BIÊN DỊCH



TÁC PHẨM
TÁC GIẢ




TỪ VŨ

Từ Vũ là bút hiệu và cũng là tên thật.

Sinh năm 1945 tại Bắc Việt .

Đi học tại HàNội .

Theo gia đình di cư vào Nam năm 1953 .

Đi học : Bá Ninh, Lê Qúy Đôn NhaTrang, Trần Hưng Đạo Đà Lạt, Tabert , Nguyễn Bá Tòng, Lê Bảo Tịnh, Trường Sơn Sàigòn...


Đi lính .

Vượt biên năm 1979 và định cư tại Pháp.

Làm việc với tư cách một Giám Đốc cho các công ty sản xuất kỹ nghệ của người Pháp như Weber & Broutin - Lafarge - Allia - Allibert & Sommer....

Làm thơ , viết văn tài tử từ thời đi học và đăng tải trong các nhật báo, tuần báo tại Sàigon trước năm 1975 dưới rất nhiều bút hiệu khác nhau.









ERICH MARIA REMARQUE
(1898 - 1970)
VĂN HÀO HOA KỲ ( GỐC ĐỨC )


I - CUỘC ĐỜI :

Erich Maria Remarque tên thật là Erich Paul Remarque, sanh ngày 22 tháng 6 năm 1898 tại Osnabruck Đức quốc.
Năm 1916, thời kỳ thế chiến Đệ Nhất, khi E.Paul Remarque mới chỉ được 18 tuổi và đang theo học tại viện đại học Münster thì bị động viên vào hàng ngũ quân đội Đức.

Năm 1917, suốt 7 tuần lễ, E.Paul Remarque đã được nếm mùi vị của cuộc sống dưới giao thông hào trước khi bị thương nơi tay bởi những mảnh trái phá tại Bỉ. Cũng vì lẽ đó, ông đã phải buộc lòng từ bỏ con đường nhạc sĩ mà ông đã mơ ước.
Giải ngũ, E.M.Remarque dạy học tại nhiều trường cấp một nhưng đã tự nhận thấy đây không phải là con đường phù hợp với mình. Sau đó, E.Paul Remarque làm nhiều nghề khác nhau như : ký giả thể thao, phụ tá chủ bút báo Sportbild...trong thời kỳ này E.P.R cũng cho đăng tải một số thuật truyện và xuất bản quyển truyện đầu tiên vào năm 1920 , " Die Traumbude ", nhưng truyện đã không được người đọc chú ý tới.

Năm 1928, theo hứng cảm của ngòi bút, chưa đầy 6 tuần lễ, ngoài giờ làm việc tại văn phòng, E.P.Ramarque viết một thuật truyện , kết qủa chín mùi được "thai nghén" từ lâu, Im Westen nichts Neues- "À l’Ouest rien de nouveau"- "All Quiet on the Western Front" - "Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh". Nội dung truyện là một bản cáo buộc hùng hồn đối kháng lại sự ghê tởm và phi lý của chiến tranh dưới quan điểm của một người lính tầm thường : tiểu thuyết phản chiến đầu tiên .

 Tuy nhiên cũng chính qua tác phẩm này mà E.M.Remarque đã bị những người của đảng quốc xã buộc tội làm suy nhược tinh thần quốc gia Đức.
Phỏng theo Im Westen nichts Neues, một cuốn phim được thực hiện tại Hoa Kỳ bởi Lewis Milestone trình chiếu tại Đức vào tháng 12 năm 1930 và lập tức ngay sau đó , Josef Goebels , phụ trách guồng máy tuyên truyền đảng "áo đen" của Hitler, đã có được lênh cấm chỉ việc trình chiếu phim này tuy nhiên sau những phản kháng quyết liệt của Hội Nhân Quyền Đức phim lại được cho ra mắt trở lại tại các rạp ciné vào năm 1931 cũng là năm E.M.Remarque xuất bản truyện De Weg Zurüch (The Way Back), và cất bước rời bỏ quê hương sang lánh nạn tại Thụy Sĩ. Nhờ vào lợi tức thu nhập dồi dào qua những sáng tác, ông đã mua một ngôi biệt thự bên cạnh Lac Majeur để rồi ít lâu sau E.M.Remarque di cư sang Hoa Kỳ khi biết được rằng cơ quan Gestapo đang trù định bắt ông.

