NINA BERBEROVA

1901 - 1993




TỪ VŨ



I - CUỘC ĐỜI :

Xuất thân từ một gia đình trưởng giả tự do , Nina Berberova chào đời ngày 08 tháng 8 năm 1901 tại đường Bolchaïa Morskaïa, sau này là đường Herzen (nhà văn Vladimir Nabokov cũng chào đời năm 1899 tại đường phố này) thành phố Saint-Péterbourg . Mẹ bà là người Nga và cha là người Arménien. Sau đó cá gia đình di chuyển đến số 6 đường Joukovski trước mặt nhà số 7 nơi cư ngụ của gia đình Brik (với hai cô con gái Lili -Lilia Urievna Brik- đã có một giai đoạn là người bạn nữ đồng hành của nhà thơ Maïakovski và Elsa, sau trở thành vợ của Triolet rồi sau đó là người bạn nữ đồng hành của nhà thơ Louis Aragon - Pháp ).

Ngay từ khi còn thơ ấu Nina đã làm thơ. Những biến cố in dấu vào năm cuối cùng tại trường Trung học đệ nhị cấp của Nina Berberova : Cuộc cách mạng tháng 10 tại Nga, hoà bình giữa Brest-Litovsk và Đức. Quần chúng được hội nhập lịch sử bằng sự quét sạch tất cả trên lộ trình họ đi qua, nhưng chính họ lại là những nạn nhân đầu tiên của sự kiện đó. Nina Berberova đã viết trong C’est moi qui souligne -Kursiv moj : " Tôi đã biết những xoáy động mà tôi tự hiểu qua những bất công của xã hội , chính trị đã xâm chiếm cuộc sống của chúng tôi và những tư hữu hoá đầu tiên. Tôi đã khám phá được, qua căn hộ rộng rãi và sạch sẽ nơi người ta còn sinh sống một cách sung sướng, địa ngục của sự nghèo khó mà người ta che dấu tôi đã từ lâu. Tôi chỉ biết những kẻ nghèo khổ qua những trang sách mà tôi được đọc."

Đề cập đến giai đoạn này Nina còn viết : " Vào những năm 1912 và 1916, tất cả đều sụp đổ, quấn rối dưới mắt chúng tôi như một y phục mòn cũ. Sự tranh luận là không khí mà chúng tôi hít thở, nó cũng đã bắt nguồn cho những cảm xúc thực sự đầu tiên của tôi. Chỉ lâu về sau này, khoảng năm tôi được 25 tuổi, tôi mới biết được rằng tôi đã sinh ra trong giai cấp trưởng giả tuy nhiên phần tôi thì tôi chẳng cảm thấy dính líu gì vào giai cấp này, lẽ giản dị vì tôi đã suốt đời thuộc vào thành phần những người lưu vong, bần cùng hay không,mà tôi tự cảm thấy rất gần gũi."

Nina Berberova tiếp : "Những bất hạnh của thế kỷ mà tôi sống nói đúng hơn là đã có lợi cho tôi : cách mạng đã giải phóng tôi, cuộc sống lưu vong đã tôi luyện tôi, chiến tranh đã đẩy tôi đến một thế giới khác ".

Vào mùa xuân năm 1915, Nina tham dự vào một buổi dạ đàm văn chương của Câu lạc bộ quân đội và hải quân tại đại lộ Liteïny ở Saint-Pétersbourg. Trong buổi dạ đàm này Ninan Berberova được vị giáo sư người Pháp giới thiệu với nữ thi sĩ Anna Akhmatova và thi sĩ Alexandre Blok.

Năm 1917, nhà nước cắt chức thân phụ Nina vì liệt ông vào hàng ngũ phản cách mạng , đến lúc này ông đang đảm nhận trách vụ cố vấn chính phủ và buộc ông phải rời khỏi thành phố. Mấy tháng sau cả cha lẫn mẹ Nina đều lần lượt qua đời.

