TRA CỨU CHỮ " THỨA "
trong bài Thủ Vĩ Ngâm
của Nguyễn Trãi

Hồi tôi học lớp 5 đã phải trọ học ở Thứa (cách làng tôi 10 km) . Nay nó là Thị trấn Thứa của huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh . Đã nửa thế kỷ biết địa danh này là Thứa , nhưng nghĩa là gì thì vẫn " mù tịt", Sau này đọc bài Núi Đôi của Vũ Cao thấy cũng có chữ Thứa trong câu thơ :

"Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa
Em sống trung thành chết thuỷ chung"

Mỗi lần đi qua thị trấn bé nhỏ về quê , tôi tự an ủi mình: Thứa là tên địa danh không hiểu nghĩa là gì , thôi cũng đành chấp nhận vậy .

Nay đọc bài Vô đề -Thủ vĩ ngâm của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập , lại gặp chữ Thứa!

Nguyên văn bài thơ :

Góc thành Nam, lều một gian
No nước uống thiếu cơm ăn
Con đòi trốn dường ai quyến
Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn
Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá
Nhà quen thú THỨA ngại nuôi vằn
Triều quan chẳng phải ẩn chẳng phải
Góc thành Nam , lều một gian

Vốn mù tịt nghĩa chữ THỨA trong bài thơ này , khiến cho tôi lại tự dằn vặt và bực mình với sự dốt nát của mình . Tôi lục tìm chữ THỨA trong đống tự điển ở tủ sách của nhà :

Dictionnaine Annamite-Francais 1898 của Jean Bonet không có THỨA

Từ điển Nôm của Yonosutee Takendi Nhật Bản 1988 không có THỨA

Bảng tra chữ Nôm 1976 của Phùng Uông , Đào Thản và Hồ Lê không thấy THỨA chỉ thấy chữ Thừa ( 308) và chữ Thứ( 340)

Từ tiếng tiếng Việt nhóm Văn Tân 1967 không có Thứa , trang 972 có chữ thớ (thớ thịt , thớ gỗ)

Từ điển vần của Hoàng Phê(1996), không có THỨA

Từ điển chính tả của Hoàng Phê (1986 , không có THỨA

Từ điển tiếng Việt Hoàng Phê 1995 trang 939 chỉ thấy hai chữ Thừa và Thửa

Từ điển chính tả học sinh của Dương Kỳ Đức 1995 không tìm thấy chữ THỨA

Từ điển tiếng nghệ của Trần Hữư Tung và Thái Kim Đĩnh 1998 trang 254 chỉ thấy có chữ Thớ ( ví dụ không ra cái thớ chi cả ) .

Đại từ điển chữ Nôm VũVăn Kinh 1999 không có chữ Thứa

Từ điển chữ Nôm của Viện nghiên cứu Hán Nôm 2006 cũng không có chữ Thứa .

Tìm mãi thấy Ba cuốn có chữ THỨA , đó là cuốn :

Phương ngữ Nam Bộ của Nguyễn Văn Ái trang 541 có chữ Thứa (ví dụ chẳng ra cái Thứa gì cả), Trang 537 thì có chữ Thớ (ví dụ nói thớ lợ)

Pauel Schneider (1994) thì thấy có chữ Thứa, trang 803 thấy có chữ khách thứa và khách khứa. Và có dẫn hai câu QA 54 và 169 ( bản 1868)

Mây khách, thứa nguyệt anh tam
Khách thứa hai ngàn núi xanh

Mgr D"Adran 1772-1773 Dictionarium Annamitico - Latium thấy có thứ THỨA, ở trang 606 (ví dụ thứa thịt , thứa cây)

Ba cuốn t ừ đi ển có chữ Thứa , những nghĩa là gì thì vẫn mù mờ !

Trong văn cảnh chữ TH ỨA trong bài thơ Vô đề -Thủ vĩ ngâm thì có nghĩa là gì , cũng thật nan giải !?

Để hiểu được chữ Thứa tôi bấu víu vào mấy cuốn sách :

Nguyễn Trãi Thăng Long Hà Nội , Hà Nội 1980; Thi Văn Nguyễn Phi Khanh , Hà Nội 1981 Bùi Văn Nguyên và Đào Phương Bình (chữ Quốc ngữ 100 %); Thơ quốc âm Nguyễn Trãi , Hà Nội 1994 Bùi Văn Nguyễn; Nguyễn Trãi Quốc âm thi tập Vũ Văn Kính (Nôm và quốc ngữ).

Cụ Bùi Văn Nguyên chú thích liên quan đén chữ THỨA như sau :

Trang 33 chú thích số 9 Thú thứa : ( dị bản thuể thoà ) : đều có nghĩa xuề xoà giản dị .

Nếu bị giam lỏng thì càng cần nuôi chó để phát hiện kẻ rình mò mình chứ ?

Còn cụ Vũ Văn Kính tại trang 9 thì tại chú thích 2 theo cụ Đào Duy Anh thì đọc là Xú th ứa , chứ không phải là Thú Thứa.

Từ thú thứa đã khó hiểu nay lại được đọc nôm thành quốc ngữ là xú thứa Xú thì hậu sinh càng khó hiểu được nghĩa của hai từ này. Cấu tạo từ thì Xú được tạo thành bởi chữ tự + chữ cẩu. Theo từ điển của Văn Tân( 1967) trang 1162 thì giải thích chữ Xú ( ví dụ xú khí bốc hơi lên có mùi thối , xú danh tiếng tăm xấu , xú uế có mùi hôi thối . Nhưng ghép vào câu thơ này "Nhà quen xú thứa ngại nuôi vằn ", thì cung khó hiểu , Còn như Từ đi ển Nô m c ủa Pauel Schneider (1994) thì thấy có chữ Thứa, trang 803 thấy có chữ Khách Thứa và Khách Khứa. Và có dẫn hai câu QA 54 và 169 ( bản 1868)

Mây khách thứa nguyệt anh tam
Khách thứa hai ngàn núi xanh

Có lẽ câu thơ "Nhà quen thú thứa ngại nuôi vằn ", Phải chăng có thể hiểu câu trên theo nghĩa là "nhà quen khách khứa ngại nuôi vằn ".

Còn theo chú thích cuốn sách Nguyễn Trãi Thăng Long Hà Nội ( 1980 ) kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi thì viết là : Nhà quen Xú Xứa , ngại nuôi vằn có nghĩa là xuyềnh xoàng ;Cả câu có ý nói nhà xuềnh xoàng quá , không cần nuôi chó coi giữ . Cung Văn Lược trang 182)

Từ chỗ đi tìm chữ THỨA , tôi còn học được thêm chữ BÀ NGỰA trong câu "Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn .". Theo giải nghĩa của trang 5 của Tự điển chữ Nôm của Viên nghiên cứu Hán Nôm 2006 thì Bà là tiền tố trong từ tiếng cổ chỉ động vật , ví dụ QÂTT của Nguyễn Trãi còn có câu :Rợ đứt khôn cầm bà ngựa dữ ( 40 b).

Tìm chữ THỨA thôi nhưng thấy các cụ TIỀN NHÂN còn tranh luận nhau bài này Nguyễn Trãi làm khi giặc Minh giam lỏng ở ĐôngQuan , hay Nguyễn Trãi làm ở phía Nam sông Cả ( sông Lam ) Nghệ An , còn có tên gốc là thành Trà Lùng tên dân tộc thiểu số ở đó , có khả năng là Thái . Thành này hiện còn ở xã Bông Khê ( Con Cuông Nghệ An ) được triều Hậu Trần xây kiên cố ( Bùi Văn Nguyên -Thơ quốc âm Nguyễn Trãi , Hà Nội 1994)trang 31-32. Còn Cung Văn Lược: b ài th ơ Thủ v ĩ ngâm do Nguyễn Trãi viết ở Đ ông Quan " Nguy ễn Trãi Thăng Long Hà Nội ( 1980 ) kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi (trang 182)

Nhưng cũng có giả thiết cho rằng Nguyễn Trãi làm bài Thủ vĩ ngâm vào thời bị Lê Lợi giam lỏng (sau khi Lê Lợi đã giết Trần Nguyến Đán và Phạm Văn Xảo ). Vì bài thơ Thủ vĩ ngâm hợp với tâm thế người già thất thế bị giam lỏng , chứ không thể hợp khí phách với một chàng thanh niên đang ngầm nuôi chí lớn hừng hực khí thế chuẩn bị cho Bình ngô đại cáo được !

Cá nhân tôi thấy để thưởng thức một bài thơ cổ trên 600 năm của Đại văn hào Nguyễn Trãi chỉ mắc có một chữ THỨA , mà đã " chặn đ ứng' sự cảm thụ bài thơ rất hay này !

Hiểu đúng một chữ thật khó xiết bao !

Đúng là các cụ bảo : " Nhất tự vi sư, bán tự vi sư "!

Xin nín chờ sự chỉ bảo của các bậc Cao Minh về câu thơ có chữ THỨA này !








© tác giả giữ bản quyền.

.tải đăng theo nguyên bản của tác giả ngày 07.04.2008.