Ngày 10 tháng 5 năm 1933, tại quảng trường Opéra, Bá Linh, những sách truyện của ông đã bị chính quyền Đức Quốc Xã tịch thu và thiêu hủy chung với các tác phẩm của Thomas Mann, Karl Marx, Egon Kish ou H.G. Wells,... .

Năm 1937, E.M.Remaque viết truyện Drei Kamaraden -"Trois Camarades" .

Năm 1938, một phiên toà do chế độ quốc xã thành lập đã quyết định truất quyền quốc tịch Đức của E.M.Remarque với lý do "đã nhận xuống bùn danh dự của những người lính Đức trong cuộc Thế Chiến" và biểu tượng "một ý niệm chống Đức-phản quốc" . Nhà văn đã chỉ biết được những sự thù hằn đó vào ngày hôm sau trong khi ông đang lưu vong tại Hoa Kỳ. Nhưng em gái ông, Elfriede, một người thợ may khiêm tốn, đã tâm sự với một nữ khách hàng của bà rằng bà tình nguyện bắn vào đầu Hitler một viên đạn, cũng chính bởi lời tâm sự này mà bà đã bị tố cáo, kết án và bị xử chém vào năm 1943 bởi chế độ quốc xã.

Thời gian đầu, E.M.Remarque từ chối không hợp tác với những cơ quan của chính quyền Mỹ, nhưng từ năm 1944 ông đã chấp nhận làm việc với cơ quan O.S.S (The Office of Strategic Services). E.M.Remarque bảo vệ luận đề là phải thực hiện một cuộc cải tạo thật sự tại Đức sau cuộc chiến. Năm 1946, tác phẩm Arc de Triomphe ra đời. Năm 194, E.M.Remarque trở thành một công dân nước Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ.
Cũng thời gian này, trong cuộc sống lưu vong vàng son tại kinh đô của phim ảnh Holywood Mỹ, Marlène Dietrich (1901-1992), người mà ông đã gặp vào năm 1937 tại Venise, bằng một thứ tình cảm cao độ mà sự liên hệ của hai người đã kéo dài cho đến ngày E.M.Remarque qua đời hoặc với nữ tài tử tuyệt vời Greta Garbo (1905-1990)đã là nguồn cung cấp liên tục tin tức hấp dẫn cho báo giới tại đây .
HÌNH GRETA GARBO
Năm 1948, E.M.Remarque trở lại Thụy Sĩ với Paulette Godard, nữ diễn viên trong phim Temps Modernes - "Modern Times", Le Dictateur- "The Great Dictator"... , sau khi bà này ly dị với Charlie Chaplin sau 8 năm chung sống.

Năm 1952, Spark of Life - L'Etincelle de Vie, truyện viết về những trại tập trung do chế độ Hitler thành lập, xuất hiện và năm 1956 truyện The Black Obelisk - L'Obélisque Noir. Cũng trong năm này, ông đã lên tiếng phản kháng sự việc " khôi phục danh dự " cho những kẻ đã từng hành xử những vai trò trong guồng máy hành chánh dưới thời kỳ Đức Quốc Xã. E.M.Remarque không ngừng chiến đấu để đề phòng nguy cơ trở lại của một chủ nghĩa quân phiệt tại Đức.

Năm 1954, xuất bản A Time to Love and a Time to Die - " Un Temps Pour Vivre, Un Temps Pour Mourir - một thời để sống, một thời để chết "- nhấn mạnh đến sự dã man và mù quáng của quân đội Đức tại Liên Bang Sô Viết (Nga) , tiếp đó là quyển L'Ile d'Espéranceen .