Năm theo học trung học cuối cùng của Nina liên tiếp xảy ra 2 sự kiện quan trọng trong lịch sử Nga: Cuộc cách mạng tháng 10 (06.11.1917) và thỏa hiệp hoà bình Brest-Litvoks (03.3.1918) giữa Nga và Đức.

Năm 1921 Nina Berberova gặp gỡ nhà thơ Vladislav Khodassevitch.

Mùa hè năm 1922 đã xảy ra một cuộc trục xuất lớn hàng ngũ trí thức, khởi đầu cho những cuộc đàn áp triệt để và một cuộc tiêu hủy 2 thế hệ . Về lãnh vực văn chương đấy là thời điểm cuối của phong trào tượng trưng, khởi đầu của trường phái vị lai với Maïakovski và, gián tiếp qua trường phái này là sự đột nhập của chính trị trên địa hạt văn chương, nghệ thuật...Đời sống thường nhật ngày càng trở thành thê thảm và tương lai càng lúc càng đen tối nên Nina Berberova quyết định phải ra đi và nhà thơ Vladislav Khodassevitch cũng tháp tùng cô trên đường lưu vong.

Cả hai rời Nga đến Bá Linh - Đức. Họ ở trọ tại nhà trọ Krampe ngay công trường Victoria-Louise.
Bá Linh là một chặng dừng chân bắt buộc của những người Nga lưu vong vào thời kỳ đó. Vào những năm 1922-1923, họ thường xuyên gặp nhau ở quán cà phê Landgraf. Trong số những văn nhân thi sĩ lưu vong này có những người đã chọn lựa trở về tổ quốc như trường hợp của nhà văn André Biély hoặc Pasternak…nhưng cũng có những người tiếp tục bước đường lưu vong như cặp " vợ của Vladislav Khodassevitch" và " chồng của Nina Berberova".
Sau đó, vào muà đông năm 1922, Vladislav Khodassevitch và Nina Berberova tạm ngụ tại Bahnhof Hotel - Saarow ở Bá Linh - Đức , gần nơi cư trú của nhà văn Maxim Gorki biểu tượng của văn chương Nga mà hai người thường xuyên đến thăm viếng. Cũng thời gian này Nina Berberova đã phụ giúp Gorki trong việc chuyển dịch sang Pháp ngữ một số thư tín trao đổi giữa ông và Romain Rolland (nhà văn Pháp).

Tháng 11 năm 1923 kiệt quệ tài chánh nên Vladislav Khodassevitch và Nina Berberova lại di tản sang Prague - thủ đô nước Tiệp Khắc .

Mùa thu năm 1924 cả hai đến Sorrento - Ý Đại Lợi để tháp tùng cùng nhà văn Gorki rồi một thời gian sau, vào tháng tư năm 1925 Vladislav và Nina rời Sorrento để tới Paris - Pháp. Họ thuê một căn phòng ở khách sạn Pretty, đường Amélie. Tại đây cả hai được cấp giấy " hộ chiếu Nansen" một hộ chiếu nhân đạo cho những người lưu vong.

Cuộc sống của hai người tại Paris thật chẳng dễ chút nào nhất là với tấm thông hành của " người không quốc tịch nào ": Họ không có quyền đi làm việc như những người làm công hoặc thợ thuyền. Giữa hai câu thơ trong lúc sáng tác, Nina khâu vá, thêu hoặc sỏ những xâu chuỗi ngọc trai để kiếm sống. Phần Vladislav thì tìm được một việc làm : viết cho một vài tờ báo tiếng Nga . Nina cũng cộng tác với tờ Dernières Nouvelles, một nhật báo của giới lưu vong nga tại Paris và cho xuất hiện những bài truyện ngắn lấy cảm hứng từ chính kinh nghiệm bản thân, những việc xảy ra hàng ngày trong giới lưu vong Nga về sau này được tập trung trong l’Allègement du destin - Oblegěenie uěasti (1949).

