BIÊN DỊCH



TÁC PHẨM
TÁC GIẢ




TỪ VŨ

Từ Vũ là bút hiệu và cũng là tên thật.

Sinh năm 1945 tại Bắc Việt .

Đi học tại HàNội .

Theo gia đình di cư vào Nam năm 1953 .

Đi học : Bá Ninh, Lê Qúy Đôn NhaTrang, Trần Hưng Đạo Đà Lạt, Tabert , Nguyễn Bá Tòng, Lê Bảo Tịnh, Trường Sơn Sàigòn...


Đi lính .

Vượt biên năm 1979 và định cư tại Pháp.

Làm việc với tư cách một Giám Đốc cho các công ty sản xuất kỹ nghệ của người Pháp như Weber & Broutin - Lafarge - Allia - Allibert & Sommer....

Làm thơ , viết văn tài tử từ thời đi học và đăng tải trong các nhật báo, tuần báo tại Sàigon trước năm 1975 dưới rất nhiều bút hiệu khác nhau.





THƠ

* NHÌN LẠI TRƯỜNG XƯA

*ĐỌC THƯ EM GỞI

*CHO CUỘC TÌNH LỠ

* MỘT MÌNH





ĐOẢN VĂN

LÃNG ĐÃNG TẠI PHI TRƯỜNG ĐÀI BẮC





BIÊN DỊCH

JEAN JACQUES ROUSSEAU 1


JEAN JACQUES ROUSSEAU 2


WILLIAM FAULKNER


FRIEDRICH NIETZSCHE


JEAN JACQUES ROUSSEAU 3


JEAN JACQUES ROUSSEAU 4


LILI MARLEEN

J.JACQUES ROUSSEAU 5

GIẤC MƠ CỦA MỘT MÙA ĐÔNG

J.JACQUES ROUSSEAU
- PHẦN KẾT -


CHUYỆN KỂ VỀ HUYỀN THOẠI JACKIE KENNEDY

ĐỌC ÂM THANH
VÀ CUỒNG NỘ


ARTHUR RIMBAUD

NIKOS KAZANTZAKI

PAUL VERLAINE

SELMA LAGERLÖF

ERICH MARIA REMARQUE

GUILLAUME APOLLINAIRE














































GUILLAUME APOLLINAIRE
(1880 - 1918)
THI SĨ PHÁP


Tên thật là Wilhem Apollinaris de Kostrowitzky, sinh ngày 26 tháng 8 năm 1880 tại Rome , nước Ý .
Mẹ ông , Angelica Kostrowitzky, người đàn bà trẻ 22 tuổi dòng dõi qúy tộc Ba Lan, có thêm một cậu con trai khác nữa, Albert, với một sĩ quan quân đội Ý , Francesco Fulgi d’Aspremont, nhưng người đàn ông này đã không nhìn nhận cả 2 cậu bé là con của mình.

. 1885, Francesci Fulgi d’Aspremont bỏ rơi cô Angelica Kostrowitzki. Bà mẹ trẻ này đã can đảm cùng với 2 con trai Guillaume và Albert dời sang cư trú tại Monaco .

. 1890, tại trường Trung học Saint-Charles ở Monaco cậu bé Guillaume Apollinaris học rất giỏi. Trong thời kỳ này cậu học trò cũng đã tự khai tâm cho mình về những huyền thoại Hy Lạp và huyền thoại thời Trung đại.

. 1897, Guillaume theo học rất xuất sắc tại Nice nhưng cậu lại không tiếp tục thi Tú Tài mà bỏ học để khởi đầu cho những sáng tác về văn chương.

. 1899, Angelica Kostrowitzki và 2 cậu con trai về Paris, thủ đô Pháp. Thời gian đầu tiên họ đã phải thật vất vả để có thể hội nhập được vào cuộc sống tại đây. Guillaume tự ghi tên mình trong bản kiểm kê dân số tại tòa thị sảnh như một người nước ngoài, làm nhiều nghề khác nhau để mưu sinh. Thời gian này, Guillaume gặp và yêu cô Linda Molina da Silva nhưng tình yêu của cậu đã không được đáp ứng lại, đây cũng sẽ là một trong những sự "ổn định" trong cuộc đời nhà thơ : thường trực khao khát yêu rồi cũng rất thường xuyên bị ruồng đuổi, khước từ.