Theo ông thì không phải là tình trạng thất nghiệp hay là khũng hoảng kinh tế đã tạo ra chế độ nazi gớm ghét, mà chính là " nền giáo dục cổ đại với sự tòng phục tuyệt đối, đã tìm gặp được tại nước Đức, một lãnh thổ đặc biệt phì nhiêu. ".
Quốc tịch của E.M.Remarque không được chế độ cộng hoà mới tại Đức trả lại vì đã không ban hành một sắc lệnh mới nào hủy bỏ quyết định năm 1938 của chế độ quốc xã.

HÌNH PAULETTE GODARD
Năm 1958 : Chính thức kết hôn với Paulette Godard (1911-1990). Trước đó E.M.Remarque đã thành hôn hai lần vào năm 1925 và một lần nữa năm 1938 với cùng một người đàn bà, Jutta Ilse Ingeborg Ellen Zambona.

Năm 1961, xuất bản quyển Heaven Has No Favourites - Le Ciel n'a pas de préférés.

Trong khi tên tuổi của E.M.Remarque được mọi người biết tới tại khắp nơi trên thế giới thì...tại Đức, mãi cho đến năm 1963 nhiều nhật báo Đức mới bắt đầu đề cập, nhấn mạnh đến vai trò quan trọng trong văn chương thế giới và...văn chương Đức của các tác phẩm viết bởi E.M.Remarque.

Năm 1967, E.M.Remarque được phong tặng Croix du Mérite nhờ vào sự can thiệp liên tục của Willy Brandt (Thủ Tướng Cộng Hoà Liên Bang Đức, Nobel Hoà Bình 1971 ) khi này còn là thị trưởng Bá Linh.

Erich Maria Remarque qua đời vào ngày 25 tháng 9 năm 1970 vì chứng phình mạch, tại bệnh viện Sant Agnese - Locarno Thụy Sĩ , hưởng thọ 72 tuổi, nhưng vẫn không tha thứ cho nước Đức về sự bao dung đối với những kẻ đã từng phục vụ cho chế độ quốc xã của Hitler.
" Theo tôi được biết, E.M.Remarque đã phải cay đắng tuyên bố vào một trong những lần rất hiếm hoi trở lại quê hương ông, không một kẻ sát nhân của chế độ quốc xã nào bị truất quyền quốc tịch Đức "

Chưa bao giờ một nhà văn lại đồng hoá vào một sáng tác của mình như Erich Maria Remarque, văn sĩ được đọc nhiều nhất trên thế giới trong thế kỷ thứ 20 và chắc chắn nhiều thế kỷ sau, qua đó, Im Westen nichts Neues đã được phiên dịch bằng hơn 50 ngôn ngữ khác nhau và đưa Erich Maria Remarque lên địa vị nhà văn đứng hàng đầu của nền văn chương hoà bình.


II - NHỮNG TÁC PHẨM CHÍNH CỦA ERICH MARIA REMARQUE

. 1920 : Die Traumbude
. 1929: All Quiet on the Western Front (Im Westen nichts Neues)
. 1931: The Road Back (Der Weg Zuruck)
. 1936: Three Comrades ( Drei Kamaraden )
. 1945: Arch of Triumph (Arc de Triomphe)
. 1954: A Time to Love and a Time to Die (Zeit Zu Leben Und Zeit Zu Sterben)
. 1956: The Black Obelisk (Der Schwarze Oblisk)
. 1962: Night in Lisbon (Die Nacht von Lissabon)
. 1971: Shadows in Paradise (Schatten Im Paradies)

III - PHIM TRUYỆN VÀ VIẾT TRUYỆN PHIM CỦA E.M.REMARQUE

1930. À L’Ouest rien de nouveau - All Quiet on the Western Front-
Phim trắng đen thực hiện bởi Lewis Milestone. Truyện phim của George Abbott phỏng theo truyện Im Westen Nichts Neues. Diễn viên : Louis Wolhein (Katczinsky), John Wray (Himmelstass), Raymond Griffith (Gérard Duval).

1937. Après (The Road Back)
. Phim trắng đen thực hiện bởi James Whale. Truyện phim của Charles Kenyon, E.M. Remarque, phỏng theo tác phẩm Der Weg zurück, và R.C. Sherrif. Diễn viên : John ’Dusty’ King, Richard Cromwell. Slim Summerville, Andy Devine.