Berberova đã sống trong một tình trạng thật nghèo khó về vật chất nhưng lại rất giầu về tinh thần.
Tại Billancourt, một quận lớn thứ hai của thành phố Paris, Berberova đã gặp một cộng đồng nhỏ những người Nga di dân , quy tụ quanh những nhà máy sản xuất xe ô tô Renault. Cùng lúc đó qua những nhân vật, thật thống thiết hay chẳng có chút ý nghĩa gì, lạc lõng vì phải lưu vong Berberova khám phá ra những chủ đề hình như chỉ đợi được Berberova kể lại.
Nhà văn nữ lập tức khởi sự viết những câu chuyện ngắn , những truyện này chỉ được xuất hiện tại Pháp 68 năm sau dưới tựa đề Chroniques de Billancourt -Bijankurskie prazdniki được ghi lại lúc thì rất hồn nhiên khi thì thật đáng thương.

Năm 1926, Nina và Vladislav dọn về căn hộ đầu tiên (nghèo nàn) của họ gần công trường Daumesnil, đường Lamblardie. La Rotonde, le Select, la Coupole, le Naples, ở khu Montparnasse mỗi buổi tối là điểm tập hợp của những người Nga lưu vong ở Paris. "Đôi khi chúng tôi đã thức trọn đêm với duy nhất một ly cà phê kem trước mặt", sau này Ninan Berberova đã ghi lại. Cả hai tham dự vào những buổi đọc thơ ở "Union des jeunes poètes" - Hội liên hiệp các thi sĩ trẻ - tại số 79 rue Denfert-Rochereau hoặc buổi dạ vũ của báo chí Nga dành cho những nhà văn cần sự trợ giúp ở khách sạn Lutétia hay buổi lẽ mừng năm mới Nga vào ngày 13 tháng Giêng năm 1928.

Vào năm 1927, Nina và Vladislav đến lưu trú tại Cannet trong vùng Alpes maritimes , năm sau đó tại Thorenc gần Grasse (Nam Pháp).

Vào cuối năm 1928, một nhóm nhỏ tập hợp lại trong đó có Berberova, Khodassevitch, Vladimir Nabokov và nhiều người khác họ thường xuyên gặp nhau tại những quán cà phê trong khu Montparnasse, gần cửa Saint- Cloud hay Auteuil (đặc biệt tại Les Trois Obus). Từ những năm 30, Nina Berberova phát triển mạnh về văn hơn là thơ và cuộc sống của những người Nga lưu vong ở Paris là nguồn đề tài cho Nina viết Les Derniers et les Premiers - Poslednie i pervye (1930), L’Accompagnatrice - Akkompaniatorša (1935) ...

Năm 1932, Nina chia tay với Khodassevitch, dời về ở tại tầng thứ 6 khách sạn des Ministères, đại lộ Tour-Maubourg.

Cùng lúc với những truyện ngắn, Nina sáng tác tiểu thuyết như Les Derniers et les Premiers -Poslednie i pervye, (1930), La Souveraine -Povelitel’nica, (1932), Sans déclin -Bez zakata, (1938), những tác phẩm mà sau này, ngay cả khi Nina qua đời, luôn luôn được người ta nhắc nhở tới.

Trong suốt thời kỳ nước Pháp bị Đức quốc xã xâm chiếm, Nina Berberova cư ngụ với ký giả Nikolai Makeyev, người mà cô thành hôn vào năm 1937, tại một căn nhà mà cô đã mua được trong vùng Longchêne - Yvelines vào năm 1938 sau đó Ninan đã bán lại để dời về Mougins.

Ngày 14 tháng 6 năm 1939, Vladislav Khodassevitch qua đời tại Billancourt.

Năm 1946, một người bạn gái, Greta Guerelle, từ Thụy Điển đến, cho Nina biết rằng tác phẩm của Nina, Tchaïkovski, viết năm 1937, đã được tái bản và Nina đã nhiều lần đến Stockolm và lưu lại đây nhiều tháng.

Ngay sau khi thế chiến thứ Hai vừa chấm dứt, năm 1947, Nina cộng tác với tờ tuần báo La Pensée russe viết bài cho trang văn chương trong đó bà cho xuất hiện Alexandre Blok et son temps (1947) hoặc l’Affaire Kravtchenko (1949)...

Năm 1950, Nina Berberova kết hôn với George Kochevitsky, một nhạc sĩ. Nhưng chỉ được vài tháng sau George Kochevitsky từ trần.
Vì điều kiện sống vô cùng bấp bênh,cô độc, thất bại tình cảm cá nhân, chán chường với thái độ của giới trí thúc Pháp, Nina chọn lựa con đường rời bỏ Pháp để sang Hoa Kỳ. Nina đã giải thích những động lực đã thúc đẩy cô phải thực hiện chuyến lưu vong cuối cùng này như sau : " Ba lý do đã thúc đầy tôi rởi bỏ nước Pháp [...]. lúc đó trình hình trở nên vô cùng lo ngại. Tiếp đó, nhìn đi nhìn lại, tôi chỉ một thân một mình , gần như vậy, trong một thành phố mà suốt gần một phần tư thế kỷ trôi đã sống giữa khoảng gần hai chục người ràng buộc với nhau bởi thi ca của Nga, với ngôn từ , âm điệu, tư tưởng của nó ... đã nuôi dưỡng chúng tôi một cách hạnh phúc, nhiều hoặc ít. [...] Song, với thời gian , đây là lý do cuối cùng mà bây giờ theo tôi là quan trọng nhất trong lúc đó. Kể từ năm 1945, mọi việc đều thay đổi. Thiếu hẳn "lương thực cho tinh thần" đã đưa tôi trực tiếp đến với sự cùng quẫn và đình trệ trí tuệ . ».
Le Cap des tempêtes - Mys bur đã được bà sáng tác trong khoảng thời gian từ 1950 đến 1951.

Nước Mỹ đã tiếp đón Berberova một cách tốt đẹp hơn . Trong suốt 7 năm, bà làm 7 nghề nghiệp khác nhau . Kể từ năm 1954, sau khi nhập tịch Mỹ, bà đã trở thành một vị nữ giáo sư giảng dạy văn chương Nga tại đại học Yale sau đó Princeton và lái xe ngang dọc khắp vùng Missouri...cho tới lúc về hưu trong vùng New Jersey vào năm 1971. Nina Berberova vẫn tiếp tục viết :

Le Roseau révolté - Mysljaščij, (1958) , le Mal noir - Černaja bolezn’, (1959).

Năm 1972 bà viết một tự truyện lừng danh : C’est moi qui souligne -Kursiv moj.
"Đây không phải là một quyển sách viết về những kỷ niệm. Đây chính là cuộc đời tôi, một mưu toan vạch lại theo thứ tự thời gian để có thể giải mã cho một ý nghĩa nào đó. Tôi yêu cuộc đời và vẫn luôn luôn yêu nó....".

Tuy nhiên, tác phẩm của Berberova vẫn còn phải chờ đợi nhiều năm sau để được người ta biết tới. May mắn thay, Nina Berberova đã hài lòng chứng kiến, khi còn sinh tiền, những tác phẩm của bà được phiên dịch và được rất nhiều người yêu chuộng văn chương biết tới tại hầu hết những quốc gia phương Tây và ngay tại quê hương của bà :

Nhờ vào tài năng của một nữ dịch giả, Lydia Chweitzer, và sự tinh tế của Hubert Nyssen giám đốc nhà xuất bản Actes Sud nên đến năm 1985 xuất hiện tại Pháp một tiểu thuyết ngắn "L'Accompagnatrice" - Người nữ hướng dẫn viên (Claude Miller thực hiện phim vào năm 1992) .
Kể từ năm này, với nhịp độ mỗi năm một tác phẩm, nhà xuất bản Actes Sud Pháp đã cho xuất hiện những tập truyện kể được bà viết vào những năm 30 và 40. Rồi sau đó những bản dịch bằng Anh ngữ, Ý,...lần lượt được các nhà xuất bản tại Mỹ, Ý... cho ra mắt độc giả.

Tất cả những tiểu thuyết của bà đều có sự hiện diện của các diễn viên chính " những kẻ lưu vong bị giáng loại ". Những câu chuyện cấu kết bởi " sự vinh quang, sự nghèo khổ , điên dại và nhục nhã đê hèn" được Nina Berberova viết vào cuối của bộ hồi ký của bà.

Mặc dù đã lớn tuổi nhưng vẫn tiếp tục du lịch : Những chuyến trở lại Paris và vào năm 1989 chuyến trở lại quê hương Nga lần đầu tiên từ năm 1922 tuy nhiên bà vẫn trung thành với nơi cư trú sau cùng tại Philadelphie - Pennsylvania này.

Tại đây, vào ngày 26 tháng 9 năm 1993 Nina Berberova đã trút hơi thở cuối cùng.


II - TÁC PHẨM CHÍNH ĐÃ XUẤT BẢN :

. L'Accompagnatrice - Akkompaniatorša, viết năm 1935 - xuất bản năm 1985.

. Le Laquais et la putain - Lakej i devka, viết năm 1937 - xuất bản năm 1986.

. Astachev à Paris xuất bản năm 1988.

. Le Roseau révolté - Mysljaščij , viết năm 1958 xuất bản năm 1988.

. La Résurrection de Mozart xuất bản năm 1989 .

. Le Mal noir - Černaja bolezn’, viết năm 1959 xuất bản năm 1989 .

. De cape et de larmes xuất bản năm 1990 .

. À la mémoire de Schliemann xuất bản năm 1991 .

. Roquenval xuất bản năm 1991 .

. Chroniques de Billancourt - Bijankurskie prazdniki, viết năm 1930-1940 xuất bản năm 1992.

. Où il n'est pas question d'amour xuất bản năm 1993 .

. La Souveraine- Povelitel’nica, viết năm 1932.

. Les Dames de Saint-Petersbourg xuất bản năm 1993 .

. Zoïa Andréevna xuất bản năm 1993 .

. Le Livre du bonheur xuất bản năm 1993 .

. Tchaïkovski - Cajkovskij xuất bản năm 1987.

. Histoire de la baronne Boudberg xuất bản năm 1988 .

. C'est moi qui souligne- Kursiv moj, viết năm 1972 xuất bản năm 1989.

. Borodine, viết năm 1938, xuất bản năm 1989.

. L'affaire Kravtchenko viết năm 1949 xuất bản năm 1990.

. Les Francs-maçons russes du XXE siècle xuất bản năm1990 .

. Alexandre Blok et son temps, viết năm 1947, xuất bản năm 1991.

. Récits de l'exil xuất bản năm 1991 .

. Nabokov et sa Lolita xuất bản năm 1993 .

. Thesaurus Nina Berberova, tiểu luận xuất bản năm 1993.

. Anthologie personnelle .

. Les Derniers et les Premiers - Poslednie i pervye, viết năm 1930.

. Sans déclin - Bez zakata, viết năm 1938.

. Le Cap des tempêtes - Mys bur, viết năm 1950-1951.

. L’Allègement du destin - Oblegěenie uěasti viết năm 1949.



Viết xong tại La Sérénité-Troyes, 22giờ 50 - 30.10.2008

Theo tài liệu : Slavika - Act Sud - Wikipédia - Alalettre - Suite 101 - Nybooks ...









© tác giả giữ bản quyền.
. Tải đăng ngày 01.11.2008
. Trích Đăng Lại Vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.