TRỊNH CÔNG SƠN,
TRI KỶ CỦA PHẬN NGƯỜI



TRIỆU TỪ TRUYỀN


Nghĩ đến “tri kỷ” ai cũng hình dung chỉ có hai người mới cảm và hiểu trọn vẹn, đúng như điển tích Bá Nha – Tử Kỳ, chỉ hai người rất riêng trong tình-trí-thực-mộng.
Các xác suất hiếm hoi: một người là tri kỷ của muôn người. Xác suất này thường hiện ra trong môi trường văn học nghệ thuật.
Những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ,…tài năng trên hành tinh đều chứng minh được tâm hồn đa tần số. Những tác giả ấy đều diễn đạt đúng nội tâm của hàng trăm nhân vật, bắt mạch đúng tâm trạng của triệu triệu độc giả hơn nữa còn làm động lòng người qua bao thế kỷ.
Nhiều thế hệ ở Việt Nam nghe nhạc Trịnh Công Sơn đều bày tỏ mình được an ủi, đựơc chia sẻ nỗi buồn, nỗi đau nhân thế. Phải chăng Trịnh Công Sơn đã đau hết nỗi đau của phận người? Đúng là tri kỷ của nhiều thế hệ?
Có nhiều tương tác định hình đời người. Bản năng di truyền của dòng giống, gien của cha mẹ, dẫn đến màu da, tiếng nói, thói quen,… nghĩa là cốt cách mỗi người. Tương tác bản năng rất mạnh gắn chặt đời người trên dấu vân tay, nên có người than thân: “em làm con gái trời bắt xấu". Tuy nhiên có tương tác đáng sợ hơn, đó là môi trường xã hội, vốn bị chi phối bởi độc ác, gian tà,… Cá lớn nuốt cá bé, mạnh được yếu thua, kẻ xảo quyệt nổi lên, người chân thật chìm xuống. Định luật “homo homini lupus” (người là chó sói của người) suốt hành trình loài người phát triển. Nàng Esmiranda của Victor Hugo hay nàng Kiều của Nguyễn Du,…cũng đều là nạn nhân của tương tác quyền lực. Sơn từng viết: "ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô, ta thấy em đang ngồi khóc…..” Phải chăng nỗi đau ấy chỉ là nạn nhân? Không! Nỗi đau ấy cũng ở nơi thủ ác, nhất là cái ác bị tiêm nhiễm từ xã hội “những sớm mai lửa đạn, những máu xương chập chùng, xin cho người nằm xuống….”.
Sơn là tri kỷ của muôn người nên không viết lời nào cho một người, lời ca thấm đẫm sương sớm của cánh rừng nguyên sinh trong mỗi tâm hồn con người, tâm hồn chưa bị tàn phá như những cánh rừng bị tương tác của búa rìu, của cưa máy ngày nay.
Đặc trưng tri kỷ của Sơn là lúc cầm đàn, hát không phân biệt người nghe là ai, thân, sơ hay khán giả lần đầu, kể cả chỗ trình diễn. Năm 1982, thứ bảy hàng tuần Sơn đến đàn hát trong một phòng khiêm tốn thuộc nhà văn hóa Quận 4, Sơn vẫn trình bày đầy cảm hứng, gây xúc động mãnh liệt cho vài chục khán giả. Một lần khác, năm 1992 tại nhà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng Quận 3, Sơn cũng đàn hát cho hai nhà văn Nga và hai bạn, vẫn đầy hứng khởi như thuở hát cùng Khánh Ly trước hàng ngàn khán giả thuở còn chiến tranh ác liệt. Sơn luôn xem khán giả cũng chính là tri âm của mình.
Ngay lúc hát một mình trước linh cửu Bùi Giáng vào năm 1999, Sơn tiễn biệt một người cùng thời với tiếng kèn nao lòng của Trần Mạnh Tuấn bài “Cát bụi” hát lên cũng là cho mọi người. Giọng của Sơn ám ảnh rất lâu với những ai còn thức khuya với Bùi Giáng, trong đêm cuối cùng trên mặt đất.
Chúng ta cám ơn dân tộc cho chúng ta một tri kỷ, như chúng ta từng biết ơn dân tộc cho chúng ta những anh hùng cứu nước và dựng nước. Có lần về Huế, nghe đâu dự định xây cất nhà lưu niệm Trịnh Công Sơn, chưa làm được vì dư luận việc này việc nọ liên quan đến họ hàng của Sơn. Nếu xem xét theo cách đó, có lẽ không còn nhân vật nào để tưởng nhớ. Hai thi sĩ như Nguyễn Du và Tản Đà cũng không qua nổi cách xem xét này.
Trịnh Công Sơn cũng như những nhân tài đích thực, không ai mong được xây đền, tạc tượng vì tác phẩm đủ nói lên tất cả rồi. Làm việc ấy như thế nào là do trình độ văn hóa của một dân tộc, phản ánh ý thức tôn vinh hiền nhân, hiền tài của xã hội đương đại.
Sáu năm đã qua từ ngày Trịnh Công Sơn về nẻo xa. Nếu nhà văn, nhà sử học được xem là thư ký của thời đại, thì thi sĩ, nhạc sĩ được xem là tri kỷ của kiếp người. Tri là biết, biết ở đây không phải chỉ biết như nhà ngoại cảm, tiên tri, hay nhà tâm lý với con người nào đó, mà biết đau nỗi đau, khổ nỗi khổ của đời người.
Thương vay khóc mướn, cụm từ này chưa lột tả hết tâm thức của nghệ sĩ vĩ đại trong đó có nhạc sĩ, phần nào nói lên được đặc trưng tri kỷ, tri âm của nghệ sĩ. Còn Trịnh Công Sơn thương hơn người trong cuộc đang thương và khóc nhiều hơn người đang khóc: “có sợi tóc nào bay, trong trí nhớ nhỏ nhoi, không còn ai còn ai...ta phiêu du một đời, ta ru ta ngậm ngùi”. “chợt hồn xanh buốt cho mình xót xa” “ làm sao em biết bia đá không đau”
………
Đứng trước khốn khó của tha nhân, Sơn không quan sát, phân tích mà Sơn lọt thỏm vào nỗi khốn khó đó: “có khi mưa ngoài trời là giọt nước mắt em, nương theo vào đời…” Nói cách khác Sơn vừa cùng một dòng tâm thức, lưu giữ nghiệp của mọi người, nhưng Sơn không bị ràng buộc bởi những nghiệp chướng nào đó. Nhờ vậy Sơn dùng âm nhạc, cái đẹp của âm nhạc cứu rỗi sinh linh, nói theo minh triết của Đức Phật, Sơn co tấm lòng của Bồ Tát. Sơn là tri kỷ của phận người.










© tải đăng ngày 05.12.2008
theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com