng ai lau
Ta một mình ôm tất cả đớn đau
Không dám nói bởi chưng rằng khó nói
Viết lời thơ thành lời kinh kêu gọi
Nào vơi chi sầu hận của nhân gian
Như Băng xin em ngó nẻo Thiên đàng
Để nguy hiểm ta sống đời địa ngục
Ta chỉ sợ rồi dây nơi nhà phước
Máu tai ương sẽ vấy tấm thân em
Lưỡi dao người sẽ cưa xẻ gót chân sen
Em sẽ chết dập bàn tay ngà ngọc
Rồi ta khóc đến tan tành trí óc
Như Băng em nào hiểu gì đâu?
Đã từng đêm ta nguyện với ta cầu
Lòng tự hỏi vì đâu đời khổ lụy?
Bởi vì đâu hỡi loài hoa cao qúy!
Mà hương thơm còn mãi đến ngàn sau
Nở chi đây phô sắc thắm nhiệm mầu
Đất sắp sửa nứt thành phun lửa
Như Băng em đơn thương là thế rứa
Bởi yêu em mà khóc mấy cho vừa
Đấy lệ tình ta em biết cho chưa?
Xác hồn ta chết đau gần quá nửa..!(…)

Theo tác giả tiết lộ, bài thơ viết được nhờ cảm hứng đem đến từ một Nàng thơ- ( con cô cậu ruột nhà thơ ữ ử nổi danh sau này :V.K.)
Sau Quách Thoại, không thể quên nhà thơ đại tá Hồ Hán Sơn. Con người có tài chỉ huy quân sự, soạn gỉả sách: Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, Chiến tranh thứ ba bùng nổ-Việt Nam sẽ đi về đâu? còn làm thơ. Và thơ thì hay.Tác giả Hồ Hán Sơn nhiều tham vọng chính trị, thiếu thủ đoạn một chính trị gia mưu kế, hậu quả cuối đời bị tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương cho lệnh thủ tiêu, vứt xác xuống giếng ở trại quân Bến Kéo- Tây Ninh.( 1955) . Liên tưởng nhà văn Nga Tourgueniev từng liên lạc với một nhóm làm cách mệnh ở Luân đôn ( London) – thì bạn thân người Pháp - Prosper Mérimée, nhà văn Pháp - biết bạn mình non nớt lại ham muốn chính trị, tất sẽ thiệt thân, gửi thư khuyên răn. Bởi Merimée muốn Tourgueniev hãy chỉ là nhà văn thuần túy mà thôi. (un vrai littérateur). Prosper Mérimée từng làm quân sư vua Pháp, về già lánh mặt vua- tránh lưỡi gươm oan nghiệt giáng xuống đầu. Viết về sự chết bản thân sau này , nhớ cái chết tuyệt diệu loài mèo - giống mèo thường tìm một nơi chết kín giấu để chết t cách bí mật không cho tìm được vết tích – và trong thư có câu:
”…J’ai remarqué que les chats lorsqu’ils sont devenus vieux et malades, fuirent le monde et cherchent quelque trou pour y crever incongnito..”( Lettre de Mérimée à L’Empereur- Une amitiée littéraire của Maurice Laturier, Nxb Hachette,Paris 1952).
Và nhà quân sư ấy là tác giả truyện Carmen từng được tặng huy chương, lại chẳng màng kẹp ngù trên nẹp áo. Phải chăng lời khuyên Mérimée với bạn , vì biết Tourgueniev chỉ có khả năng làm nhà văn thâùn túy mà thôi. Như vậy , với trường hợp Hồ Hán Sơn, chúng ta vẫn thiếu một quân sư làm tư vấn thi sĩ đại tá ? Thật tiếc cái chết oan uổng Hồ Hán Sơn, nhà thơ tài ba , tác giả bốn câu thơ dưới đây: ( thiếp chúc tết Nguyên đán người viết vào năm 1955, trước khi tác giả bị thủ tiêu)

Ở Bắc đã lay cây rụng lá
Về Nam ngơ ngẩn áng mây sầu
Đất trời đang hẹn cơ vong quốc
Thơ kiếm xuân sang chúc bạn bầu

Hồ Hán Sơn, tác giả một số bài thơ hay ,gần như tuyệt bút: Hẹn Hò, Hương Tàn, Tình nghèo… tuy sáng tác thơ không nhiều- nhưng thơ đều hay – chĩ một bài Tình nghèo rung động tâm hồn một nhạc sĩ - Phạm Duy phổ thành ca khúc lưu danh. ( bài thơ đăng trên báo Việt chính, ký bút danh Trần Hồng Nam ).
Tứ thơ đẹp mô tả bức tranh quê thơ mộng, tình đôi lứa thủy chung, đặt tình yêu non sông đất nước trên hết, nếu chẳng may chàng bị thương nơi trận địa thì hãy cứ về- sự đắn đo bất trắc tương lai- dầu sao người đàn bà vẫn một lòng dạ trông chờ. Tình nghèo , một trong số bài thơ hay của Trần Hồng Nam- Hồ Hán Sơn :

“ Nhớ thuở nào
Anh cày thuê
Em chăn trâu
Bóng mát dưới cầu
Quen nhau
Một cỗ trầu cau
Nên đôi chồng vợ
Túp lều tre nứa
Dựng cuối vườn làng
Hai mùa lúa chín ngô vàng
Chầy tre cối đất nhịp nhàng đã vui

Thế rồi
Mõ giục từng hồi
Giặc tràn mấy xứ
Lúa khoai mầu mỡ
Ai đi không tiếc ruộng đồng
Đường quê thiên hạ tiễn chồng

Em đưa anh ra lính
Giặc vào anh đánh
Giặc tan anh về
Làm sao đuổi hết giặc đi
Để cho cối đất chày tre nhịp nhàng
Bao giớ giặc chết trên ngàn
Giặc tan ngoài bể
Nhớ lời em nhé
Và cánh đồng quê
Ai chê người đuổi giặc
Ai ghét kẻ thương binh
Còn làng còn nước còn anh
Còn đồng ruộng cũ còn tình lứa đôi

Em vui
Nước nhà độc lập
Đường quê tấp nập
Trai tráng về làng
Hai mùa lúa chín ngô vàng hơn xưa..”

Hồ Hán Sơn đã chiến đấu ở Liên khu IV với Quang Dũng- nhà thơ tai hoa bậc nhất giai cấp tiểu tư sản ,tên thật Bùi Đình Diệm hoặc Dậu . Ông từng sang Tàu làm cách mệnh, tốt nghiệp Hoàng Phố. ( trường quân sự quân sự chính quy Trung hoa dân quốc).
Và tiện dịp nhắc chuyện nhà thơ Xuân Diệu mặc bộ đồ nâu hát thơ Tây Tiến của Quang Dũng ; một bài thơ hay hàng đâu kháng chiến ,thì cũng chẳng có gì quá đáng! Quang Dũng ,là nhà thơ trưởng thành cùng Tất Vinh, Hồng Nguyên, Yên Thao, Hoàng Lộc, Chính Hữu, Trần Hữu Thung, Hoàng Cầm, Trần Dần vv… Thơ Quang Dũng được đăng rải rắc trên các báo liên khu, hoặc được học thuộc ,truyền khẩu qua các chàng Vệ quốc quân trên các nẻo đường hành quân. Một bản sắc thơ riêng biệt, nhịp nhàng, mang tâm hồn sảng khoái, sống hào hoa, lời nhẹ nhàng bay bướm không là thơ sắt máu Tố Hữu thời tiền-kháng-chiến. Hình ảnh quê hương qua các nẻo đường chinh chiến- dưới gót chân Quang Dũng đi qua đều phản ánh trong thơ: Tây tiến, Tiêng chuông ban trưa, Lính râu ria, Đường dài, Buồn êm ấm, Cô gái Sơn Tây, Mẹ, Đôi bờ…..
Hình ảnh thơ có lá chuối phần phật reo, quán cơm nghèo bôc khói, chuối tiêu vàng dẻo quánh, tô riêu cua bốc hơi ấm áp, bắt gặp nàng thợ cấy duyên dáng trong bài Đi chẳng hạn- hoặc phơi bầy tâm tình nhẹ nhàng tế nhị, hình ảnh chiên sĩ hành quân tạt quán bên đường một trưa nắng: Tôi thương mà em đâu có hay! Hoặc hình ảnh hùng tráng đoàn quân lên miền việt bắc khói sương, lòng ngùi ngùi nhớ tiếc miền trung châu lưu luyến của g chàng Vệ quốc xa nhà từ dạo binh đao!
Nói đến Quang Dũng - không quên Vệ quốc quân Hữu Loan - dưới bài thơ chỉ ký một chữ Hữu hoặc Hữu Loan , mà đa số Vệ quốc quân học thuộc và truyền khẩu bạn bè .Thơ Hữu Loan khác thơ Nguyễn Đình Thi -từ nhịp điệu đến nội dung, nói về người lính xa nhà rất tế nhị, đi sâu vào lòng ngưòi đọc. Bài thơ hay như lời nói tự nhiên, đã chau chuốt rồi vẫn bình dị như lời nói. Hữu Loan thành công bắt đầu Mầu tím hoa sim qua Gác chuông, Người đi qua làng, Người quay tơ….
Còn hình ảnh thơ Quang Dũng tả Vệ quốc quân - chiến sĩ gục đầu trên mũi súng bỏ quên đời:

Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành

thì trong Mầu tím hoa sim , Hữu Loan tả chiến binh trở về không còn được gặp vợ, bình hoa ngày cưới thành bình hương và bà má vợ gục đầu bên mộ con gái. Rồi nghe có tiếng than khóc, tiếc nhớ mà không ủy mị, lại rất tự nhiên:

…Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo cưới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giầy đinh
Bùn bết đất hành quân

Nàng cươi xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cuới nhau xong là đi

Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lây chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ
Bé bỏng chiều quê

Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con
Đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hoa
Tàn lạnh vây quanh(*)

Bài thơ này trong thời kháng chiến chỉ được lưu truyền qua cửa miệng bộ đội này qua bộ đội khác, chưa đăng báo lần nào để có thể gọi là đầy đủ- do đó không một bài Mầu tím hoa sim nào được coi là đúng và đủ. Mãi cho đến năm 1957, khi Nguyễn Bính chủ trương báo Trăm hoa ở Hà Nội (1957) mới đăng trọn bài đầy đủ- và lần đầu tác giả được lĩnh 15 đồng bạc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà- (luơng công nhân bình thường 27 đồng/tháng) . Có hai nhạc sĩ (Việt Nam Cộng Hoà) phổ thơ: Dzũng Chinh và Phạm Duy- với tôi, ca khúc phổ thơ của Dzũng Chinh thật tuyệt vời!.(Chú thích: năm 2001)
Một bài thơ tuyệt bút- tác giả bị Hội Văn nghệ ViệtNam ( Tố Hữu cầm đầu ) lên án bài thơ đề cao tiểu tư sản, thiếu mầu sắc nông dân vô sản (prolétarien) . Cúng lớp nhà thơ Vệ quốc bị chỉnh lý ấy, chúng tôi nhớ Yên Thao ( Nguyễn Bảo Thịnh 1923- ) -nhà thơ có danh từ riêng từ ngày khói lửa. Tác giả nhiều bài thơ hay, phản ánh giai cấp tiểu tư sản, như bài Nhà tôi chẳng hạn, cũng vẫn chỉ được truyền miệng ban đầu,dầu là bài thơ trác tuyệt.
Nếu một Hoàng Lộc chỉ cần một bài thơ Viếng bạn , và Hữu Loan một Mầu tím hoa sim, thì Yên Thao cũng chỉ một Nhà tôi là đủ. Còn gì đẹp hơn hình ảnh chiến binh đứng bên này sông nhìn về bên kia sông một buổi tối trời, làng đang chìm đắm mờ ảo dưới làn khói mịt mù chiến tranh- nhớ vợ trẻ, mẹ già, người thân - hy vọng một ngày mai trở về gỉải phóng quê hương mạnh mẽ như tin vào sức mạnh thép tôi già.. rồi sẽ lại được nhìn vườn hoa thiên lý hương, gặp lại vợ mới cưới tuổi đôi mươi, đôi gò má ửng hồng. Lòng tin thép tôi gìa ấy nắm được phần tất thắng ngay trước giờ xưất trận:

…Này anh đồng chí
Người bạn pháo binh
Đã đến giờ chưa nhỉ
Mà tôi nghe
Trại giặc đã tan tành
Anh rót cho khéo nhé
Không lạc nhầm nhà tôi
Nhà tôi ớ cuối thôn đồi
Có giàn hoa lý
Có người tôi thương…

Và buộc phải nhớ các nhà thơ nổi tiếng khác trong kháng chiến : Hoàng Cầm, Hoàng Lộc, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Trần Hữu Thung, Văn Cao, Tố Hữu, Hoàng Trung Thông, Tất Vinh, Hồng Nguyên - hoặc chiến sĩ văn Minh Tiệp, Phùng, Hà Khang vv…thơ mỗi người mỗi vẻ trong bối cảnh kháng chiến khói lửa .

Bây giờ bước sang địa hạt bàn về nhà văn kháng chiến và chiến sĩ văn :
Nam Cao, Trần Đăng, Nguyễn Trinh Cơ, Đình Quang, Siêu Hải, Lưu Hương…
Nam Cao- nhà văn ngưỡng cửa tiền-kháng-chiến - như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Dân Giám, Nguyễn Khắc Mẫn… vv..
Nam Cao ( 1916-1951) trước khang chiến đã viết loại truyện Hoa Mai -chuyện nhi đồng cho nhà xuất bản Cộng Lực . Tác phẩm: Nửa đêm, Bẩy bông lúa nếp, Cười, Đôi lứa xứng đôi, và các truyện ngắn đặc sắc khác Thật ra câu chuyện không thành chuyện ấy dưới ngòi bút Nam Cao lại là chuyện đọc được và độc giả thích thú. Thiên tài văn Nam Cao ở chỗ có nghệ thuật viết chuyện kể hấp dẫn ( un vrai bon conteur) . Đọc Nam Cao qua Ở Rừng lại nhớ lối viết tài tình của Nguyễn Tuân Gió Lào - đó là hai nhà văn kể chuyện tài ba có hạng, ít nhà văn nào sánh kịp!
Ở Rừng, Nam Cao giới thiệu nhân vật Cô Vẩu- một cán bộ có tinh thần phục vụ đồng bào xả thân phục vụ mục đích , hy sinh vì lý tưởng dân tộc. Rồi vai họa sĩ , Nam Cao chỉ cần tả qua vài nét điển hình, đủ giới thiệu người đọc vai trò nghệ sĩ thời kỳ kháng chiến, sống nhiều ở nội tâm, phong thái trầm lặng, dầu c ó thất bại đi nữa ,hoạ sĩ không hề bi quan- nở nụ cười khì . Vai bà cụ Quán miền núi Cao Bằng giàu lòng bác ái, đối xử tốt với chiến sĩ trung châu lên núi làm việc nước. Nam Cao có một lối tả cảnh núi rừng thật đẹp, vẻ tĩnh lặng nghìn năm xưa còn đến hôm nay, dễ làm chao đảo lòng người đượm nỗi buồn man mác, trầm lặng. Với tác giả, từ miền rừng núi xa ,lại nhớ miền xuôi, nhớ vợ, mong con- Nam Cao ghi laị thật chân tình, không giấu giếm. Thể loại tạp văn dễ cảm động người đọc vì sự chân thành- đọc Nam Cao nhớ tạp văn Lổ Tấn, Ba Kim- thể loại văn cảm giác cô đọng sâu sắc, linh hoạt đầy nhân bản tính. Tác giả Ở Rừng tự sự kể rằng : chỉ viêt được vài mẩu chuyện đời vụn vặt, điều này chưa mấy hài lòng - ông có mộng ước lớn hơn viết được tác phẩm dài hơi ( longue haleine) đóng góp với đời.Nhưng đến khi qua đời, mộng ước ấy vẫn là mộng ước, ông không thể thực hiện được một tác phẩm văn chương dài hơi mong muốn. Và mộng lớn văn chương đành xếp lại ở tuổi ba mươi:
“…. Bao giờ đây, cuốn tiểu thuyết lớn không mấy đêm làm báo tôi không nghĩ đến mấy năm trời nay. Những tác phẩm mơ ước ấy, có phải đến tận bây giờ tôi mới phải gác nó lại đâu? Phần lớn thì giờ của tôi trước đây đều dùng vào việc viết những truyện ngắn, dài, truyện trẻ con, tôi không vừa ý chút nào ;nhưng nó giúp tôi moi được tiền của bọn buôn văn để đem về nuôi cái thân tôi và nuôi vợ con. Nước mình còn nô lệ thì tiếng mình còn bị chê khinh và bọn nhà văn còn bị rẻ rúng, bạc đãi…”
Nam Cao sống trong giai đoạn giao thời , Pháp, Nhật thống trị đến ngày kháng chiến bốn lăm bùng nổ- tất cả đều không có thời gian thuận lợi để Nam Cao viết cho mình một tiểu thuyết lớn ấp ủ. Và ngôi sao văn chương tài ba ấy đã vụt tắt trong một chiều kháng chiến khói súng còn nổ- và trang vănchương bất tử của Nam Cao sẽ còn sống mãi cùng thời gian.
Chung số phận Nam Cao là Trần Đăng, nhà văn chỉ còn lại danh xưng mờ nhạt, chết trẻ cùng tác phẩm chưa dầy. Nhắc Trần Đăng không quên Trận phố Ràng , tác giả tả trận đánh sôi xục nhiều tình tiết trận địa nóng bỏng vùng Cao Bắc Lạng.
Thời kháng chiến, không chỉ nhà văn chuyên nghiệp khai thác hình tượng chiến đấu –đến các chiến sĩ văn đóng góp không ít tác phẩm nhỏ ngắn hơi rất giá trị nhân văn.
Phần trên, chúng tôi nhắc Quang Dũng, Hữu Loan, Nam Cao, Trần Đăng, Hoàng Lộc, Yên Thao, Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi vv.. tiếng nói chuyên nghiệp ,tất nhiên diễn tả điêu luyện hơn chiến sĩ văn nghệ . Nhưng chiến sĩ văn nghệ có phần trội nội dung, tư liệu sống thực hơn, bởi chính họ đã tham gia trận đánh, trải qua thực sự cảm xúc sinh tử , đã thoát hiểm từ kẽ tóc, sợi tơ, trải nghiệm đầy kinh nghiệm sống. Họ viết lại chưa dễ trở thành chuyên nghiệp, vì chưa viết được nhiều, chưa biết cách diễn tả siêu việt chuyên nghiệp- khởi sự bước đầu chữ nghĩa : báo tường, báo đội, …họ là chiến sĩ văn cách ngẫu nhiên.
Thế nào gọi là ngẫu nhiên ? Napoléon, César.. chẳng hạn- những vị này được Émile Henriot gọi họ là nhà văn ngẫu nhiên ( écrivain occasionnel). Có hai loại viết văn trong thời kháng chiến- một , nhà văn chuyên nghiệp tham gia kháng chiến - hai chiến sĩ tham gia kháng chiến gọi là chiến sĩ văn .
Sở dĩ nhắc phương danh chiến sĩ văn Nguyễn Trinh Cơ, Đình Quang, Lưu Hương, Siêu Hải, em Phùng , Minh Tiệp … vì chiến sĩ cầm súng có khả năng sáng tạo- và chỉ khi nào trải qua kinh nghiệm sống động, giác quan rung cảm sâu sác ấn tượng đặc biệt thì cầm bút viết. Họ ít hư cấu, cấu tạo hình tượng khác đưa vào tác phẩm của họ chưa có khả năng của cây viết chuyên nghiệp - coi ngành văn nghề chính ( littérateur - Nam Cao chẳng hạn. Cơ hội căn bản cộng chủ quan đãi lọc có nghệ thuật cùng tưởng tượng phong phú , bén nhậy- chẳng khác gì Dostoievski viết Người chồng muôn thuở (bản dịch tiếng pháp: L’éternel mari ) . Nhân vật chính truyện rút từ bối cảnh thực ngoài đời gia đình Zaleibine , và trong truyện được thay tên nhân vật là Ivanoff. Hoặc Léon Tolstoi từng sử dụng Pobieodinostesev làm mẫu nhân vật truyện trong tác phẩm Anna Karénine ( thời tiền chiến Vũ Ngọc Phan đã dịch sang tiếng việt: Anna Kha lệ Ninh ).

Trở lại chiến sĩ văn giai đoạn kháng chiến 1945-1950- họ cũng biết cách sử dụng lợi khí văn nghệ làm khí cụ diễn đạt rung động, tâm trạng qua mẩu truyện ngắn, hoặc bài thơ ngắn. Thời chiến đấu rất ít có thời gian viết truyện dài, thì truyện ngắn và thơ được chiến sĩ văn sử dụng nhiều nhất. Hẳn có sự khác nhau giữa nhà văn chuyên nghiệp chiến sĩ văn :
“… Chúng ta nhận của những nghệ sĩ vĩ đại ấy không những là mấy học thuyết triết lý mà tất cả những say sưa, vui buồn, yêu ghét, mơ mộng, phấn khích , và biết bao nhiêu tư tưởng của từng câu thơ từng trang sách , bao nhiêu và biết bao nhiêu hình ảnh đẹp đẽ mà đáng lẽ chúng ta không nhận ra được hàng ngày ở xung quanh chúng ta : một ánh nắng, một lá cỏ, một tiếng chim, bao nhiêu bộ mặt con người; vấn đề mà ta ngạc nhiên là tìm ra ngay trong tâm hồn chúng ta một ánh sáng riêng không bao giờ nhòa đi, ánh sáng ấy từ bây giờ ta gặp làm cho sự thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta suy nghĩ. Những nghệ sĩ lớn ấy đem lời đến cho tâm hồn ta cả một thời đại họ một cách sống…”
( trích từ :Tiếng nói văn nghệ , Nguyễn Đình Thi )
Đây không phải tiểu luận nghiên cứu về chiến sĩ văn trong vai trò và khả năng làm chiến sĩ văn , chỉ là cách nhìn của một nhà văn chuyên nghiệp tham gia kháng chiến nhận xét tác phẩm cuả họ: mới lạ thì có - sâu sắc thì chưa nhiều .
Lấy thí dụ cách sống một người tù chính trị trong lao tù nẩy ra muốn diễn đạt xúc cảm hòng vợi nỗi khổ đau- sẽ linhđộng hơn tay chuyên nghiệp chưa từng sống cảnh ấy viết lại vậy nếu có tưởng tượng, chỉ là hư cấu . Nhớ lại truyện ngắn được viết ra từ một nông dân Pháp, khi văn sĩ chuyên nghiệp Chateubriand viết lại , thì truyện được đánh giá hay gấp bội. Cũng chẳng khác gì người tù chính trị mang tên Nguyễn Kim Thành chống thục dân, bị bắt tù đày , qua trại giam nổi tiếng Lao Bảo – anh tù khởi sự làm thơ , ghi lại kiếp sống tù đầy hòng vơi bớt thống khổ để có niềm an ủi tinh thần . Vậy là Tố Hữu ban đầu là một chiến sĩ văn có nghệ thuật, rung cảm cao độ sáng tác thơ trong bốn bức tường sà lim ngục tối, nghẹn ngào lê xích sắt : cơm nửa mo, cứt nửa bãi - tác giả sáng tác được những bài Trăng trối, Trong tù , Người về… thật ấn tượng!
Còn Tố Hữu sau 1954 chẳng khác gì thợ thơ Lissaueur . Thực ra, Lissaueur nổi tiếng cuả Đức quốc trước thế chiến nhất 1914-18, khi gây chiến với Anh quốc - Lisaueur sáng tác ca khúc thơ phong trào từ nhà nước đặt hàng. Có một bài được chọn : Tiếng hát căm thù Anh quốc ( bản dịch tiếng Pháp: Chant de la haine à l’ Angleterre) rất phổ biến được phổ thành ca khúc, 70 triệu dân Đức buộc học thuộc lòng. Ở đâu trong nước Đức cũng được loan truyền, và phổ biến hơn cả bài Wacht au Rhein. Sau khi Đức thất bại thế chiến nhất, bài hát tiêu tan theo .Và tác giả Lissaueur bị khinh thị qua con mắt nhìn đồng bào, đồng nghiệp – báo chí không đăng thơ Lissaueur nữa, vì nhớ tác giả bài thơ được phổ thành ca khúc Tiếng hát căm thù Anh quốc đã chết theo sự thất bại thua trận. ( theo Le Monde d’hier - tạm dịch Thế giới hôm qua, Stephan Zweig - Nxb Albin Michel, Paris năm? )
Trở lại Tố Hữu thập niên năm, sáu mươi, thơ phong trào cực hay, chẳng ai qua mặt tác giả Đời đời nhớ Ông được! (ông đây là thống soái Staline) :

“ … yêu biết mấy nghe con học nói
tiếng đầu lòng con gọi Xít-talin”

hoặc

“ thương cha thương mẹ thương chồng
thương mình thương một thương ông thương mười”

chỉ có giá trị đến thời thống soái bị hạ bệ (1953) .

Thời kỳ ấy, một số văn gia bồi bút theo sau hít bã mía, ngậm ống đu đủ thổi phồng, hết mở hội thảo khoa học này đến hội thảo chuyên đề khoa học kia, hết sách này phân tích cái hay cái đẹp, cái khí phách thơ cách mạng tiền tiêu mang tính cách dự báo tầm xa thế kỷ, thơ mở lối soi đuờng nền thi ca cách mạng vô sản thế giới… vv… và vv…
Bây giờ chẳng còn một tiến sĩ khoa học này ( phân biệt học vị chính qui) hoặc một giáo sư kia bình luận văn chương, kể cả tác giả không còn đủ khí phách dư thừa can đảm nhắc lại bài thơ Đời đời nhớ Ông trong tiểu sử trích ngang nữa - bởi nó đã bị đào thải theo thời gian - tưong tự Tiếng hát căm thù Anh quốc từ lâu rồi!

Văn chương chữ nghĩa là lợi khí để con người viết tiếp lịch sử tiếp nối qua nhiều thế hệ. . Nền văn nghệ chủ lực giai đoạn 1945-50 có tới hàng trăm nghìn chuyện được viết ra, được học thuộc- vẫn chỉ tập hợp in được một Tập văn Cách mạng & Kháng chiến điển hình.
Có chiến sĩ chiến đấu trong ngành này, ngành khác, mỗi quân binh chủng có chiến sĩ văn nhiều vẻ, nhiều hình, nói tóm lại là ghi lại một mẫu chiến sĩ vệ quốc không tiếc thân cầm súng bảo vệ từng gang, từng tấc đất đai đang bị quân xâm lược chiếm đóng.
Đầu tiên , xin nhắc đến chiên sĩ văn Nguyễn Trinh Cơ. Là chiến sỉ trong ngành quân y, tác giả Em Ngọc - một mẩu truyện ngăn cảm động đề cao lòng yêu nước em bé liên lạc viên gan dạ chiến đấu bị thương buộc phải cưa tay. Tâm trạng em khi đưa đến bệnh xá là rất sợ bị cưa tay, em hỏi bác sĩ với thắc thỏm, lo âu. Không muốn cho bệnh nhân thất vọng, bác sĩ đành nói dối. Em không kêu ca đau đớn, sợ hãi bị cưa tay , hoặc làm nũng với bất cứ nữ cứu thương hoặc bác sĩ, tỏ ra thản nhiên như không. Nhưng đến khi mẹ em đến ,tâm trạng làm nũng trở lại đúng chỗ của một em bé vòi vĩnh mẹ:
“… Mỗi lần thăm em, tôi vẫn thấy em tươi tỉnh , ngoan ngoãn. Nhưng các chị cứu thương cho biết rằng nhiều lúc vắng người, em hay làm nũng bà mẹ, bà quạt và rót nước cho em uống luôn miệng. Mỗi lần ăn chính bà phải và vào miệng cho em từng miếng một…”
Nguyễn Trinh Cơ còn cho người đọc thưởng thức một đoạm văn linh động khác về em Ngọc, khi đã về đơn vị, đã dạy cho bác sĩ một bài học về sự bảo toàn bí mật quân sự. Tác giả là người ham học hỏi, dám chấp nhận bài học từ một em bé dạy dỗ. Với chúng ta, đây cũng thêm cơ hội nhận được bài học trường đời - không cứ gì người bằng, hơn tuổi - mà cả kém tuổi vẫn có thể ban cho một kinh nghiệm như bài học hữu ích- miễn biết chấp nhận . Hãy cúng chia sẻ với tác giả Nguyễn Trinh Cơ :
“… Tôi đi thăm các thương binh cũ của tôi. Lúc ra về vì muốn đến thăm Tiểu đoàn 3, từ xa chỗ đứng tôi hỏi vọng em Ngọc địa điểm tiểu đoàn. Không trả lời ngay, em Ngọc vội chạy lại chỗ tôi, lấy tay phải còn lại níu áo tôi xuống, nghển hai chân cổ vươn thân người lên. Tôi hiểu ý cúi người xuống kịp đón câu trả lời của em, câu trả lời nhỏ như tiếng cuả em thì thầm:” Tiểu đoàn 3 ở làng H.S.”. Tôi ôm chặt em bé vào lòng thành thật nhận lấy bài học kín đáo mà vô tình em đã dạy tôi…”
Văn phong truyện ngắn nhẹ nhàng, lập ý cao , diễn tả thành thật, tư tưởng hướng thượng có tính giáo dục thâm trầm kinh nghiệm sống. Còn nhiều đoạn văn khác tả tính chất thông minh em Ngọc được ghi lại thật cảm động trong truyện ngắn Em Ngọc .
Và trong cuộc kháng chiến trường kỳ năm năm, không chỉ riêng Nguyễn Trinh Cơ muốn nhắn nhủ với chúng ta , có nhiều em Ngọc thông minh, gan dạ trên con đường góp công cùng người lớn chiến đấu giành độc lập cho tổ quốc, thật đáng làm gương về trường hợp bí mật quân sự là điều rất cần thiết.
Sau Nguyễn Trinh Cơ là Đình Quang - tác giả truyện ngắn Một bàn tay. Ông thuật lại câu chuyện một thương binh bị mất một bàn tay. Tâm trạng anh thương binh kia thật bình thường, chẳng có gì khác khi viết chuyện thương binh cụt tay. Nhưng i khác thường ở điểm ghi lại điều mong ước kín giấu của thương binh - tất cả đoàn người thăm viếng chẳng ai đem lại cho anh một bàn tay. Đoạn trích dưới đây nói lên con mắt sáng chiến sĩ văn Đình Quang :
“… Hôm nay các bà mẹ đem đến cho con một bàn tay đâu? Chỉ có một bàn tay, có lẽ họ cũng biết thế, nhưng không bao giờ họ dám bàn đến nó. Tôi thấy nó , chiếc bàn tay nát rồi, ở khắp mọi nơi, mọi lúc…”
Hình ảnh rung cảm thật sự làm xúc động người đọc, vì là nhu cầu thật cần thiết với thương binh bị mất bàn tay. Nay nhìn lại thấy nó không còn, và cảm được sự thiếu thốn này chẳng người nào đến thăm an ủi làm vừa lòng ! Nói lên cảm giác này, nếu ở thời bình hẳn không thể có - mà chỉ có thể xảy ra , khi đã là thương binh chiến đấu bị mất bàn tay trong cuộc kháng chiến – giữa trái tim kề bên họng súng, giưã trái tim tâm hồn mất mát – lại chẳng một ai đem lại sự an ủi lớn nhất cho thương binh đã chịu mất một bàn tay:
”… Một bàn tay ở khắp nơi… Anh vụt giơ tay cao lên. Anh ngừng nói. Một lát đưa chỗ thương mới khỏi xuống sát mặt , anh thở dài đút nó vào túi áo. Đâu cũng có nó nhưng không bao giờ được cầm lấy nó đỡ lấy một chút hơi nóng cuả nó truyền ra. Anh ơi! thế này mới bực nữa, anh xem đây này…”.
Còn bao nhiêu tác động khác được ghi lại về sư thiếu thốn một bàn tay. Ý tưởng này nếu không phải chính thương binh kể lại,hoặc được ai kể lại cho tác giả, thì dù nhà văn tài năng đến đâu cũng khó tưởng tượng a được:
…. ” Con ruồi đậu mà không còn bàn tay để đập nó..”, hoặc nỗi băn khoăn dày vò trong giấc mộng khi bắt gặp cánh tay co lại. Nếu cuộc sống là đề tài cần thiết làm bối cảnh tác phẩm, thì Đình Quang đã trả lời thật chính xác trong Bàn tay . Đọc Bàn tay để nhận được cảm nghĩ thực của thương binh mất một bàn tay, và Đình Quang rất thành công ở truyện ngắn có một không hai này.
Bây giờ là Lưu Hương. tác giả truyện có gịong văn liêu trai ( haleine magique) tả lại cuộc rút lui thần kỳ sau một trận giao chiến ác liệt với quân Pháp ở làng Pháp Cổ ( thuộc huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng- Liên khu 3) . Lưu Hương ghi lại rất tỷ mỷ từng thái độ, hành động chống trả của ba chiến sĩ sống sót đang lẩn trốn trong núi đa vôi. Qua mấy đêm chống lại sự đói khát, lại phải chui rúc lẩn lút tránh đường đi nước bước quân xâm lăng rình mò ở ngoài – An, một trong ba chiến sĩ bị Tây bắt được rồi - còn Trung và Phương thoát. Vào đêm cuối cùng, họ vượt sông về Thủy Nguyên – gặp một bà cụ già nấu cơm cho hai chiến sĩ ăn. Ông diễn tả lại sâu sắc, mô tả từng cử chỉ nhỏ nhặt sự xê dịch khó khăn khi thoát hiểm độc nhất vô nhị. Tả lại rét mướt trong hang núi, Lưu Hương có giọng văn kể chuyện thật tân kỳ:
“…Chợt một cơn gió lạnh ào tới. Tưởng như có thể đánh gập đôi người lại được, chúng tôi vừa thò mặt ra ngay đỉnh ngọn núi đã biết ngay mình bị lạc lối; vì hướng nam gì mà gió bấc lại đánh thẳng vào mặt. và từ đây gió bắt đầu hú từng hồi dài. Có lẽ trăng đã lên cao lắm…”
Lưu Hương nghe tiếng ca nông nhiều quá , nó đã đánh võng vào tai, và phản ứng tiếng súng chỉ còn giác ngủ vùi li bì:
“…Anh tính đánh nhau một ngày một đêm, người bị hơi đạn đánh võng làm quá mệt. Tôi đâm dạn với tiếng ca nông như dạn với tiếng em bé khóc ở nhà. Ca nông tha hổ mà giã bên tai. Quá lắm thì cũng chỉ giật mình chồm dậy một cái rồi lại nằm vật ngay xuống đánh thông một giấc…”
Kinh nghiệm chiến đấu các chiến sĩ không như con lừa được vỗ về ,báo hiệu sự sẽ phải thồ nặng - Lưu Hương ghi lại kinh nghiệm chiến đấu:
“…Chúng tôi nghe rõ tiếng ngụy binh dụ dỗ: “ Lên ngay đi quan lớn băng bó cho, đưá nào biết chữ tây thì quan lớn sẽ cho làm ở bàn giấy…”
An vốn tính nóng lại vừa bị thương, nên máu xôi càng hăng- anh chửi vung tí mẹt. Chúng nó lại chuyển sang dụ dỗ bằng một lô lựu đạn tung ra.
Hoặc:
“….Bên ngoài ngụy binh lại đánh mõ giục nhặng củ tỏi. Lên ngay đi thì quan lớn tha cho. Các quan lớn biết hết rồi. Có lên ngay không? Không thì quan lớn bắn chết!”
Song lời dụ dỗ kia chỉ là đòn vọt, và Lưu Hương có dịp lột mặt nạ đòn não tủy này để mua kinh nghiệm truyền lại anh em chiến đấu khác:
“…Cứ đứng ngaòi mà chõ mỏ vào cửa hang suả nhặng lên thế thôi. Y như nó đã đánh hơi thấy mình rõ mồn một vậy. Chỉ cón có đợi mình. Anh nào non gan chui ra ra là hết đời ngay…”
Lưu Hương lại dẫn chúng ta đến một đoạn đường gian khổ khác vô cùng tận:
”…Vậy trước khi leo lên ( núi) , hắn làm cho cốc cho bốc máu. Trung đứng ì ạch xi em nhưng khốn nỗi chỉ lách tách được vài giọt. Vì khát đã mấy ngày giời rồi, còn đâu nữa mà xi. Tôi xan cho Trung tạm gọi là được nửa cốc…”
và hành động cuối cùng đầy nước mắt mừng khởi của tình quân dân chiến đấu chống xâm lăng- còn hình ảnh nào đẹp hơn - một bà cụ già nước mắt ràn rụa tưởng rằng hai du kích kia đã chết rồi – mà đêm nay lại còn được nghe thấy tiếng chúng gọi cửa , và tay cầm chiếc dá run run vo gạo nấu cơm.
Đó là truyện vừa có tựa Một cuộc rút lui thần kỳ , tác giả viết hay, hấp dẫn, lôi cuốn như hơi văn Liêu trai- nhưng đó lại là câu chuyện đầy tính cách thực tiễn, đề cao sự chiến đấu gian lao, lúc lâm nạn phải kiên trì biến nguy kịch thoát hiểm.
Và bây giờ là Siêu Hải, tác giả truyện Voi đi . Câu chuyện ghi lại nỗi gian lao chiến đấu như truyện viết phản công địch của Sao Đỏ đánh vào phi trường. Một câu chuyện như trăm nghìn chuyện chiến đáu xảy ra trong kháng chiến, cốt truyện không có gì mới lại không cũ – và chỉ có tình tiết là mới lạ mà thôi.
Voi đi là chuyện đoàn quân vận chuyển khí giới, cỗ pháo quá nặng nên anh em chiến sĩ đều mệt mỏi . Khi qua các làng, bộ đội phải bọc khí tài chiến tranh để bảo toàn an ninh quân sự- tyránh sự dòm ngó, e ngại bị lộ bí mật . Anh em bộ đội nghĩ ra cách mướn trâu làm sức kéo thay người. Một chủ có trâu cho thuê nhận lời ngay, vì còn là cách nhờ bộ đội thuần chủng trâu bất kham. Con trâu bất kham đã kéo được khẩu pháo đến nơi, người giắt trâu ăn bữa cơm cuối giã từ bộ đội trở về nhà chủ , kêu ăn kham khổ quá! ( đó là bữa cơm đàng hoàng nhất của bộ đội ) - Siêu Hải không quên ghi lại cảnh người giắt trâu chưa no phải vào hàng ăn thêm mấy gắp chả thịt cầy. Chỉ một tình tiết rất nhỏ ,Siêu Hải vẫn biết bầy tỏ khi cần làm sáng điều nào lợi cho so sánh tình tiết truyệnm mổi bật ( chẳng hạn đoạn tả con trâu bất kham muốn được bô đội thuần chủng giùm, vì bà chủ trâu nghĩ rằng cái gì bất kham đến đâu vào tay bộ đội cũng thành ích dụng cả) . Và trong ngụ ý này Siêu Hải còn nhăc nhở rằng dù người hay con vật bỏ đi rồi một khi đặt vào tay bộ đội cũng thành khả dụng. Siêu Hải , chiến sĩ văn hôm nay,và ngày mai có thể trở thành nhà văn tài ba, nếu ông tiếp tục chuyên rèn ngành văn sau khi xuất ngũ. Bởi qua lối nhận xét tinh tế và chịu nghiên cứu tìm tòi xây dựng nhân vật có cá tính văn chương riêng biệt. Dưới mắt quan sát, mọi sự vật đều được Siêu Hải nhận định tinh tường- cách chữa bệnh cho trâu khi kéo khí tài quân sự bị trầy da- muốn chỗ loét lở chóng mọc da non thì không gì tốt hơn là dùng phân trâu non của chính nó bôi lên vết sước ấy. Hoặc ông quan sát sự ngỡ ngàng của người miền quê thấy bộ đội che chắn khí tài quân sự trên đường , thì tác giả đánh lạc hướng, giải thích đây là bộ đội khiêng bộ phận tàu bay. Tâm lý người miền quê cầu mong nước nhà có tàu bay, xe tăng mới có thể chống trả được với giặc tây đầy vủ khí tối tân – hoặc cũng có thể là phản ứng hành động dồn nén, vì người dân sợ hãi tàu bay thả bom và bây giờ cầu mong có tàu bay để trả thù Pháp. Siêu Hải qua Voi đi nói lên sự chiến đấu cam go bộ đội kháng chiến sống cơ cực, vẫn chói sáng lý tưởng dẹp tan quân xâm lược bờ cõi.
Ở đoạn kết Voi đi chứng tỏ tài nghệ văn chương Siêu Hải – một lao công nhận xét sự việc thật khách quan ,lại là chủ quan định hướng, tránh được sơ hở chủ quan, nhân vật luôn luôn phải giải thích vì chưa đưa được hình tượng sống ngoài đời như đoạn kết truyện Em Ngọc Nguyễn Trinh Cơ. Bình luận anh hùng tính em Ngọc- khi đọc truyện Kim Lân giống hệt Nguyễn Trinh Cơ- với truyện ngắn Ở làng - mà tác giả Kim Lân tả lớp học bình dân ở lảng Đại Lịch ( huyện Trấn Yên- Yên Bái).

Những nhà văn thơ điển hình chúng tôi giới thiệu ở Nhà văn kháng chiến chủ lực: 1945-1950 gồm ba mươi nhà văn chuyên nghiệp và chiến sĩ văn - không kể nhà văn tiền chiến tham gia kháng chiến. Ở đây như các tập khác chưa đủ phản ảnh một bình diện văn chương rộng lớn giai đoạn kháng chiến 1945-1950- nhưng điển hình đủ nhà văn thơ có máu mặt nhất cuả miến Bắc chủ lực và miền Trung .
Còn nhà văn miền Nam (bổ sung) trong phần Nhà văn miền Nam thiết tưởng không cần phải nhắc lại nữa. Điển hình Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh,B ình Nguyên Lộc, Bách Việt ( Mai Văn Bộ), Nguyễn Bảo Hoá, Việt Quang, Thẩm Thệ Hà, Nguyễn Bảo Hoá, Văn Nhân, Quôc Ấn, Hoàng Tấn, Hoàng Tố Nguyên, Sơn Khanh ( Nguyễn Văn Lộc) , Dương Tử Giang, Ái Lan, Trúc Khanh, Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc…



...CÒN TIẾP ....












Newvietart chân thành cáo lỗi tác giả và độc giả nếu có những lỗi in sai trong bài



© tác giả giữ bản quyền.
.tải đăng theo nguyên bản của tác giả gởi Newvietart.com ngày 26.12.2008.

. Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com