VICTOR HUGO,
nhà thơ lớn của nước Pháp và Thế Giới



HUYỀN VIÊM



Nước Pháp là một quốc gia có nền văn học lâu đời và rực rỡ. Đầu thế kỷ XIX, một ngôi sao sáng bỗng xuất hiện trên nền trời văn học Pháp : đại văn hào, đại thi hào, đại kịch tác gia VICTOR HUGO, và cũng là viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp. Ông đã có công rất lớn là góp phần làm cho nền văn học Pháp thế kỷ XIX trở nên vô cùng rực rỡ. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ xin nói đến Victor Hugo nhà thơ lớn, “một nhà thơ mà đa dạng như nhiều nhà thơ gộp lại”.

Romain Rolland – một nhà văn Cộng sản – đã đánh giá :”Trong tất cả mọi vinh quang của văn học và nghệ thuật, cái vinh quang của HUGO là duy nhất sống trong trái tim quần chúng nhân dân Pháp”.

Thơ ông thật bao la, thật mênh mông. Ông viết về mọi đề tài mà nổi bật hơn cả là tình yêu tổ quốc, sự bênh vực công lý và nền dân chủ, tình yêu nhân loại, lòng xót thương những kẻ bất hạnh, tình yêu mến gia đình, yêu thiên nhiên tạo vật….. Ông còn là một nhà thơ lãng mạn và tác giả những thiên anh hùng ca bất hủ :


Tâm hồn tôi có ngàn giọng ngân nga đặt giữa đất trời
Như một trung tâm biết vang động với bồi hồi….


Tình yêu tổ quốc và yêu nền dân chủ của ông thật mãnh liệt. Ngày 2 tháng 12 năm 1851, Louis Bonaparte làm cuộc đảo chính lật đổ nền Đệ nhị cộng hòa Pháp, giải tán quốc hội, tái lập đế chế rồi tự phong làm vua tức Napoléon Đệ tam. Hugo cực lực chống lại việc phục hồi đế chế ấy. Sau cuộc đảo chính, ông bị truy nã ráo riết phải chạy sang Bỉ, ra đảo Jersey rồi đến ở hẳn đảo Guernesey. Trong thời gian này (1853) ông đã viết tập thơ “Trừng phạt” (Les Châtiments) gồm 100 bài thơ, hơn 7000 câu trong vài ba tháng. Chính ông cũng kinh ngạc trước sự sáng tác nhanh và nhiều như vậy. Tập thơ bị cấm, nhưng người ta cũng có cách để phổ biến : nhét thơ “Trừng phạt” vào trong bụng rỗng của những bức tượng Napoléon Đệ tam rồi đưa vào đất Pháp. Đã là tượng vua thì còn ai dám khám xét nữa, thế là trót lọt. Trong tập thơ này có bài “Tấm áo hoàng bào” (Le manteau impérial) thật thú vị : Napoléon III sai thêu trên áo hoàng bào của y những con ong thì ông kêu gọi những con ong ấy bay ra mà đốt, mà đánh đuổi tên cướp quyền phản bội :


Các ngươi hãy ào ra đốt thằng thảm hại,
Ôi những nữ binh, những cô thợ hào hùng !
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Và cả đàn ong hãy châm hắn cùng một lúc,
Dân chúng đang còn run, hãy làm cho thấy nhục…


Khi có lệnh ân xá, ông cũng nhất định không chịu về nước vì đã thề không đội trời chung với tên vua phản bội Napoléon III. Ông viết rằng nếu ở nước Pháp chỉ còn có một người chống Napoléon III thì người đó chính là ông :

Nếu còn lại một nghìn thôi, tôi ở trong số đó,
Nếu còn lại một trăm, tôi vẫn chống địch không rời.
Nếu còn lại mười người, tôi là người cuối sổ,
Và nếu chỉ một người còn đứng đó – ấy là tôi.


Tình yêu nhân loại, lòng xót thương những kẻ bất hạnh của ông cũng thật mênh mông tha thiết, nói khác đi, đó cũng chính là lòng nhân đạo. Những vần thơ nói về cái chết của người thủy thủ có bóng dáng những nấm mồ vô danh rải rác trên trái đất mà nỗi cô đơn làm se lòng những người đa cảm :

Chốn nghĩa trang chật hẹp, nơi tiếng vọng âm vang,
Chẳng một nhánh liễu xanh vào mùa thu trút lá,
Không một khúc hát ngây thơ, buồn bã
Góc cầu xưa, người hành khất vẫn thường ca.

(Biển đêm – Oceano Nox)


Những người thủy thủ ấy khi ra đi vui sướng biết bao, cảnh biển rộng mênh mông và những chân trời xa lạ khiến họ nức lòng, có biết đâu tai ương đang chờ họ :


Ôi ! Biết bao thuyền viên, thuyền trưởng
Buổi ra đi vui sướng đường xa.
Cuối chân trời u ám đã thành ma !
Đã biến mất, đớn đau số phận !

(Biển đêm - Oceano Nox)


Nhìn những người thản nhiên đi đến pháp trường để nhận lấy cái chết hàng loạt một cách thật vô lý, trong đó có các cô gái, trẻ em và những người già, ông xót thương vô hạn :

Các cô gái kia phải đi hái hoa hồng,
Cháu bé phải đùa chơi nắng ấm,
Mùa đông của cụ già phải hòa hợp với mặt trời,
Các tâm hồn ấy phải như các lẵng hoa
Đầy hương, đầy tiếng ong lao xao…

(Những người bị xử bắn – Les fusillés)


Tình yêu gia đình của ông cũng thiết tha không kém. Trong tập thơ “Chiêm ngưỡng” (Les contemplations) ông có những bài thơ khóc thương con gái yêu là Léopoldine cùng chồng là Charles Vacquerie ngộ nạn chết đuối trên sông Seine tại Villequier ngày 4-9-1843. chỉ mới bảy tháng sau ngày cưới và nàng mới có 18 tuổi :

Giờ đây mang nỗi bình yên u ẩn
Tôi có thể đến thăm
Nhìn tận mắt nấm mồ trong bóng sẫm
Nơi vĩnh viễn con nằm.

Rồi ông trách thượng đế :

Và Người cũng thấy tôi được vui ít ỏi,
Thế mà lấy mất con tôi sao quá vội vàng !

(Gửi Villequier – A Villequier)


Về già, sống trong cảnh quạnh hiu vì vợ và các con ông đều mất trước ông, ông chỉ còn biết vui chơi với hai cháu nội. Trong tập thơ “Nghệ thuật làm ông” (L’art d’être grand-père), hai cháu ông là Georges và Jeanne, một trai một gái, được nhắc tới như kẻ dẫn đường và ánh thái dương :

Tôi lấy một đứa làm kẻ dẫn đường
Và đứa kia làm ánh thái dương,
Nghe tiếng chúng là tôi chạy tới.

(Hai cháu của tôi – Georges et Jeanne)


Ông yêu thiên nhiên tạo vật một cách say mê. Đối với ông, tạo vật dường như cũng có tâm hồn, biết cảm nghĩ, biết suy tưởng, tạo vật rất hữu tình nên cảm thông được với con người, nhất là người mến yêu thiên nhiên tạo vật ; nhưng đôi khi tạo vật cũng tỏ ra vô tình, hờ hững, nhất là đối với người đã khuất :

Trời đất chỉ cho ta mượn trong một lúc
Bãi cỏ, cánh rừng, suối nước, lùm cây.
Mượn trời biếc, hồ xanh và nội lục
Đặng đặt trái tim ta vào với mộng thắm tình ngây
Rồi đòi lại….

(Nỗi buồn của Olympio – Tristesse d’Olympio)


Với cái nhìn tươi tắn và độc đáo về thiên nhiên, ông để cho bông cúc trắng nói với mặt trời, “đóa hoa của bao la xán lạn” :

Một bông cúc trắng nở tròn đài tinh khiết,
Đóa hoa nhỏ chăm chắm nhìn khoảng xanh bất diệt
Nói với vầng dương to có ánh tỏa muôn đời :
-“Tôi, tôi cũng có những tia sáng đấy thôi”.


Victor Hugo không chỉ là một nhà thơ lãng mạn mà còn là thủ lĩnh của thi phái lãng mạn (Romantisme) lúc bấy giờ. Tả cảnh mặt trời lặn, ông viết :

….. Hay tia sáng vỗ giữa trời xanh
Đập vào mây như đảo bồng bềnh.
. . . . . . . . . . . . . . .
Mặt trời qua mây còn chói rạng,
Đôi khi chiếu một mái nhà tranh
Biến thành chóp cung điện mong manh…

(Mặt trời lặn – Soleils couchants)


Viết về tình yêu, ông có những câu thơ say đắm :

Vì anh nghe giọng em thầm thĩ
Trái tim em huyền diệu bao lời.
Vì anh thấy nụ cười và ngấn lệ,
Mắt anh trong mắt em và môi chạm vào môi.

(Vì ta đã kề môi – Puisque j’ai mis ma lèvre à ta coupe)


Khi hoa yêu bướm và sợ bướm bay đi không bao giờ trở lại, hoa đã tha thiết cầu xin :

Nếu chàng muốn ta mãi bên nhau trọn đời mơ ước
Hoàng tử huy hoàng
Hãy đâm rễ như em, hay cho em có được
Đôi cánh như chàng.