. 1901, nhờ may mắn, G.Apollinaire được tuyển dụng vào chức vụ gia sư dạy Pháp văn cho một cô gái quý tộc, Gabrielle de Milhau. Mẹ cô học trò, bà nữ công tức De Milhau, người gốc Đức, cùng cô con gái đi Rhénanie (Đức), bà dẫn theo một cô quản gia người Anh, Annie Playden và người gia sư trẻ G.Apollinaire đã đem lòng yêu thương cô quản gia này. Nhưng buồn thay, cô không cảm nhận được ở anh chàng trai Ý, một tình yêu lý tưởng, kết qủa nhà thơ trẻ cũng lại bị xua đuổi . Kinh nghiệm của cuộc tình này đã cho phép Guillaume viết một vài bài thơ tuyệt vời như bài La Chanson du Mal-Aimé, bài thơ xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1909 và sau đó trong thi tập Alcools (xuất bản năm 1913) :

LA CHANSON DU MAL AIME

( 3 đoạn thơ đầu tiên )

Un soir de demi-brume à Londres
Un voyou qui ressemblait à
Mon amour vint à ma rencontre
Et le regard qu'il me jeta
Me fit baisser les yeux de honte

Je suivis ce mauvais garçon
Qui sifflotait mains dans les poches
Nous semblions entre les maisons
Onde ouverte de la mer Rouge
Lui les Hébreux moi Pharaon

Qui tombent ces vagues de briques
Si tu ne fus pas bien aimée
Je suis le souverain d'Egypte
Sa sœur-épouse son armée
Si tu n'es pas l'amour unique

............................

Chuyến lưu ngụ tại Đức bên cạnh bờ sông Rhin cùng những chuyện thần thoại Đức cũng cho nhà thơ nguồn cảm hứng để sáng tác 9 bài thơ, đề cập tới vùng Rhénanes ,tập trung trong thi tập Alcools. Trong năm 1901 này, Guillaume cho đăng 3 bài thơ dưới bút hiệu Wilhem de Kostrowitzky.

. Tháng 2 năm 1902, Guillaume đi lang thang khắp nước Đức, Áo...

. 1903, trở về Paris . Để mưu sinh chàng thi sĩ G.Apollinaire đã làm việc trong một ngân hàng cùng lúc đó cộng tác với nhiều tờ báo văn chương trước khi trở thành chủ biên hai tạp chí : tạp chí thứ nhất chuyên về vấn đề đầu cơ vào nghiệp vụ giao dịch chứng khoán và tạp chí thứ hai chẳng dính líu gì đến tạp chí thứ, Festin d'Europe (1903-1904), tạp chí chuyên chú vào thơ ca, cũng trong tờ tạp chí này, Guillaume cho ra mắt Enchanteur Pourrissant, tác phẩm bằng văn xuôi, ấn bản thứ nhất. Guillaume cũng cho đăng tải những thi phẩm khác và kết bạn với những văn nghệ sĩ như Alfred Jarry, André Salmon, André Billy et Max Jacob, tất cả đều thân mật gọi Guillaume bằng tên «Kostro». Cũng để thỏa mãn cho nhu cầu tài chánh cần thiết cho đời sống thường nhật và sở thích về "văn chương tự do", G.Apollinaire biên soạn những truyện khiêu dâm xuất bản lậu như Les Onze Mille Verges - 1906 hay Les Exploits d'un Jeune Don Juan- 1911.

. Tháng 4 năm 1905, trong tạp chí Revue Immoraliste, Apollinaire lưu ý độc gỉa về tài nghệ của một họa sĩ trẻ người Tây Ban Nha vừa đến khu Montmartre, Pablo Picasso. Guillaume cũng lại chính là người đầu tiên ca ngợi nghệ thuật hồn nhiên (Art Naïf) của Douanier Rousseau, đề cập một cách thán phục về Matisse, viết bài tựa cho cuộc triển lãm đầu tiên của Georges Braque và du lịch Anh cùng với Picabia.
Tụ họp cùng các bạn thơ tại Bateau-Lavoir và Le Lapin Agile , tham dự với Picasso (1881-1973) và thi họa sĩ Max Jacob (1876-1944) trong công cuộc thai nghén một lý thuyết nghệ thuật mới, " le cubisme " - trường phái lập thể , với chủ trương đặc quyền cho thần cảm trừu tượng quy củ theo hình học mà không mô tả theo thực tại - (les Peintres Cubistes, 1913) . Derain minh họa bài Enchanteur Pourrissant, Dufy vẽ le Bestiaire, Metzinger và Chirico vẽ chân dung Apollinaire. Trong khi chờ đợi thời cơ, G.Apollinaire vẫn làm việc tại ngân hàng và tiếp tục xuất bản những truyện khiêu dâm bán lậu. Những việc làm đó đã cho phép Guillame thực hiện 2 vai trò chính là phê bình nghệ thuật và làm thơ để tự khẳng định vị trí một người cầm bút tiên phong.