1938. Trois Camarades (Three Camarades) .
. Phim trắng đen thực hiện bởi Frank Borzage. Truyện phim của F. Scott Fitzgerald, Edward E. Paramore Jr và E.M. Remarque, phỏng theo tác phẩm Drei Kameraden (Les Camarades). Diễn viên : Margaret Sullavan, Robert Taylor, Franchot Tone, Robert Young.

1941. Ainsi Finit Notre Nuit (So Ends Our Night) .
. Phim trắng đen thực hiện bởi John Cromwell. Truyện phim của E.M. Remarque, phỏng theo tác phẩm Leibe deinen Nächsten (Les Exilés), và Talbot Jennings. Diễn viên : Fredric March, Margaret Sullavan, Frances Dee, Glenn Ford, Anna Sten, Erich von Stroheim.

1947. L’Orchidée Blanche (The Other Love) .
. Phim trắng đen thực hiện bởi André De Toth. Truyện phim của E.M. Remarque phỏng theo tác phẩm Beyond, Ladislas Fodor và Harry Brown. Diễn viên : Barbara Stanwick, David Niven, Richard Conte, Gilbert Roland.

1948. Arc de Triomphe (Arch of Triumph) .
. Phim trắng đen thực hiện bởi Lewis Milestone. Truyện phim của E.M. Remarque, phỏng theo tác phẩm Arch of Triumph , Lewis Milestone và Harry Brown. Diễn viên : Ingrid Bergman (Joan Madou), Charles Boyer (Dr Ravic), Charles Laughton (Haake), Louis Calhern (’Colonel’ Boris Morosov).

1955. La Fin d’Hitler/Le Dernier Acte (Der Letzte Akt) .
. Phim trắng đen thực hiện bởi Georg Wilhelm Pabst. Truyện phim của Fritz Habeck, M.A.Mussano, phỏng theo tác phẩm Ten Days To Die, và E.M. Remarque. Diễn viên : Albin Skoda (Adolf Hitler), Oskar Werner (Capitaine Wuest).

1958. Le Temps d’Aimer et le Temps de Mourir (A Time to Love and a Time to Die) .
Phim màu thực hiện bởi Douglas Sirk. Truyện phim của Orin Jannings và E.M. Remarque, phỏng theo tác phẩm Zeit zu leben und Zeit zu sterben (Un temps pour vivre, un temps pour mourir, hay là L’Île d’Espérance của nhà xuất bản Pháp Plon vào năm 1954). Diễn viên : John Gavin (Ernst Graber), Liselotte Pulver (Elisabeth Kruse), E.M. Remarque (Professor Pohlmann).

1977. Bobby Deerfield .
. Phim màu thực hiện bởi Sydney Pollack. Truyện phim của E.M. Remarque phỏng theo tác phẩm Der Himmel kennt keine Günstlinge (Le Ciel n’a pas de préférés) và Alvin Sergent. Diễn viên : Al Pacino (Bobby Deerfield), Marthe Keller (Lillian Morelli), Anny Duperey (Lydia), Walter McGinn (Leonard), Romolo Valli (Oncle Luigi), Stephan Meldegg (Karl Holtzmann).

1979. À L’Ouest Rien de Nouveau (All Quiet on the Western Front) .
. Phim truyền hình màu thực hiện bởi Delbert Mann. Truyện phim của Paul Monash và E.M. Remarque. Diễn viên : Richard Thomas (Paul Baumer), Ernest Borgnine (Stanislaus Katczinsky), Donald Pleasence (Kantorek), Ian Holm (Himmelstoss), Patricia Neal (Mẹ của Paul).

1985. Arch of Triumph
. Phim truyền hình màu thực hiện bởi Warris Hussein. 1985. Truyện phim của Charles E. Israël và E.M. Remarque. Diễn viên : Anthony Hopkins (Dr Ravic), Lesley-Anne Down (Joan Madou), Donald Pleasence (Haake), Frank Finlay (Boris).



TỪ VŨ




TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC