JEAN-MARIE GUSTAVE LE CLÉZIO

NOBEL VĂN CHƯƠNG DU MỤC 2008




TỪ VŨ





Trong suốt những tuần lễ vừa qua, theo những bảng dự đoán về nhà văn có hy vọng nhất được trúng tuyển giải Nobel Văn Chương 2008 lần lượt theo thứ tự là :

1- Philip Roth (Hoa Kỳ),

2- Haruki Murakami (Nhật Bản),

3- Amos Oz (Do Thái),

4- Joyce Carol Oates (Hoa Kỳ)

sau đó mới đến : Yves Bonnefoy (Pháp), Jean -Marie Gustave Le Clézio (Pháp) hoặc Maria Schottenius, Kerstin Lundberg... . Nhưng, cũng như năm 2007 với trường hợp của bà Doris Lessing, vào ngày thứ năm 09.10.2008, Jean -Marie Gustave Le Clézio, người không có nhiều hy vọng cho lắm đã được Stockholm xướng danh trúng giải .


Hàn lâm viện Thụy Điển quyết định trao giải Nobel Văn Chương 2008 cho nhà văn Jean-Marie Le Clézio vì ông là tác giả của những chuyến khởi hành mới, của sự đoạn tuyệt, phiêu lưu đầy thơ mộng và đam mê khoái cảm, thám hiểm một thế giới con người ở mé bên kia và bên dưới thế lực văn minh đang ngự trị hiện tại - "author of new departures, poetic adventure and sensual ecstasy, explorer of a humanity beyond and below the reigning civilization "

Jean-Marie Le Clézio sinh tại Nice (miền Nam nước Pháp) ngày 13 tháng 4 năm 1940, cha ông là gốc người Anh và mẹ là người gốc Pháp vùng Bretagne , cả cha lẫn mẹ ông đều là người sống tại đảo Maurice (Ấn Độ dương).
Người ta cũng khó có thể nói được rằng Le Clézio là người Pháp, Anh hay người đảo Maurice vì chính ông cũng không chọn lựa về việc này.
Le Clézio thích du lịch, tự xem mình như là một người lưu vong, nhưng Pháp ngữ chính là "quê hương" của ông :

" Đối với tôi , người ở đảo, một kẻ sống bên bờ biển nhìn những chiếc tàu chở hàng đi qua, lê chân trên những bến cảng , người đó giống hệt như một kẻ đi bộ dọc theo một đại lộ không phải là một khu vực hoặc một thành phố nhưng lại là tất cả khu vực và tất cả những thành phố, ngôn ngữ Pháp là quê hương duy nhất của tôi, nơi tôi cư trú. ".


Jean -Marie Gustave Le Clézio thông thạo cả Anh lẫn Pháp ngữ. Lúc đầu ông đã có ý nghĩ xuất bản những tác phẩm của ông bằng Anh ngữ song ông lại khởi sự viết bằng Pháp ngữ, cố tình đối lập hẳn lại sự đô hộ của người Anh tại đảo Maurice vào thời đó (trước 1968).

Vào năm lên 7 tuổi, Le Clezio viết tập sách đầu tiên về biển cả. Một chuyến đi dài đã nẩy sinh trong cabin tầu thủy trên hải trình cùng với bà mẹ đi tìm gặp cha ông tại nước Nigéria. Sự khám phá ra Phi châu và người cha, là một kinh nghiệm căn bản : " Tới Phi châu với tôi đã là sự đi vào phòng đợi của thế giới người lớn. " (trong L'Africain) Học hỏi để sống ở đời, để quan sát nó, khám phá nó, giản dị, trước khi nó biến mất...

Le Clézio chia sẻ học vấn văn chương của ông giữa Nice, Bristol và Luân Đôn rồi hội nhập văn giới Pháp vào năm 23 tuổi với giải thưởng Renaudot (1963) qua quyển tiểu thuyết đầu tiên, Le Proces-Verbal - "Biên Bản" , trong đó ông xử dụng ngòi bút để đối kháng một xã hội chỉ biết đặt căn bản trên bạo lực và đồng tiền để lấn áp thiên nhiên và những kẻ yếu đuối. Le Clézio không chấp nhận và ông vất bỏ thế giới hiện đại đầy âu lo.

Năm 1967, Le Clezio đi nghĩa vụ quân sự tại Thái Lan dưới hình thức một thành viên trong chương trình hợp tác và đã bị chính quyền Thái trục xuất vì lên tiếng tố cáo tệ nạn trẻ em làm đĩ điếm tại quốc gia này. Le Clézio được gởi đi Mexique để tiếp tục thời hạn nghĩa vụ còn lại, làm việc tại Institut d'Amérique Latine, trong thời gian làm việc tại đây ông đã đam mê vùng đất và những người thổ dân ở xứ Mixico này . Kinh nghiệm sống ở Mexico đã ảnh hưởng rất nhiều trong những tác phẩm ông viết và đã làm thay đổi cách nhìn của ông với thế giới.
Trong suốt 4 năm, từ 1970 tới 1974, ông chia xẻ cuộc sống của mình với những người thổ dân Emberas và Waunanas, trong giữa vùng rừng rậm ở nước Panama (Nam Mỹ) để với những điều học hỏi được về người, về văn hoá, về thần bí theo ông là một giá trị khó có thể thay thế, cuộc phiêu lưu cũng góp phần vào việc rèn luyện ông trở nên một người mới, một nhà văn khác, dịu hơn, nảy nở hơn. Từ đó, Le Clezio đi tìm một sự gắn bó chặt chẽ, một sự quân bình về triết lý bởi lẽ cuộc hội ngộ của ông với lịch sử nguyên thủy của Mexique, lịch sử trước thời kỳ bị tiêu hủy bởi cuộc chinh phục Mỹ châu của người Tây Ban Nha, điều này khiến ông đã phải nhăn mặt vì tức giận.
Le Clézio lặn lội vào giữa những vùng núi non sâu thẳm nơi những người thổ dân Huichols còn sống sót. Ông học hỏi ngôn ngữ của họ, khám phá những văn bản thiêng liêng cổ truyền.
Năm 1979, Le Clezio là người Tây Phương đầu tiên xuất bản tập sách dịch Des Prophéties du Chilam Balam - "Những Lời Tiên Tri của Chilam Balam ", tác phẩm huyển thoại của người thổ dân Nam Mỹ.
Trở thành một chuyên gia về Michoacan (trung tâm nước Mexique), Le Clézio đệ trình một luận án lịch sử về chủ đề này tại viện nghiên cứu Mexique ở Perpignan (một thành phố ở vùng biển miền Nam nước Pháp) sau đó ông giảng dạy tại viện đại học Albuquerque (tiểu bang New Mexico - Hoa Kỳ), từ chối nhiệm vụ một người nghiên cứu sưu tầm tại viện CNRS Pháp năm 1978.

Trong tác phẩm Guerre - Chiến Tranh (1970), ông xác nhận sự ghê tởm của ông đối với tất cả mọi tư tưởng hủy diệt.
Với Les Géants - " Những Kẻ Không Lồ " (1973), Le Clezio nguôi giận một phần nào, sau nhiều tìm tòi về văn phong, giọng điệu, ngôn ngữ đã tạo nên tình trạng bấp bênh thường trực của thế giới cũng như trong lối viết của ông , lối viết mà ông thử diễn tả một sự quân bình mong manh giữa vẻ đẹp và sự ác độc. Đi tìm một sự hài hòa, quân bình của Người và Thiên Nhiên, người và chính bản thân hắn, sự thần diệu và hiện thực, sự sống và cái chết, cá nhân và tập thể xã hội, Le Clézio có xu hướng nhìn thấy những dấu hiệu khắp nơi và không ngớt đọc được những dấu hiệu này, đi tới để gặp gỡ những kẻ nghèo khổ nhưng đầy ắp những việc làm khác nhau, phản đối những cái xấu và những ngôn từ : " Tôi đã chán ngấy với sự lưu động, bất ổn, không chắc chắn với nơi mà tôi muốn cư trú. Tôi cần phải tập hợp với một sự đồng nhất và đối với tôi điều này diễn ra bởi ngôn ngữ viết, bằng những quyển sách. Gia đình thực sự của tôi , trong những quyển sách tôi đã tìm được nó, đó là tổ quốc của tôi. Đó là lãnh thổ văn chương, điều này không trừu tượng một chút nào, được tạo nên bằng những kỷ niệm, những vật dụng, những phong cảnh, những cảm giác. Người ta hay lẫn lộn giữa những kỷ niệm riêng tư với những gì có lợi được khi đọc . Trong sự nghèo nàn của sách sẽ nhìn thấy được tương lai. Điều gì nghèo nàn là điều có may mắn nhất để bảo vệ và để sống sót. Đó chính là sự bí mật của văn chương, trong sự tìm kiếm sự ngheò khó hay là sự thiếu tác dụng và sự thiếu thốn vẻ lộng lãy, để tiến về sự thực."