. 1907, nhờ Picasso mà Apollinaire gặp, yêu tác phẩm và yêu luôn tác gỉa : cô Marie Lauchin, một nữ họa sĩ chuyên vẽ tranh thủy mạc, mối tình đam mê của hai người đã kéo dài cho đến năm 1912.

MARIE

Vous y dansiez petite fille
Y danserez-vous mère-grand
C'est la maclotte qui sautille
Toutes les cloches sonneront
Quand donc reviendrez-vous Marie
Les masques sont silencieux
Et la musique est si lointaine
Qu'elle semble venir des cieux
Oui je veux vous aimer mais vous aimer à peine
Et mon mal est délicieux
Les brebis s'en vont dans la neige
Flocons de laine et ceux d'argent
Des soldats passent et que n'ai-je
Un cœur moi ce cœur changeant
Changeant et puis encor que sais-je
Sais-je où s'en iront tes cheveux
Crépus comme mer qui moutonne
Sais-je où s'en iront tes cheveux
Et tes mains feuilles d'automne
Qui jonchent aussi nos aveux
Je passais au bord de la Seine
Un livre ancien sous le bras
Le fleuve est pareil à ma peine
Il s'écoule et ne tarit pas
Quand donc finira la semaine

Tranh Vẽ của Marie Lauchin - Từ trái sang phải : Pablo Picasso, Fernande Olivier, Guillaume Apollinaire và Marie Laurencin)



. 1908, trong tờ La Phalange, xuất hiện Onirocritique và nguyên thủy của tập Bestiaire sau này. G.Apollinaire thuyết trình về thơ tượng trưng tại phòng tiếp tân của những nghệ sĩ độc lập và viết lời mở đầu cho quyển liệt kê mục lục cho cuộc triển lãm của Cercle de l'Art Moderne tại le Havre với tựa đề Les Trois Vertus Plastiques.

. 1909, khởi đầu cho sự hợp tác của Apollinaire với các tạp chí L'Intransigeant và Mercure de France với vai trò phê bình nghệ thuật . Apollinaire cũng viết những bài phê bình văn chương của nữ giới và những bài thơ với bút hiệu Louise Lalanne.
Tháng 11, xuất bản thi tập Enchanteur Pourrissant, minh họa bởi Derain cùng lúc Apollinaire cho xuất bản những cuốn sách "trụy lạc" trong bộ sách sưu tập Maîtres de l'Amour và thiết lập những hợp tuyển về văn chương khiêu dâm với những tác gỉa như Arénin, Sade (bị kiểm duyệt hoàn toàn), Nerciat và Mirabeau.

. 1910, Apollinaire xuất bản l'Hérésiarque et Cie, tập 16 truyện hoang đường tuyệt vời với giọng điệu thật hư ảo.

. 1911, xuất bản tập những bài thơ ngắn Bestiaire hay là Cortège d'Orphée minh họa bởi Raoul Dufy với những bản khắc trên gỗ vào tháng 3. Ngày 7 tháng 9, bị buộc tội tòng phạm trong một vụ ăn cắp, Apollinaire bị giam giữ tại nhà giam La Santé nhưng 5 ngày sau được miễn tố và trả tự do .

. 1912, Cùng với Salmon, Tudesq, Dalize và André Billy, G.Apollinaire sáng lập tạp chí Les Soirées de Paris trong đó ông đóng góp rất nhiều bài viết. Kể từ năm 1913, Apollinaire đảm trách vai trò điều hành tờ báo. Marie Laurencin chia tay với Guillaume Apollinaire vì không chịu nổi bệnh ghen tương của nhà thơ. Sáng tác Le Pont Mirabeau.

. 1913, từ tháng Giêng Guillaume Apollinaire về cư ngụ tại số 202 đại lộ Saint-Germain. Tháng 4, xuất bản tập Alcools tập trung những bài thơ hay nhất đã được viết từ năm 1898 đến 1912 tập thơ lần này được bỏ đi tất cả các dấu chấm câu . Tháng 5, cho ra mắt quyển sách viết về phê bình nghệ thuật, Les Peintes Cubistes -những họa sĩ tập thể .
Ngày 29 tháng 6, Apollinaire xuất bản L'Antitradition futuriste bằng tiếng Pháp và tiếng Ý . Kết bạn với Picabia và Blaise Cendrars.

. 1914, Apollinaire thực hiện những bài tranh thơ (calligramme) đầu tiên và càng ngày càng hiện diện tại khu Montparnasses, trung tâm tụ tập của những nhà họa sĩ tứ xứ.
CALLIGRAMME của APOLLIANIRE
Khi thế chiến bùng nổ, Apollinaire đang cùng với André Rouveyre có mặt tại bãi tắm La Baule và Dauville . Tổng động viên. Apollinaire làm thủ tục xin quốc tịch Pháp và tình nguyện được gia nhập hàng ngũ quân đội Pháp. Tháng 9, tại Nice, G. Apollinaire gặp và yêu cô Louise de Coligny-Chatillon, một người đàn bà thuộc dòng giõi quý tộc. Ngày 6 tháng 12 năm 1914, Guillaume được điều động đến trung đoàn 38 pháo binh đóng tại Nîmes, ngày hôm sau "Lou" đến.

. 1915, Apollinaire tình nguyện ra mặt trận và được phong hàm Hạ Sĩ . G.Apollinaire chia xẻ cuộc sống cùng những nỗi thống khổ với những người đồng ngũ dưới các chiến hào. Kinh nghiệm này đã cho Guillaume nguồn cảm hứng để sáng tác nhiều bài thơ mà nội dung trộn lẫn ghê rợn của chiến tranh, niềm hy vọng vào sự sống và tình yêu . Cũng trong thời gian này, Apollinaire viết những bức tình thơ gởi về cho người yêu, Louise de Coligny-Châtillon -"Lou":

C'EST LOU QU'ON LA NOMMAIT

Il est des loups de toute sorte
Je connais le plus inhumain
Mon cœur que le diable l'emporte
Et qu'il le dépose à sa porte
N'est plus qu'un jouet dans sa main

Les loups jadis étaient fidèles
Comme sont les petits toutous
Et les soldats amants des belles
Galamment en souvenir d'elles
Ainsi que les loups étaient doux

Mais aujourd'hui les temps sont pires
Les loups sont tigres devenus
Et les Soldats et les Empires
Les Césars devenus Vampires
Sont aussi cruels que Vénus

J'en ai pris mon parti Rouveyre
Et monté sur mon grand cheval
Je vais bientôt partir en guerre
Sans pitié chaste et l'œil sévère
Comme ces guerriers qu'Épinal

Vendait Images populaires
Que Georgin gravait dans le bois
Où sont-ils ces beaux militaires
Soldats passés Où sont les guerres
Où sont les guerres d'autrefois

Một số thơ được xuất bản trong thi tập Calligramme (1918) kèm theo Poèmes de la Paix et de la Guerre, Poèmes Conversations và Idéogrammes Lyriques mà những bài thơ là những chữ kết hợp thành hình vẽ (xem hình poème du 9 février 1915) , Les Autres Lettres xuất bản vào năm 1947 sau khi nhà thơ đã qua đời dưới tựa đề Poèmes à Lou.

Trong một chuyến được về phép, trên xe lửa đưa nhà thơ từ mặt trận về thăm "Lou", G.Apollinaire gặp Madeleine Pagès, một cô gái sống gần vùng Oran. Apollinaire trở thành người hôn phu của cô gái này và cũng cùng lúc sự liên lạc thư tín với một nữ thi sĩ của tỉnh Montpellier, Yves Blanc, một bà mẹ chiến sĩ. Được thăng cấp Trung Sĩ vào tháng 9 và thuyên chuyển về vùng lân cận thành phố Reims. Tháng 12, nghỉ phép để đến với gia đình Madeleine Pagès tại Algérie.

POUR MADELEINE SEULE

Lune candide vous brillez moins que les hanches
De mon amour
Aubes que j'admire vous êtes moins blanches
Aubes que chaque jour
J'admire ô hanches si blanches
Il y a le reflet de votre blancheur
Au fond de cet aluminium
Dont on fait des bagues
Dans cette zone où règne la blancheur
O hanches si blanches

Trở lại mặt trận, Guillaume được thuyện chuyển sang Trung Đoàn 96 Pháo Binh với cấp bậc Thiếu Úy.

