THAY LỜI DẪN

Lược Sử Văn Nghệ Việt Nam của nhà văn Thế Phong gồm 4 tập, đã được in 2 tập: Tập 1 NHÀ VĂN TIỀN CHIẾN 1930-1945, bản in ronéo đầu tiên ở Sài Gòn gồm 100 cuốn vào năm 1959. Bản tái bàn cuả NXB Vàng Son in 3000 cuốn ở SàiGòn vào năm 1974. Bià cuả họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi được chụp in lại trên đây , do một trong những NXB vô danh ở Mỹ in lậu ở California sau 1975 và Tập 4 : Tổng Luận đã chuyển ngữ A BRIEF GLIMPSE AT THE VIETNAMESE SCENE (from 1900 to 1956) và 2 tập 2 & 3 nói về văn nghệ kháng chiến, nhà văn hậu chiến 1900 - 1956 (văn nghệ quốc gia hay văn nghệ của VNCH) chưa bao giờ công bố trên văn đàn, mặc dù đã được lưu trữ tại một số thư viện TRONG NƯỚC (Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. HCM, Thư viện Khoa học Xã hội Tp.HCM) và NGOÀI NƯỚC như ở Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, Boston, Ithaca-New York, SIU, IOWA vv..hoặc ở Pháp, Đức, Úc..

Newvietart xin đăng tải lại một vài nhận định báo chí, văn giới về Lược Sử Văn Nghệ khi xuất bản lần đầu vào 1959 :

a) Tạp chí Bách Khoa:" ..Ông TPhong vừa cho ra một loạt phê bình văn học. Đó là ai nấy đều mong đợi, bởi vì sau một thời gian khá lâu chưa ai tiếp tay Vũ Ngọc Phan, chốc đà mười mấy năm trời' đúng một thời gian luân lạc cuả cô Kiều...."( số 56, năm 1959, TRIỀU ĐẨU)

b) Ông TP một văn nghệ sĩ thủ đô vừa viết xong và cho phát hành cuốn" Lược sử Văn Nghệ VN", trong đó tác giả phân tích các tác phẩm của văn nghệ sĩ ra đời từ 1930 đến 1945. Cuốn này được quay ronéo có bầy bán tại các hiệu sách. Sách này tác giả đã tốn nhiều công phu và sưu tầm khá nhiều tài liệu để biên soạn (nhật báo Ngôn Luận ngày 8/9/1959- Saigon).

c) ..." Điều thứ ba, sự phán đoán của anh hợp với ý tôi, phần nhiều các tác phẩm anh khen, thì tôi cũng nhận là có giá trị; những tác phẩm anh chê, thì tôi cũng không thích. các nhận xét cuả anh về Triều Sơn, Hoàng Thu Đông đều đúng cả. Đó là nhận xét của tôi; tôi phải phục sức đọc, sức viết, sức nhớ cuả anh. Cảm ơn anh một lần nữa.." (Nguyễn Hiến Lê, 12/3c Kỳ Đồng, Saigon 3- ngày 17/4/1959)

d) Nguyệt san Sinh Lực (1959, Chủ nhiệm: Võ văn Trưng- Saigon) :"...Hôm nay Thế Phong còn có thể ít nhiều nhầm lẫn-nhưng với khả năng rạt rào của tuổi trẻ, với lòng yêu văn nghệ đến đam mê, anh còn nhiều bước đi ngạc nhiên trên lãnh vực nà để đào xới lại mảnh đất hoang phê bình cảo luận bị bỏ quên trong nhiều năm. Sự cố gắng của Thế Phong là sự cố gắng hoàn toàn văn nghệ, cuả một người văn nghệ biết mỉm cười trong sự nghèo túng bản thân mình để hiến chiều dài cho văn học sử. Cũng có đôi khi ta thấy Thê Phong phê phán có vẻ độc tài và tàn nhẫn nữa; nhưng ta vẫn thấy rằng: đó là sự độc tài và tàn nhẫn không có tính cách tự cao, tự đại; hoặc dao to búa lớn; (trái lại) nhiều tinh thần thẩm mỹ, dĩ nhiên là có chủ quan. Ta quí sự nhận thức ấy- vì anh dám nói- cũng như người khác có dám cãi lại hay không là quyền của họ.." (Lê Công Tâm - Thanh Hữu, nhà văn).

e) Le Journal d'Extrême Orient (Saigon, 3 Décembre 1959)" Lược sử văn nghệ Việt nam-Hisotire de la littérature vietnamienne". Histoire sommaire de la littérature vietnamienne, òu l'auteur passe en revue les écrivains d'avant guerre 1930-1945. Cette oeuvre est tirée sur ronéo avec une tirage limitée. Fruit de minuitieuses recherches et d'une riche documentation donnée une vue d'ensemble des diverses époques et tendances des écrivains, des poètes du Vietnam, de leurs oeuvres, d'une littérature riche de plusieurs millénaires suivant le cours de l'Histoire. C'est une synthèse remarquablement coordonné annotée parle critique éminent qu'est ThếPhong qui l'achevée dans les derniers jours de Juin 1956 (đã in ở cuối sách "LSVNVN-Nhà văn tiền chiến 1930-1945 của ThếPhong, NXB Vàng Son Saigon 1974)...

Từ Vũ và Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những người muốn khách quan sưu tra sử liệu .

KỲ THỨ 34

VỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN : 1950 – 1956

[ QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH) ]


G iai đoạn kháng chiến, từ 1945 đến 1950 Việt Nam độc lập được gần một năm. Tiếp, Pháp chiếm lại Hà Nội, (ngày 19 tháng 12 năm 1946) cho dù đảng phái Quốc hay Cộng đều bỏ phù hiệu riêng, đoàn kết trong danh xưng kháng chiến chống thực dân tái xâm lăng. Suốt chín năm (1945–1954), thì kháng chiến ở bốn năm về sau, đã hao hụt thực chất; Mác xít ra mặt lãnh đạo – và cho đến 20–7–1954, phân chia đất nước, danh xưng toàn dân kháng chiến mất hẳn ý nghĩa. Song trên bình diện văn nghệ, ý thức toàn dân kháng chiến tạo được nền văn học có chiều sâu và rộng.
Giai đoạn văn nghệ phân hóa, văn nghệ Mác xít – theo hẳn lối sáng tác được chỉ huy, nhất là sau 1954 miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Còn Quốc Gia và miền Nam (VNCH) văn nghệ chỉ là vườn hoang, mọc đủ loại thảo mộc. Trong tập này, với người khe khắt cho quá nhiều – người dễ dãi cho chưa đủ. Với tôi, vẫn chỉ là bắt voi bỏ giọ, và tất nhiên chủ quan; thiếu sót tất nhiên không thể tránh. Nhìn vào những người viết sách nhận định văn học trước như Vũ Ngọc Phan kết luận cuối trang sách phê bình văn học, có đoạn:
“... Trước hết, bộ sách này là bộ phê bình văn học như tôi đã nói nhiều lần, vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn. Sau nữa, trong khi tôi viết những trang phê bình về thơ, có nhiều thi sĩ chưa có quyển thơ nào xuất bản, về kịch hay tiểu thuyết, có nhiều nhà văn chưa có sách biên khảo, chưa có kịch hay tiểu thuyết ra đời. Như vậy, biết căn cứ vào đâu cho chắc chắn? Rồi lại những nhà văn chính trị tuy đã có văn thơ in trên báo chương hay xuất bản thành sách, cũng không có trong bộ sách này, vì một lẽ mà ai cũng hiểu khi nhớ đến chế độ hiện hành về sách báo. Còn những nhà văn chuyên viết những sách Pháp văn thì tôi cho là không phải nói đến trong văn học Việt Nam. (...) Tôi xin nhắc lại đây một lần nữa rằng bộ Nhà Văn Hiện Đại này chỉ là một bộ phê bình văn học, không phải là bộ văn học sử. Trong văn học sử, người viết cần phải xét rất kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến văn phẩm, rồi lại phải định rõ cả sự liên lạc của nhà văn nọ với nhà văn kia đồng thời hay khác thời đại. Nếu không đủ được những điều cốt yếu ấy, để định rõ phong trào văn học, thì dù có văn học sử đi nữa, người ta cũng chỉ coi là một mớ sử liệu...” (1)
Thời gian này tác phẩm viết bằng Pháp ngữ như Phạm Duy Khiêm với Légendes des terrres sereines và Nam et Sylvie; hoặc Nguyễn Tiến Lãng Le Chemin de la Révolte; Phạm Văn Ký: Frère de Sang, Celui qui régnera; Cung Giụ Nguyên Le Fils de la baleine – sử học Lê Thành Khôi với Le Vietnam, Histoire et Civilisation v.v..., không nói đến, cũng như lý do mà ông Vũ Ngọc Phan đề cập tới ở trên. Đến nhà chính trị văn sĩ Hồ Hữu Tường với Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc bỡn Nga, ... thì cũng vậy. Cả đến loại sách trinh thám kỳ tình, kiếm hiệp, phong thần, phỏng dịch chắp vá được gọi là tác phẩm văn học – chúng tôi xin phép không nói tới. Rõ hơn là Phạm Cao Củng có mặt từ tiền chiến với Kỳ Phát; hoặc truyện Người Nhạn Trắng cũng thế v.v... Tác giả Hoàng Như Mai, thời gian 1950–1954 trong kháng chiến; chúng tôi đưa vào cuốn này; vì vở kịch Tiếng Trống Hà Hồi đặc sắc được in trình diễn ở Hà Nội. Có thể nói điển hình bộ môn kịch là Tiếng trống Hà Nội. Bước sang bộ môn biên khảo, đưa Duy Sinh vào một tiết, như một điển hình cho lớp người viết biên khảo; cũng vẫn chủ quan, so với Diên Hương, Thu - Giang - Nguyễn - Duy - Cần; Khi đối chiếu lại thì, Duy Sinh không thể giá trị bằng hai nhà biên khảo vừa nêu danh.
Trở lại bình diện văn nghệ hậu chiến, tập 3 gồm trên dưới một trăm nhà văn; chọn ba mươi điển hình nói tới cặn kẽ; so với người khác viết tóm lược. Cũng vẫn chủ quan thô thiển và tự nhận thiếu sót. Bởi còn nghĩ xa hơn rằng: "không thể viết đầy đủ các nhà văn mình muốn đưa vào một quyển, thay vì mỗi nhà văn điển hình phải viết hẳn một cuốn nói về họ".
Nên coi những trang viết này chỉ là chữ viết (écriture) trong bộ sách này, và không là văn học (littérature); như quan niệm của Michel Buto (2). Lẽ trang viết có ý nghĩa tổng quát hơn. Còn nữa, bộ sách này chỉ là kết quả viết về tác phẩm các tác giả mà tôi đã đọc, đưa ra nhận xét của riêng tôi; giúp cho nghề tôi nuôi nghiệp (littérateur). Từ 1950 đến 1956, biến chuyển thời cuộc tác động đích thực vào đời sống văn học mà nhà văn sống trong đó. Ở miền Bắc của Quốc Gia Việt Nam (1950 – 1954) nhóm Thế Kỷ tạo thành một Triều Đẩu, qua những mảnh đời phóng sự hồi cư nóng bỏng, hàng ngày phải đối phó với đời sống, tạm gọi độc lập trong lồng son Liên Hiệp Pháp. Còn thêm nhà văn điển hình như Hoàng Công Khanh với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, (truyện), Bến Nước Ngũ Bồ (kịch dã sử), Nguyễn Minh Lang, ngọn bút tài hoa của văn chương lãng mạn mới, qua Gái Hà Nội, Nước Mắt Trong Đêm Mưa, Cánh Hoa Trước Gió (2 tập)... Hai nhà văn này, chúng tôi đề cập ở Chương 3 (tiết 2 và 4) – nhưng tập 3 này xuất bản ở Sài Gòn vào 1959 (Loại sách Đại Nam văn hiến trong nhà xuất bản Huyền Trân, Nhật Tiến chủ trương) bị kiểm duyệt bỏ trọn tiết. Bản in lại lần thứ hai in lại đầy đủ; nhưng trong lần này vẫn phải để trống phần phân tích; vì lý do tầm thường – không kiếm được bản tái bản vào 1973. Hai nhà văn điển hình khác nói đến trong Chương 3 là Thanh Hữu, Văn An. Về nhà thơ điển hình: Đinh Hùng, Nguyễn Quốc Trinh... Viết tóm lược nhà thơ: Hoàng Phụng Tỵ, Song Nhất Nữ, Băng Sơn, Vân Long, Trần Nhân Cư... Bình diện văn nghệ miền Trung (Quốc gia Việt Nam) vào giai đoạn này, nhà thơ điển hình được nói đến : Huyền Chi (nữ), Hoài Minh, Thanh Thuyền. Viết tóm lược các nhà thơ: Hồ Đình Phương, Huyền Viêm, Thế Viên...
Bình diện văn nghệ miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), nhà văn điển hình: Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo (nữ), Triều Lương Chế, Phạm - Thái - Nguyễn - Ngọc -Tân Phạm Thái kèm tên thật Nguyễn Ngọc Tân, phân biệt với một Phạm Thái khác), Chấn Phong Hư Chu. Viết tóm lược: Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ), Thiếu-Mai-Vũ-Bá- Hùng (nữ), Minh Đăng Khánh, Tạ Quang Khôi, Tường Hùng, Kiêm Minh, Nguyễn Hoài Văn, Uyên Thao, Tô Kiều Ngân... Một số nhà văn khác nổi tiếng sau giai đoạn 1956 như Võ Phiến chưa có tác phẩm xuất bản. Phải kể thêm trong số đó: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, (nữ), Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng (nữ), Võ Hồng, Thế Uyên, Tuấn Huy, Thế Nguyên, v.v... của Đệ nhị Cộng hòa (sau 1963 trở đi). Riêng về phóng sự tiểu thuyết: Hoàng Hải Thủy với Vũ Nữ Sài Gòn (3), Duyên Anh qua bút hiệu Thương Sinh, Toàn Phong với Đời Phi Công, chúng tôi chưa có cơ hội nói đến, và nhờ Vũ Ngọc Phan giúp giải vây sự khốn đốn; ... vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn... Thêm nữa, khoảng thời gian viết đến lúc in ra (dầu cho là in ronéo-typé cách vài năm). Do đó, chưa kịp nói đến Võ Phiến (Chữ Tình), (4) Thế Uyên, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Toàn Phong , Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đình Toàn, Thế Nguyên, Văn Quang (Thùy Dương Trang), Huy Trâm, Phạm Nguyên Vũ, Túy Hồng (nữ), Lê Vĩnh Hòa, Nhật Tiến, (văn) v.v... – Về thơ: Thái Thủy, Tô Thùy Yên, Tôn Thất Quán, Hoàng Khanh, Cung Trầm Tưởng, Cao Mỵ Nhân, Viên Linh, Trần Dạ Từ (khi ấy ký Hoài Nam), Hoài Khanh, Hà Yên Chi v.v... và v.v... (5).
Giá trị văn chương tiền chiến Tự Lực văn đoàn, có cả Lê Văn Trương, (tập một: Nhà văn tiền chiến), tiếp đến giá trị văn chương lửa kháng chiến; sau là hậu chiến. Đọc Bướm Trắng, Nửa Chừng Xuân. Mấy Vần Thơ, Gửi Hương Cho Gió, Vang Bóng Một Thời, Thằng Kình, Ngoại Ô, Giông Tố... không nhìn thấy đầy đủ hình tượng sống cuộc sống hôm nay được thấy trong: Gió Bấc, Truyện Năm Người Thanh Niên, Trên Vỉa Hè Hà Nội, Cánh Hoa Trước Gió, Trại Tân Bồi, Nhìn Xuống, Điệu Đàn Muôn Thuở, Đêm Giã Từ Hà Nội, Sợ Lửa, Rừng Địa Ngục.... Văn nghệ là sản phẩm phản ánh thời đại, nên Kim Vân Kiều có hay đến mức thượng thừa – cũng chưa thể đại diện cho một khoảng thời gian không tiếp nối. Tác phẩm Nguyễn Du mới chỉ nói lên đầy đủ về xã hội phong kiến giao thời mà tác giả Kim Vân Kiều sống – đủ một số điều tương đồng hiện cảnh. Không thể nói đến Kim Vân Kiều là đủ điều tất yếu hình tượng sống lịch sử. Tác phẩm của Karl Marx, S.Freud cũng bị vượt qua, hiện nay vẫn cần khối óc siêu việt Oppeheimer, Einstein, Gandhi, JP Sartre v.v...
Phải hiểu được rằng: lịch sử một nước như lịch sử văn học, luôn theo đà diễn tiến, tiếp nối không ngừng. Nói khác đi, sử học, văn học sử một nước không thể cắt quãng, cũng không tùy thuộc vào lập luận một phe nhóm nào để định giá trị vĩnh viễn. Rất cảm phục lập luận của Vũ Ngọc Phan dẫn trên kia; được gọi văn học sử, phải xét kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến tác phẩm, định rõ liên hệ (chữ dùng: TP) giữa nhà văn này với nhà văn nọ, định rõ phong trào văn học. Càng rõ hơn, được gọi văn học sử, ít ra phải làm được một bộ sách Lịch Sử Văn Chương Ngôn Ngữ Pháp (tạm dịch Histoire des littératures de la langue française) (6) do nhóm chủ trương gồm 209 giáo sư văn học thực hiện bộ sách vĩ đại ấy.
Cảm ơn số bạn giúp tài liệu, ý kiến, khích lệ, động viên, khi tôi khởi sự viết bộ sách này. Như họa sĩ Đinh Cường cởi áo, ngồi xệp trên sàn gác căn nhà trọ cùng tôi chia giúp những trang sách in ronéotypé xếp thành tập vào 1959, ở hẻm nhà thờ Lý Thái Tổ (Chợ Lớn). Uyên Thao mượn cho chiếc máy chữ, có lịch sử sản xuất cùng thời kỳ Tây hạ thành Hà Nội. Nguyễn Quang Tuyến nuôi ăn ở hàng năm, tôi ra thư viện đọc sách. Cùng với nhiều thư tình đầy tâm huyết người - tình - bậc - chị đến từ Hong Kong (nàng gọi Cảng Thơm) khích lệ người - em - bạn - tình miệt mài với chữ và nghĩa. Lại không thể quên bạn vong niên Phan Văn Thức cấp tiền ăn sáng, giấy stencil và thẩm phán Đào Minh Lượng, khi là sinh viên Trường Luật mua bánh mì dùng bữa trưa để tôi ngồi lì ở Thư Viện Quốc Gia làm mọt sách. Cũng không thể quên chịu ơn André Gide, qua cuốn sách viết phê bình về Fédor Dostoievskï (7) và cả Textes philosophiques của V.Biélinsky (8) nữa.


THẾ PHONG

PHẦN THỨ BA
MIỀN NAM: 1954 – 1956 (VIỆT NAM CỘNG HÒA)




CHƯƠNG SÁU

KHÁI QUÁT VỀ CÁC NHÀ VĂN BIÊN KHẢO


Tiết 1 . – NGUYỄN HIẾN LÊ (1911 – 1984)
Tiết 2 . – DUY SINH.
Tiết 3 . – TIỂU MỤC:

1. – NGUYỄN DUY CẦN
2. – TRIỀU SƠN
3. – NGUYỄN NĂNG AN
4. – HOÀNG TRỌNG MIÊN
5. – DIÊN HƯƠNG
6. – BỬU KẾ
7. – THANH NGHỊ
8. – KIÊM ĐẠT
9. – HỒ NAM

Tiết 4 . – KẾT LUẬN VỀ CÁC NHÀ VĂN BIÊN KHẢO.


Hiện tình biên khảo bình diện văn nghệ hôm nay nghèo nàn, hơn cả so sánh với tiền chiến. Ở hậu chiến, không mấy nhà văn biên khảo, dịch thuật, nhất là cây viết phê bình chuyên nghiệp. Nhà phê bình văn học còn sót lại tiền chiến đến nay, lối phê bình quảng cáo điểm sách hàng tuần tắc trách, không nghiên cứu đúng mức; đó là Thượng Sỹ (Nguyễn Đức Long). Ông còn bút danh khác: Huỳnh Bội Hoàng, Hàm Anh. Nói thế, chúng tôi vẫn nhận định được bài giá trị bình văn của ông; nhưng quá ít; chỉ là cái váng mờ ảo. Lúc đầu, tôi cho ông thiếu kiến thức, tâm hồn rung cảm, thiếu trách nhiệm. Bây giờ, ngoài nhận định về ông ở trên, thấy rằng có kiến thức, nhưng thiếu thái độ nên trở thành học - giả - giả. Còn nhà phê bình văn học mới nổi lên; có tâm huyết, có thái độ; kiến thức lại chưa sâu, trong đó kể cả chúng tôi. Và nghiên cứu văn học chưa quy mô, hệ thống hóa vấn đề, chưa đạt được một lời nói là một hành động thì phải kể đến Duy Sinh, Hồ Nam, Kiêm Đạt, nhà văn biên khảo sau không là nhà phê bình văn học.
Không ai có thể chối cãi phê bình văn học quan trọng, nếu có thái độ đúng đắn, không phải như Mark Twain chủ quan cho nhà văn hư hỏng trở thành nhà phê bình văn học. Nếu đúng vậy, làm sao có André Gide với cuốn La nouvelle critique: Dostoievski, (Tạm dịch: Lối phê bình mới về Dos.), Stephan Zweig chung đề tài ấy, mà họ còn là những tiểu thuyết gia Pháp, Đức. Không có V.Biélinsky chưa chắc tài năng Dostọevskï được đưa ra ánh sáng, không có Maxime Gorki với tinh thần phê bình hướng thượng, làm sao khám phá được Maðakowski?. Là nhà phê bình văn học, ngoài kiến thức có; còn phải là nhà văn có tâm hồn, nhà thơ nhạy cảm, có tư thái, độc lập tư duy, cộng công bình không vị nể, thiên vị, thiên tư lập trường can đảm; mới có thể phê bình đúng mức. Đành rằng nhà phê bình không cần là nhà văn, nhà thơ; nhưng nếu thiếu tâm hồn rung cảm, tiếp nhận bén nhạy hòa hợp với kiến thức, thái độ; thì làm sao mà hiểu, cảm nhận được ý nghĩ thầm kín tác giả trong tác phẩm. Tiền chiến, Vũ Ngọc Phan còn là tác giả tập truyện ký Chuyện Hà Nội, Hoài Thanh có tâm hồn, nên xét giá trị Nhà Văn Hiện Đại (4 tập 4 gồm tập thượng và tập hạ) Thi Nhân Việt Nam đến nay còn giúp cho người đi sau nhiều tài liệu. Tôi cho rằng cuốn văn học sử đúng đắn phải tập hợp được một số nhà văn nghệ có tiếng, có lập trường, thái độ, kiến thức hợp soạn mới mong có sách phê bình văn học giá trị. Công việc này chỉ hoàn thành được khi nhóm người ấy tập hợp độc lập ngoài phạm vi kiểm soát chính trị, tóm lại tư thái độc lập toàn diện.


Tiết 1


NGUYỄN HIẾN LÊ (1912 – 1984) (74)

Tiểu sử và tác phẩm :

Dùng tên thật làm bút danh trên các văn phẩm, như tên nhà xuất bản của chính ông. Sinh năm 1912 ở Hà Nội. Học Trường Bưởi Hà Nội, sau theo ngành công chính, vào Nam từ năm 1935. Ngay từ giai đoạn ấy, đến năm 1945, ông có viết sách nhưng chưa xuất bản. Năm 1948 lên Sài Gòn, cho ra mắt tác phẩm: Tổ Chức Công Việc Theo Khoa Học, Tổ Chức Gia Đình, Tổ Chức Công Việc Làm Ăn, Hiệu Năng, Châm Ngôn Của Doanh Nghiệp, Kim Chỉ Nam Của Học Sinh, Để hiểu Văn Phạm, Luyện Văn I, II, Nghệ thuật Nói Trước Công Chúng, Thế Hệ Ngày Mai, Huấn Luyện Tình Cảm, Đắc Nhân Tâm (dịch Canergie) Quẳng Gánh Lo Đi, Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười (bút ký lịch sử) Lịch Sử Thế giới (viết chung với Thiên Giang) Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc (3 tập) viết chung với Giản Chi, Sống 24 Giờ Một Ngày (dịch) Bí Quyết Để Thi Bằng Cấp Trung học (giáo khoa), Đông Kinh Nghĩa Thục (tài liệu sử học) Giúp Chồng Để Thành Công” (dịch), Săn Sóc Cách Nào cho Con Em Mau Tấn Tới,.v.v.
Là nhà văn biên khảo xuất bản nhiều vào bậc nhất, về lượng. Qua những tác phẩm trên, ông viết gần như là bách khoa: giáo khoa, gia đình, văn học, văn nghệ, biên khảo tài liệu lịch sử, triết học… Ở đây chỉ phân tích tác phẩm văn học.

Nhận định phê bình :

Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười, tác giả ghi lại sự kiện lịch sử địa phương, nếp sinh hoạt, phong tục, tính tình, dưới nhỡn quan nhà học giả đúng đắn, có tâm hồn. Giá trị văn chương, không nhiều; nhưng nếu một Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc là bộ biên khảo giá trị, vậy trong tập bút ký kia không là tiêu mục chính để phân tích. Nhà tiểu thuyết phóng sự Phi Vân ghi chép nếp sống nhân văn dân quê miền nam trong Đồng Quê (xem Nhà Văn miền Nam 1945 – 1950) thì cuốn bút ký này giúp chúng ta hiểu thêm quê hương qua phong tục miền Nam.

Luyện Văn I, II có giá trị, song chỉ trong khuôn sách giáo khoa, hướng dẫn thanh niên yêu văn chương, giúp thanh niên có quan niệm căn bản văn học như Phạm Việt Tuyền với Nghệ Thuật Viết Văn, Lữ Hồ với Việt Văn Giản Dị. Với Nguyễn Hiến Lê hiện tại, chúng tôi nhận xét về ông qua bộ sách Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc và Đông Kinh Nghĩa Thục. Tập một, ông cho độc giả thấy rõ diễn tiến của nền văn học khởi thủy cổ nhất Trung Hoa, Tập hai từ đời Đường. Tập 3 từ ngũ đại đến hiện đại. Cuốn biên khảo này là tài liệu công phu giúp ích người tân học, không thể bỏ qua sinh hoạt văn học một quốc gia có lịch sử gắn liền với ta ngay từ thời Bắc thuộc lần thứ nhất, ảnh hưởng đến đời sống chúng ta. Không thể phủ nhận ảnh hưởng văn học, nhân sinh quan Trung Quốc trong văn học và nhân sinh quan Việt Nam. Tài liệu thì nhiều, đành rằng có thể biết qua nhiều tác phẩm các nhà văn hóa Pháp, Nga, viết về đề tài này. Nhưng Nguyễn Hiến Lê cho chúng ta không phải chỉ tài liệu, ông là một học giả uyên thâm Hán, Tây học; phân tích diễn tiến văn hóa qua bản Hán văn lối diễn tả Tây phương, rành mạch, dễ nhập cảm, lĩnh hội. Nói thế, giá trị đã có; công trình khảo cứu cho những ai muốn hiểu văn học Trung Quốc. Phương pháp trình bày giản dị, người đọc ít Hán học có thể hấp thụ dễ dàng.

Tài liệu lịch sử Đông Kinh Nghĩa Thục, nói về cuộc kháng chiến Việt Nam đầu thế kỷ hai mươi. Ông tra cứu nhiều tài liệu mới, tác giả giới thiệu trong sách, có người bạn là: ông Phương Sơ, đảng viên trong Đông Kinh Nghĩa Thục bổ cứu ẩn ức văn học, tư tưởng cách mệnh thời kỳ nô lệ, chưa phơi bày đủ được sự thật của sự thật câm nín). Đọc Đông Kinh Nghĩa Thục hiểu rõ thêm sinh hoạt cách mệnh của Lương Văn Can, Dương Bá Trạc, Phan Bội Châu, Phan Tây Hồ (Phan Chu Trinh), Nguyễn Văn Vĩnh... Với lối viết giản dị, văn trong sáng, bố cục mạch lạc, tài liệu dồi dào; sự nối liên các chương, làm người đọc say mê như đọc truyện. Nghệ thuật biên khảo của ông hay là ở đó.

Nghề Viết Văn giá trị văn học không là mục tiêu ông đặt vào đấy, và chỉ là loại sách Connaissance des métiers hoặc Choisir les carrières (76) ở Pháp nói về nghề văn; in, bán , giao kèo, hợp đồng, mẫu chữ... Đó là sách giải đáp thắc mắc cần thiết cho chuyên đề (quyền lợi, đời sống, tác giả) ông cho người đọc biết thêm hoàn cảnh khe khắt nhà văn về: bệnh tật, nghèo, dằn vặt, cam go... Nghề Viết Văn của ông không giống là Quan Điểm Văn Nghệ Nhân Dân của Hoàng Công Khanh hoặc Văn Học Khái Luận Đặng Thái Mai; gần hơn Văn Nghệ và Phê Bình của Tam Ích; mà chính tiêu đề sách đã trả lời nội dung ra sao.
Nguyễn Hiến Lê, nhà văn biên khảo độc lập, khảo cứu nhiều tác phẩm văn công phu, sử, ký lịch sử giá trị đứng hàng đầu của miền Nam.


Tiết 2


DUY SINH

Tên thật Nguyễn Đức Phúc Khôi. Sinh năm 1935 ở Hà Nội. Trưởng nam nhà văn lão thành Nguyễn Đức Quỳnh. Duy Sinh bước vào nghề văn năm 18 tuổi, bài đầu tiên phê bình sách Nhìn Xuống của Sao Mai; tiếp theo Trời Đã Xế Chiều của bà Vũ Bá Hùng tự Thiếu Mai. Ông viết cho báo Mới, Đời Mới, Giang Sơn, Bạn Dân, Việt Chính, Văn Nghệ Tự Do v.v...
Viết phê bình, sáng tác, phóng sự. Qua nhiều bài phê bình văn học bàn về Sao Mai, Vũ Bá Hùng, Ngọc Giao, Thi Thi Tống Ngọc; ông là nhà phê bình văn học trẻ tuổi có thái độ, lập luận vững, một khi tuy chưa xuất bản tác phẩm nào.
Chống sách được gọi là văn phẩm Đời Cô Nhung, một sản phẩm đọa lạc, con đẻ chế độ phong kiến, thực dân; Duy Sinh phân tích kết luận về Đời Cô Nhung của Văn Thuật:
“... Tác giả mang ra tất cả hành động ô uế, khốn nạn nhất của xã hội, đưa ra bằng những hình ảnh thật khiêu dâm để không giáo dục, không tìm cho họ lối thoát. Tác giả kéo đến năm sáu lần ván tam cúc lục sở do tác giả tổ chức. Không hiểu tác giả giáo dục thế nào mà có thể thở những lời thối nát đến nhứ thế này được.”
“Người có học thức liếc ngang thì ý nhị, tinh tế, kẻ vô học thức liếc ngang thì rõ ra thằng ăn cắp chợ. Cũng là giọng cười, cũng là cái nháy mắt, cũng là cái bấm chí của người học thức thì nó thanh tạo lịch sự mà của kẻ vô học thì sao nó vô duyên, trơ trẽn, tục tằn đểu cáng thế”
Thật có khác gì phân của kẻ có học thì thơm mà phân của kẻ vô học thì thối”...
Bài đầu tiên nhận xét về Sao Mai qua tác phẩm Nhìn Xuống có những đoạn phê bình rất sắc:

“... Sao Mai muốn vượt lên vạch ra những thối nát của trường giả mang nhân vật Phú Uyên điển hình. Sao Mai bế tắc nên nhân vật của ông không lối thoát. Sao Mai chưa gột rửa tiềm thức tiểu tư sản nên Mạnh yếm thế vẫn muốn vươn lên tiểu tư sản để hưởng thụ. Sự ca ngợi của Sao Mai đối với Năng chỉ là một sự kiện ve vãn lao động, chưa hòa đồng thành khẩn nên ở đây Sao Mai không phải chỉ là ca tụng đúng mức...”

Phê bình Bến Nước Ngũ Bồ, kịch Hoàng Công Khanh phán quyết gay gắt:

... “Hoàng Công Khanh trong BNNB không còn là tác giả Về Hồ rồi, Hoàng Công Khanh Hồ Hán rồi. Ta không phủ nhận những vần thơ chải chuốt, lửng lơ mà tình tứ của nhà thi sĩ có tài. Hoàng Công Khanh quả là một thi sĩ có tâm hồn, đạt đến một nghệ thuật cao về phần kịch trường ông đưa ra giản dị quá, ít mâu thuẫn quá. Ở đây là một hoạt cảnh, thì đúng hơn. Từ đầu đến cuối, toàn những đoạn tình tứ giữa tráng sĩ và cô hàng, giữa Đặng Ích và Thị Trinh để dẫn tới một cái kết quả rất lơ lửng giết chết các diễn viên. Hai bố con lão Đồ chết, quán cháy vèo, cặp trai gái ra sông, không biết để làm việc gì”...
Là cây bút có thiện chí phê bình văn học, song cực đoan, ông còn viết một loại chống văn nghệ độc tài trên tuần báo Việt Chính (1955) dưới bút hiệu Duy Nhân. Sự vượt mức về hiểu biết kiến thức, so sánh tư liệu văn sử học như một người hiểu biết đến ngọn nguồn. Từ ghế bộ trưởng chính trị Nga Xô, của Việt Nam, của Trung Hoa; hay đến cả tâm tư thầm kín nhất bạn văn tiền chiến nói với nhau trong lúc cởi mở, Duy Nhân đều biết và luận. Xét thế, tôi cho rằng loại bài Chống Văn Nghệ Độc Tài không là của ông, nếu không nói là của nhà văn tiền chiến Nguyễn Đức Quỳnh. Về sáng tác, ban đầu viết truyện ngắn Tiếng Trống Ngoại Ô (báo Giang Sơn) Đêm Cần Lao (báo Bạn Dân) không đặc sắc. Truyện dài loại đăng trên báo Đời Mới (1954 – 55) chưa hết, phản ánh khắc khoải, suy tư, nếp sống thanh niên thời kỳ kháng chiến.
Kỹ thuật viết hấp dẫn, tiếc rằng nhà văn này chưa phân tích tâm lý sâu sắc, tả cảnh lại quá nhiều, rất kỵ đối với một tác phẩm tiểu thuyết.
Ông viết rất nhiều phóng sự: Đồ Sơn Nguyệt, Huế lụt; Trái Cây Miền Nam, Huế Đặc Biệt, Nhớ Thần Kinh, Ngõ Hẻm Casinô, Nhớ Thủ Đô; Đà Lạt Muôn Màu... nhưng chỉ Nhớ Thần Kinh, Đà Lạt Muôn Mầu giá trị văn chương hơn cả; còn phóng sự khác như là phóng sự làm quảng cáo (nhận tiền khéo léo), ghi địa chỉ rõ ràng một hiệu ăn chẳng hạn, một cách làm quảng cáo từ các hiệu buôn đặt hàng. Nhớ đến André Bourin, nhà viết phóng sự La France en zig zag (tạm dịch: Nước Pháp Trong Chớp Nhoáng) đi vào lòng đất nước, qua Artois, Normandie, De Sologne en Vendée... là phóng sự quê hương đặc sắc vô cùng, từ một giòng, một câu, cả một chữ nức lòng yêu quê hương, đất nước của người Pháp đối với nước Pháp. (77)


Tiết 4


TIỂU MỤC:

I. NGUYỄN DUY CẦN- (1907 – 1988)

Sinh năm 1907 ở Mỹ Tho. Tác phẩm biên khảo triết lý nhân sinh Á đông làm nổi bật vai trò của ông: Thuật Xử Thế Người Xưa (Phạm Văn Tươi, 1953) tái bản nhiều lần, Trang Tử (1956), Cái Dũng Thánh Nhân, Óc Sáng Suốt, Thuật Tư Tưởng, Văn Minh Đông Phương và Tây Phương (1957)... Cuốn sau xuất bản khi tôi viết xong về ông. Trong Thuật Xử Thế Người Xưa gồm sáu chương. Chương một: đề cập đến lòng tự ái, Chương II Chữ Lễ Á Đông; Chương III có tài mà cậy chi tài, Chương IV Ân và Oán, Chương V Đạo cương nhu, Chương VI Biết sống, phần phụ lục; cuốn sách nói về xử thế của Khuất Nguyên. Ông đề cao nếp sống xử thế người xưa, cũng như Đào Trinh Nhất, Nhượng Tống từng làm công việc này. Cái khác giữa ông và người đi trước, ở ông thì bi quan thuần triết, thiếu tính tranh đấu; nhiều mặc cảm tự ty muốn tự vượt mình trong trang sách viết về Trang Tử. Sự mở rộng nghệ thuật xử thế của người xưa thâm nhập, gom góp, tích lũy cho người hôm nay thêm kinh nghiệm là cần thiết, phải là của người viết có tinh thần thoát khỏi cái tôi ích kỷ, nhỏ nhen và cũng đừng đầu độc cái nhỏ nhen riêng cho lớp người tiếp nối vào đời. Qua những cuốn ấy, thái độ của ông, một người duy tâm ảo tưởng, bi quan thuần triết vô duyên cớ; dễ dẫn người đọc chán nản tự tiêu diệt, đành rằng bi quan, bất mãn còn là thái độ dẫn đến tiến bộ.


2. TRIỀU SƠN (1921 – 1954)

Tên thật Bùi Văn Huy. Sinh 1921, mất ở Paris, ngày 12.5.1954. Tác phẩm đã xuất bản: Cờ Đen (kịch thơ) (qua bút danh Ninh Huy), Con Đường Văn Nghệ Mới (tạp luận văn nghệ) (Nxb Minh Tân, Paris 1951). Về kịch, Ninh Huy không vượt hơn người đã viết kịch thơ cùng loại. Truyện dài Nuôi Sẹo chưa viết xong, ông đã từ trần. Buổi sinh thời ông cho rằng đó là một tác phẩm lớn. Con Đường Văn Nghệ Mới chia làm bốn phần, phụ lục, thêm hai tiểu mục, kể lại việc thảo luận với người bạn về luận thuyết văn nghệ, ông bàn qua: tả chân tự nhiên, hiện thực, siêu thực… Phần lý luận đại cương, giải thích sự liên hệ văn nghệ phẩm với xã hội, người văn nghệ đại chúng hóa ngay bản ngã đại chúng hóa văn nghệ sĩ. Tóm lại phần tiểu luận, Triều Sơn chống tháp ngà; văn nghệ vị nghệ thuật, bàn đến cái hay văn nghệ vị nhân sinh. Giữa tình trạng văn nghệ thiếu phần suy luận trước hành động, Triều Sơn qua tác phẩm này, cũng như Hoàng Công Khanh Quan Điểm Văn Nghệ Nhân Dân cần được tiếp nhận.
Triều Sơn đề cao tả chân hiện thực mới, nhưng ông chỉ lý thuyết suông; chưa đưa ra đề tài thảo luận thực tiễn nào, muốn hướng văn nghệ sĩ trở về với đại chúng, mà chưa nói rõ tại sao lại như thế? Nguyên nhân chính của sự mơ hồ hóa là tác giả đã mơ hồ hóa chính ông.


3. NGUYỄN NĂNG AN.

Một Trúc Chi khảo cứu về kinh tế, một Nguyễn Hiến Lê về văn học sử Trung Hoa, một Nguyễn Bảo Hóa về lịch sử Việt Nam, một Trần Minh Tiết dịch tài liệu quân sự lịch sử thế chiến thứ hai, một Nguyễn Năng An góp phần dịch thuật tài liệu chính trị trong bộ: Art de commander psychologie de l’autorité” ra Việt ngữ, thành Nghệ Thuật Cầm Quyền” (2 tập, 1950). Bản Việt hóa của ông thoát, hành văn nhẹ nhàng, giản dị, vẫn lột tả được nguyên tác. Tác giả, một giáo sư triết học Pháp chuyên khảo cứu về tâm lý học theo phương pháp khoa học.


4. HOÀNG TRỌNG MIÊN (1918 – 198?)

Sinh 1918 ở Huế, chết năm 198? ở Sài Gòn. Viết văn trước tiền chiến, bắt đầu truyện ngắn đăng trên báo Tinh Hoa. Tác phẩm chính: Một Giấc Mơ Ghê Gớm (tiểu thuyết Sài Gòn – 1939), Việt Nam Văn Học Toàn Thư (Sài Gòn 1959), Thơ Xanh ký Hoàng Trọng Miên. Còn là tác giả vở kịch “Dưới Bóng Thánh Giá”. Về Thành, chủ trương báo Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Thời Trân, Thời Báo, Cải Tạo loại mới... Tác phẩm đã xuất bản: “Chỉ Vì Yêu” (truyện dịch) đăng trên tuần báo Đời Mới, Người Nữ Cứu Thương; ông còn dịch kịch Les mains sales (Bàn Tay Bẩn) của J.P.Sartre. Vở kịch này đăng dở dang trên báo Bông Lúa. Dịch cuốn Nghệ Thuật Sống (L’art de vie của André–Maurois (Phạm Văn Tươi xuất bản, tái bản nhiều lần). Hoàng Trọng Miên chuyên về ngành kịch, cho diễn vở Hamlet trên đài, vô tuyến (ban kịch Lan Đình). Là nhà văn dịch có kiến thức, dịch thoát, Chỉ Vì Yêu, tác phẩm phỏng dịch đúng hơn là phóng tác có giá trị văn chương. Riêng cuốn Việt Nam Văn Học Toàn Thư (2 tập, do Văn Hóa Vụ tài trợ và ấn hành), Tam Ích viết tựa, được coi là vụ đạo văn lớn nhất vào những năm 1960 ở Sài Gòn. Ông đã sao chép gần như nguyên bản Lược Khảo về Thần Thoại của Nguyễn Đổng Chi, xuất bản ở Hà Nội, bị tạp chí Văn Hóa Á Châu, nguyệt san Sinh Lực phanh phui. (79)


5. DIÊN HƯƠNG: (1898-1943) .

Tên thật Trần Ngọc Án, tác giả Thành Ngữ Điển Tích (I và II) Thi Pháp (1950)... Cuốn Thi Pháp, biên khảo công phu, bàn về bút pháp thi ca, giúp người đọc hiểu rõ thêm về các thể làm thơ, góp vào loại sách tìm hiểu văn học. Không là nhà văn biên khảo có tâm hồn, thơ nhạy cảm, nên Thi Pháp không minh chứng được thế nào là thơ hay. Giá trị vẫn chỉ đuợc kể qua Thành Ngữ Điển Tích.


6. BỬU KẾ: (1913-1984).

Nhà văn biên khảo này viết nhiều truyện ngắn.Từ năm 1948, ông cho truyện đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy cùng với Nguyễn Minh Lang, Quốc Ấn. Các truyện ngắn của ông: Cái Nhà Của Ông Chủ Tịch, Sức Mạnh Loài Người, Mê Sách, Xuyên Tác, Cái Nạn Rắp Pen, Đổi Thay, Ngọn Đèn Khuya... Truyện ngắn không đặc sắc, duy lý, khô khan, châm biếm xấu xa hoạt cảnh xã hội thời ấy, đúng ra là phóng sư hoạt kê. Sau cho xuất bản truyện dịch Thằng Người Gỗ, Tầm Nguyên Từ Điển. Truyện dịch hay, tự điển công phu dầy công khảo cứu.


7. THANH NGHỊ. (1917 qua đời sau 1975 ở Sài Gòn)

Tên thật Hoàng Trọng Quy, anh ruột của Hoàng Trọng Miên. Sinh 1917 ở Huế, qua đời ở Sài Gòn 1989. Học ở Huế, đậu Tú tài I xong ở nhà học thêm Anh văn. Năm 1938, dùng bút hiệu Thanh Nghị, chủ bút báo Trong Khuê Phòng, trợ bút báo Asie Nouvelle. Năm 1952 xuất bản: Việt Nam Tân Tự Điển. Nói đến nhà làm tự điển có tiếng, phải kể đến Đào Đăng Vỹ, Đào Văn Tập, Đào Duy Anh, Thanh Nghị. Ông là tác giả nhiều từ điển Pháp Việt - Việt Pháp, Anh – Pháp – Việt, Việt Nam Tân Từ Điển, (minh họa) rất giá trị.


8. KIÊM ĐẠT.

Tên thật Trần Kiêm Đạt. Sinh 1933 ở Thừa Thiên. Rời khỏi Trung học Khải Định, ông đi dạy học, viết báo. Viết cho các báo Đời Mới, Việt Chính, Thời Đại v.v... Tác phẩm biên khảo đã xuất bản Nếp Sống Việt (1955) Tiếng Việt Mến Yêu (1956); Khái Luận Về Thơ Mới (1956) Tìm Hiểu Thơ Tự Do (1956, viết với ba người khác), Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (Người Việt Tự Do 1956), Để Hiểu Văn Học (Thế Giới 1956) v.v... nhiều sách giáo khoa văn học khác. Sách đã xuất bản chứng tỏ là người ham hoạt động văn học, song những tập sách in ra đều giản lược vấn đề. Khái Luận Về Thơ Mới chưa xong tập thứ nhất, chưa giải quyết xong một vấn đề nào, ông lại quay sang cộng tác với người khác bàn về thơ tự do. Tiếp theo, ông lại cùng hai người khác viết về Tản Đà. Tác phẩm biên khảo của Kiêm Đạt lượng nhiều, phẩm ít, giá trị mong manh.


9. HỒ NAM.

Tên thật Lê Nguyên Ngư. Sinh năm 1930 ở Bắc Ninh, học Trường chuyên khoa tư thục Hàn Thuyên, sau theo học Năng Lực Luật (Hà Nội). Viết cho các giai phẩm Hồng Hà, Lửa Mới, báo Tia Sáng, Thời Trân, Phương Đông, Quê Hương, Đổi Mới, Việt Chính, Thời Đại, Ngôn Luận, Tân Kỷ Nguyên, Văn Nghệ Tập San v.v... Một Kiêm Đạt ham hoạt động in sách khảo luận mỏng như Tìm Hiểu Thơ Tự Do, Tagore v.v... thì sách khảo luận Hồ Nam tương tự. Là người ham hoạt động trên báo chí, viết nhiều loại: điểm sách, phê bình văn nghệ, làm thơ (ký Vương Tân), truyện dài, ngắn... Về địa vị phê bình văn học, lập trường chưa xác định, trình độ thấp, chưa có thái độ, tư thái riêng nên viết bình văn học nông cạn. Tuy nhiên ông có thiện chí, đặt hẳn mình vào phận làm văn nghệ sống bằng nghề cầm bút. Thơ chưa có bản sắc, chắp vá, mượn rung cảm, ít sống với rung cảm bản thân. Bước đầu, tất cả chỉ là thể nghiệm. Có thể là một nhà thơ nổi tiếng, ở bộ môn thơ Hồ Nam có khả năng hơn hết .


Tiết 4

KẾT LUẬN VỀ NHÀ VĂN BIÊN KHẢO


Tiết mở đầu bàn về nhà văn biên khảo:

Chắp tay nguyện cầu có lớp nhà văn biên khảo mới, tinh thần mới, kiến thức sâu, có tri thức, tâm hồn, đủ tài năng giải tỏa tình trạng bế tắc về sách biên khảo văn học. Duy Sinh, Hồ Nam, Kiêm Đạt như nhiều Duy Sinh, Hồ Nam nữa; mới có thể hoàn nhiệm công việc phê bình văn học ở tương lai. Thí dụ, có một bạn ngoại quốc đến với chúng ta, giả dụ hỏi rằng: “Lịch sử văn nghệ nước anh, dù sơ lược; căn cứ vào những tác phẩm, tác giả nào?” Có thể nào, từ chối rằng không có? Hoặc tác phẩm nào điển hình bạn sẽ trả lời sao? Khi chưa thể căn cứ vào việc phê bình văn học của một tập hợp ăn ý đánh giá đúng mức số anh em văn nghệ đồng ý với nhau trên bút mực được. Với chính tôi rất ít tham vọng, không kiêu căng; không hoàn toàn dốt, hèn nhát. Tôi chờ mong tất cả lời phê người đi trước, đồng hành, lớp sau về bộ sách này.


Kết luận về nhà văn biên khảo, dịch thuật :

Trương Bảo Sơn dịch Léon Tolstoi qua Tình Nghĩa Vợ Chồng, Đào Đăng Vỹ dịch Khúc Nhạc Đồng Quê của André Gide và trước đó La Porte Étroite (Cửa Hẹp), Thanh Ngọc Tuyền qua Tản Văn Ba Kim, đến Mặc Đỗ giới thiệu nền văn chương Mỹ dịch tiểu thuyết Scott Fitzgerald, với Đỗ Khánh Hoan dịch văn chương Anh, Giản Chi với lịch sử triết văn Trung Quốc, Nghiêm Kể Tổ với Việt Nam Máu Lửa sử liệu dồi dào. Riêng sử gia Nghiêm Kế Tổ mang nhiều tính chất chủ quan, đề cao đảng phái bạn (VNQDĐ), thiếu khách quan cần thiết là sử gia đứng đắn, không thiên vị. Chuyện văn học nước nhà thì không biết, phải nhờ hàng xóm cách xa biển rộng sông dài nói lại, rồi mới chịu tin là đúng hay sao?


Sài Gòn – Chợ Lớn, cuối tháng Chín 1957.













© tác giả giữ bản quyền.
.tải đăng theo nguyên bản của tác giả gởi Newvietart.com ngày 01.10.2008.


. Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com