Nếu, sau khi xuất bản tác phẩm Les Géants , JMG Clézio đã giảm bớt tức giận về mặt hình thức thì trong ông vẫn tiềm tàng tư tưởng nổi loạn cùng sự từ bỏ xã hội tây phương hiện hữu. Việc tìm kiếm sự thuần khiết và sự thực đã đưa ông một cách thật tự nhiên vào thế giới trẻ em với các tác phẩm Mondo et autres histoires, Lullaby, Cœur brûlé và vào tận sa mạc: Jemia, vợ ông gốc người sa mạc Sahara, đã tháp tùng ông để trèo lên đến tận thung lũng Saguia El Hamra ở miền Nam Ma - rốc, tới tận những ngọn nguồn cổ xưa của gia đình Jemia (trong tác phẩm Gens Des Nuages - Những Người của Những Đám Mây ) .

Jean-Marie Gustave Le Clézio đã cho ra mắt độc giả hơn 40 tác phẩm, tăng cường việc tìm kiếm khi viết qua nhiều thể loại : Tiểu Thuyết Mới, Tiểu Luận, Dịch thuật , Viết tiểu sử, Sách Truyện cho trẻ em và vô số bài viết khác nhau trên các báo, tạp chí...
Dù sống với những người thổ dân vùng Nam Mỹ tại Mexico hay Panama hoặc với những người cư dân nơi sa mạc, Jean-Marie Gustave Le Clézio hình như đã đạt được mục tiêu trong sự kiếm tìm cho chính ông. Một tương quan hài hòa, nẩy nở và quân bình với thế giới hệt như sự bí mật của những người này.Tuy nhiên ông vẫn là một nhà văn bí mật, du mục hơn là du lịch và là một trong số những người kể chuyện ít ỏi hôm nay biết cách đề cập đến những huyền thuyết một cách thật cụ thể .

Tất cả các nhân vật trong tác phẩm của Le Clézio đều là những kẻ mang một đạo đức sống trong đó điều quan trọng là sự tôn trọng thế giới, tha nhân và bản thân.Qua việc lĩnh hội được thế giới quanh ông, ông mời mọc mỗi độc gỉa hãy tự nhìn lại bản thân mình. Xa lánh mọi thị hiếu, mọi kiêu căng, lời nói của ông giản dị và thơ ngây giống hệt một người thuật chuyện. Lời nói đó ân cần cầm tay người đọc , mời họ đắm mình vào sự an bình, mơ mộng, nên thơ, một thứ xuất thần của sự trầm tư mặc tưởng để nghe tiếng ông nói một cách thật im lặng, văn chương của ông là một thứ văn chương vượt thoát và tìm tòi, một kho tàng che dấu, một thời hạn tròn trịa, một niềm hạnh phúc rất quyến rũ.

Jean -Marie Gustave Le Clézio mang người đọc từ đầu thế giới đến cuối thế giới, du mục từ nơi này qua vùng khác, lưu vong khắp mọi nơi, trong lang thang, đi qua và truyền động. Ông đã du hành và làm người khác du hành. Nhân vật của ông mất dạng trong các thành phố, những nhân vật nói với chúng ta về cái chết, về hãi sợ về cô đơn, những giấc mơ êm ả thời thơ ấu, tình yêu tự do, vỡ mộng vì đời sống người lớn và sự ham muốn. Tuy thế, Le Clézio không phải là một kẻ mơ mộng, ông là một người tự do, một nhà văn đứng lên tố cáo, tranh đấu, thách thức. Một người du mục chuyên nghệ, không bao giờ hiện diện ở nơi mà ngưới ta đang đợi và tác phẩm của ông vẫn luôn giữ nét khó xếp loại được.

Lối viết của Jean -Marie Gustave Le Clézio giản dị một cách làm người ta dễ bị đánh lừa, duyên dáng, thanh tao, chứa đầy ý nghĩa, mầu sắc, nhiệt tình, vẻ đẹp và cảm xúc. Văn phong cuả ông đầy những sự tinh tế . Một cái gì duy nhất và yên lặng che dấu trong những câu chuyện thuật lại của ông. Những câu trong vắt, cô đặc, tuyệt vời mà thơ ca không hiện diện để cứu chữa tiểu thuyết để hoá trang những sự thiếu chính xác và những điểm yếu : thơ tự nó nẩy sinh từ chính câu văn xuôi. Truyện kể của ông hình thành bằng một sự khảm ghép của nhiều loại văn chương trong đó thơ, huyền thoại và ngụ ngôn tự giao nhau, thường thường điểm xuyết sự ẩn dụ và những câu lập lại phục hồi một bản văn đầy nhạc kiểu điệp khúc .

Một kiến trúc sư xuất sắc của lịch sử thân thiết và phổ thông, nhà nhân văn chủ nghĩa Le Clézio có một nhịp điệu thư thái in dấu của sự trìu mến, lòng hoài hương , sự hoài nghi, cứ như vậy kể tiếp những câu chuyện thầm kín, thậm chí những tiểu thuyết bước đầu rèn luyện cho người lớn. Như người con gái có tên là Lalla trong quyển Désert, chàng ta là ánh sáng của sa mạc trong những đôi mắt và máu trong những tĩnh mạch của những người chiến binh Rio de Oro, vây dồn một nhan sắc nguyên lai mà văn minh của chúng ta đã đánh mất nhưng một số người nào đó vẫn còn bảo tồn được kỷ niệm qua sự phát triển hiện đại. Le Clézio kiếm tìm không ngừng nghỉ những dấu hiệu của sự bất hạnh và những dấu hiệu của sự thanh bình trong tim chính ngay cuộc sống, với ánh sáng mặt trời và đất, ẩn ngữ của những cội nguồn và của tương lai, trí nhớ và quên lãng, để hát cho chúng ta bài hát ngợi ca về vẻ đẹp mà chúng ta tìm thấy trong tất cả các tác phẩm của ông.
Le Clézio thuật lại cuộc đời của những người đàn ông tự do cuối cùng bằng những từ thật rung cảm, bùng nổ, rực sáng, lay động một thế giới vừa bất động lại cũng vừa mong manh.

"Tôi thích tin vào tình yêu như một giá trị cá nhân, duy nhất có thể đánh bại được những hệ thống cướp bọc và bạo ngược tập thể !".

Năm 1980, Le Clézio đã là người đầu tiên nhận được giải Paul Morand tưởng thưởng toàn bộ tác phẩm của ông.

Năm 1994, ông được bầu là nhà văn viết bằng tiếng Pháp lớn nhất hiện đang còn sống . Jean-Marie Gustave Le Clézio cũng là nhà văn viết Pháp ngữ được đọc nhiều nhất thế giới hiện nay, tác phẩm của ông cũng đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ trên thế giới.

Jean-Marie Gustave Le Clézio nhà văn viết bằng Pháp ngữ được trao giải thưởng Nobel Văn Chương 23 năm sau nhà văn Claude Simon (1985) .

Trả lời trong một cuộc phỏng vấn của đài truyền thanh Thụy Điển về việc ông được trao giải Nobel Văn chương 2008, Jean Marie Gustave Le Clézio đã tuyên bố " rất xúc động và đây là một vinh dự lớn lao cho tôi.
Ông cũng nói thêm rằng "biết được tin trong lúc đang đọc một quyển sách , tôi rất nóng lòng được đến Stockholm và thành thực cảm ơn viện hàn lâm Thụy Điển .

Ngày 25 tháng 10, Jean-Marie Gustave Le Clézio sẽ đến Stockholm, thủ đô nước Thụy Điển để nhận giải Stig-Dagerman mà ông đã được trao tặng vào tháng 6 .
Sau đó, ngày 10 tháng 12, Le Clézio sẽ lại trở lại Thụy Điển để đọc bài diễn văn nhận lãnh tấm ngân phiếu 10 triệu tiền Thụy Điền (1,02 triệu Euros).

Được nhận lãnh cùng lúc cả 2 giải thưởng của Thụy Điển trong cùng một năm , Jean-Marie Gustave Le Clézio là nhà văn thứ 2 trên thế giới sau nhà văn Áo Elfriede Jelinek (năm 2004).


TÁC PHẨM CHÍNH :

1963 - Le Procès-verbal. Nhà xuất bản Gallimard (Prix Renaudot).
1964 - Le Jour où Beaumont fit connaissance avec sa douleur. Nhà xuất bản Mercure de France.
1965 - La Fièvre. Nhà xuất bản Gallimard.
1966 - Le Déluge. Nhà xuất bản Gallimard.
1967 - L'Extase matérielle. Nhà xuất bản Gallimard.
1967 - Terra Amata. Nhà xuất bản Gallimard.
1969 - Le Livre des fuites. Nhà xuất bản Gallimard.
1970 - La Guerre. Nhà xuất bản Gallimard.
1970 - Lullaby. Nhà xuất bản Gallimard.
1971 - Haï. Nhà xuất bản Skira.
1973 - Les Géants. Nhà xuất bản Gallimard.
1973 - Mydriase. Nhà xuất bản Fata Morgana.
1975 - Voyages de l'autre côté. Nhà xuất bản Gallimard.
1976 - Les Prophéties du Chilam Balam. Nhà xuất bản Gallimard.
1978 - L'Inconnu sur la terre. Nhà xuất bản Gallimard.
1978 - Vers les icebergs. Nhà xuất bản Fata Morgana.
1978 - Voyage au pays des arbres. Nhà xuất bản Enfantillages.
1978 - Mondo et autres histoires. Nhà xuất bản Gallimard.
1980 - Désert. Nhà xuất bản Gallimard.
1980 - Trois villes saintes. Nhà xuất bản Gallimard.
1982 - La Ronde et autres faits divers. Nhà xuất bản Gallimard.
1982 - Celui qui n'avait jamais vu la mer tiếp theo La Montagne du dieu vivant. Nhà xuất bản Gallimard, Folio Junior.
1984 - Relation de Michoacan. Nhà xuất bản Gallimard.
1985 - Balaabilou. Éditions Nhà xuất bản Gallimard Jeunesse.
1985 - Le Chercheur d'or. Nhà xuất bản Gallimard.
1985 - Villa Aurore suivi de Orlamonde. Nhà xuất bản Gallimard, Folio Junior.
1986 - Voyage à Rodrigues. Nhà xuất bản Gallimard.
1988 - Le Rêve mexicain ou la pensée interrompue.Nhà xuất bản Éditions Gallimard.
1989 - Printemps et autres saisons. Nhà xuất bản Gallimard.
1990 - La Grande Vie tiếp theo Peuple du ciel. Nhà xuất bản Folio Junior.
1991 - Onitsha. Nhà xuất bản Gallimard.
1991 - Peuple du ciel. Nhà xuất bản Gallimard Jeunesse.
1992 - Étoile errante. Nhà xuất bản Gallimard.
1992 - Pawana. Éditions Nhà xuất bản Gallimard.
1993 - Diego et Frida. Nhà xuất bản Stock et Gallimard.
1995 - La Quarantaine. Nhà xuất bản Gallimard.
1996 - Poisson d'or. Nhà xuất bản Gallimard.
1997 - La Fête chantée. Le Promeneur.
1997 - Enfances.
1997 - Gens des nuages. Nhà xuất bản Stock.
1999 - Hasard suivi de Angoli Mala. Nhà xuất bản Gallimard.
2000 - Coeur brûlé et autres romances. Nhà xuất bản Gallimard.
2002 - Voyage au pays des arbres. Nhà xuất bản Gallimard Jeunesse.
2003 - Révolutions. Nhà xuất bản Gallimard.
2004 - L'Africain. Nhà xuất bản Mercure de France.
2006 - Ourania. Nhà xuất bản Gallimard.
2006 - Raga, Approche du continent invisible. Nhà xuất bản Seuil.
2007 - Ballaciner. Nhà xuất bản Gallimard.
2008 - Ritournelle de la faim. Nhà xuất bản Gallimard.



Viết xong tại La Sérénité-Troyes, 23 giờ 50 - 11.10.2008

Theo tài liệu Libération.fr/culture, La Presse Canadienne, République des lettres, Le Monde...









đã đăng trong Báo Văn nghệ Trẻ số 42 (ra ngày 19 – 10 – 2008)






© tác giả giữ bản quyền.
. Tải đăng ngày 12.10.2008
. Trích Đăng Lại Vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.