(Hoa và bướm – Fleur et papillon)


Về thể loại anh hùng ca trong văn học Pháp, khó có ai thành công được như ông với tập thơ “Truyền thuyết những thế kỷ” (La légende des siècles) trong đó có những bài như “Lương tâm” (La conscience) kể chuyện Cain giết em ruột là Abel (cả hai đều là con của Adam và Eva) rồi bị lương tâm cắn rứt (*), bài “Booz ngủ” (Booz endormi), “Chuyện hôn nhân của Roland” (Le mariage de Roland), “Sau trận đánh” (Après la bataille).
Bài thơ “Sau trận đánh” nói lên lòng nhân từ độ lượng của thân phụ Hugo, một viên tướng oai dũng nhưng có nụ cười hiền hậu. Ông kể :

Sau một trận đánh ác liệt giữa quân Pháp và quân Tây Ban Nha, Pháp đại thắng. Buổi chiều, khi cuộc chiến đã kết thúc, cha tôi cưỡi ngựa đi quan sát trận địa, theo sau là một người lính hầu trung dũng. Một tên lính Tây Ban Nha bị thương nặng, đang nằm rên rỉ, cầu xin một hớp nước vì khát quá. Cha tôi tháo bình rượu sau yên trao cho người lính hầu. Trong khi người này cúi xuống cho hắn uống thì hắn rút súng nhắm trán cha tôi bóp cò. Viên đạn sượt qua mang tai, bắn tung chiếc mũ, nhưng cha tôi vẫn bình tĩnh bảo người lính hầu :”Con cứ cho hắn uống”.

…. Một tên lính Tây Ban Nha thuộc đám bại quân
Nằm rên rỉ, máu đầy người bê bết
Mặt tái nhợt như chỉ còn đợi chết :
“Cho tôi xin…. hớp nước…. làm ơn !”
Cha tôi mủi lòng nhìn kẻ bị thương
Tháo bình rượu sau yên
trao người lính hầu trung dũng
Và bảo :”Ngươi cầm lấy, rót cho hắn uống”.
Trong lúc người cận vệ nghiêng mình
Đưa bình rượu…. Tên bại binh
Thình lình giơ súng lên quyết liệt
Nhắm trán cha tôi hét to :” Mày phải chết !”
Viên đạn bay quá gần làm chiếc mũ bắn tung
Và con ngựa nhảy lui một bước hãi hùng,
Cha tôi nói :”Ngươi cứ cho hắn uống”.
18-6-1850

Khương Hữu Dụng dịch


Những bài thơ trên đây là những thi phẩm tuyệt tác hướng con người đến cái thiện, cái mỹ, hay nói khác đi là vươn tới ánh sáng.

♣♣♣

Ngày 22-5-1885, nhà thơ lớn Victor Hugo rời bỏ cõi trần, hưởng thọ 83 tuổi (Ông sinh ngày 26-2-1802). Chính phủ Pháp quyết định làm lễ quốc táng.


Thi hài ông được đặt dưới Khải Hoàn môn Ngôi Sao và sau đó đưa về điện Panthéon, nơi yên nghỉ nghìn thu của những bậc vĩ nhân có công với tổ quốc.

Ngày nay không ai không công nhận Victor Hugo là nhà thơ lớn nhất của nước Pháp và là một trong những nhà thơ lớn nhất của thế giới. Ngay cả André Maurois, một văn hào nổi tiếng của Pháp ở thế kỷ XX và là viện sĩ viện Hàn lâm Pháp cũng đã phải nói :”Suốt cả đời tôi, không lúc nào là tôi không yêu thích Hugo”. Còn nhà thơ Leconte de Lisle, người thay Hugo giữ ghế trong viện Hàn lâm Pháp đã nói về ông trong diễn văn lúc được bầu vào viện như sau :”Cả cuộc đời ông là một khúc ca đa dạng và vang ngân, trong đó mọi say đắm, mọi thân thương, mọi xúc cảm, mọi nỗi giận đầy độ lượng đã từng lay động, cảm kích tâm hồn con người trong thế kỷ này (thế kỷ 19), họ đã tìm thấy nơi ông một sự diễn tả huy hoàng rực rỡ”.


_______________________________________


(*) Theo thánh kinh, tổ tiên của loài người – ông Adam và bà Eva – có hai con trai là Caïn và Abel. Do lòng ganh tị vì Abel được Trời yêu thích hơn mình nên Caïn đã giết em. Nhưng từ đó, đi đâu Caïn cũng thấy con mắt trừng trừng nhìn vào mặt mình và vang lên bên tai câu hỏi của Trời :”Ngươi giết Abel, tại sao ?”






© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải ngày 12.09.2008 theo nguyên bản của tác giả .
. trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com