. 1916, được quốc tịch Pháp. Ngày 17 tháng 3, Apollinaire bị trúng thương ở thái dương vì những mảnh trái pháo và phải khoan ở sương vào tháng 5. Trong thời gian dưỡng bệnh nhà thơ đã cho xuất bản tập Le Poète Assassiné, tập hợp những truyện ngắn, truyện cổ tích vừa hoang đường lại vừa có tính chất của những tự truyện.
Vưà lành bệnh, Apollinaire lại muốn trở lại chiến trường nhưng những cơn đau đầu liên tục đã bắt buộc nhà thơ phải rời quân ngũ trở về sống tại Paris sau đó bỏ dự tính kết hôn với Madeleine.

. 1917, ngày 18 tháng 5, Parade, kịch múa với nhạc của Satie, trang phục và khung cảnh trang trí vẽ bởi Picasso, một luận chứng của Jean Cocteau mà Apollinaire trình bày trong chương trình. Ngày 24 tháng 6, Apollinaire dựng vở kịch Les Mamelles de Tirésias, một thảm kịch siêu thực với giọng điệu khôi hài nhưng để cập đến những vấn đề đúng đắn, sau đó ông hoàn tất một quyển tiểu thuyết, La Femme Assise . Ngày 26 tháng 12, thuyết trình tại Vieux Colombier với đề tài : L'Esprit Nouveau et les Poètes. Apollinaire viết chung với André Billy kịch bản La Bréhatine cho điện ảnh . Gặp gỡ Jacqueline Kolb, "la jolie rousse " của bài thơ cuối trong tập Calligrammes:

LA JOILIE ROUSSE

Me voici devant tous un homme plein de sens
Connaissant la vie et de la mort ce qu'un vivant peut connaître
Ayant éprouvé les douleurs et les joies de l'amour
Ayant su quelquefois imposer ses idées
Connaissant plusieurs langages
Ayant pas mal voyagé
Ayant vu la guerre dans l'Artillerie et l'Infanterie
Blessé à la tête trépané sous le chloroforme
Ayant perdu ses meilleurs amis dans l'effroyable lutte
Je sais d'ancien et de nouveau autant qu'un homme seul pourrait des deux savoir
Et sans m'inquiéter aujourd'hui de cette guerre
Entre nous et pour nous mes amis
Je juge cette longue querelle de la tradition et de l'invention
De l'ordre et de l'Aventure

..............................

. Ngày 1 tháng Giêng năm 1918, bị bệnh sung huyết phổi, G.Apollinaire phải vào điều trị tại bệnh viện. Ngày 2 tháng 5, G.Apollinaire cưới Jacqueline Kolb tại quận thứ 12 Paris mà Picasso và Vollard là nhân chứng. Ngày 15 tháng 4, tập thơ Calligrammes được xuất bản.
Bị mắc bệnh cúm tây ban nha (Grippe Espagnole) đang hoành hành tại Âu Châu, yếu ớt vì thương tật chiến tranh và những cơn bệnh hoạn vừa trải qua, Guillaume Apollinaire mất ngày 9 tháng 11 ngay trước ngày đình chiến khi mới chỉ được 38 tuổi .
. Ngày 13 tháng 11 năm 1918, bao quanh quan tài G. Apollinaire là mẹ và em trai ông cùng những bạn bè văn nghệ sĩ, nhà thơ được an táng tại nghĩa trang Père-Lachaire. Bên ngoài, quần chúng tại thủ đô Paris hớn hở đón mừng ngày chiến tranh chấm dứt.

Guillaume Apollinaire đã để lại một công trình độc đáo, thần khải bằng một thị lực mới về thế giới và vạch ra những định hướng về thơ ca cho những nhà thơ trẻ của nhóm siêu thực đi sau ông như André Breton, Louis Aragon, Soupault...

II - TÁC PHẨM CỦA G.APOLLINAIRE

. L’Enchanteur pourrissant (1899/1904)
. Rhénanes (1901/02)
. Les Mamelles de Tirésias (1903/18)
. Les Mémoires d’un jeune Don Juan (1905)
. La Chanson du Mal-Aimé (1909)
. La Poésie symboliste (1909)
. L’Hérésiarque et Cie (1910)
. Le Bestiaire ou Cortège d’Orphée (1911)
. Les Peintres cubiste (1913)
. Alcools (1913)
. Les Méditations esthétique (1913)
. L’Antitradition futuriste (1914)
. Le Poète assassiné (1916)
. L’Esprit nouveau et les Poètes (1917)
. Le Flâneur des deux rives (1918)
. Calligrammes (1918)
. Le Guetteur mélancolique (1952)
. Poèmes à Lou (1955)
. Poèmes retrouvés (1956)



TỪ VŨ
Pháp,25.8.05.


TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC