HUYỀN VIÊM



Mùa hè năm 2007, trong kỳ thi Trung học Phổ thông ở Bắc Kinh, thí sinh nhận được một đề thi luận văn rất lạ, không hề giống đề thi các năm trước. Đề ra như sau :

“Thí sinh hãy làm bài văn dưới đây :

Tế vũ thấp y khan bất kiến,

Nhàn hoa lạc địa thính vô thanh (1).

(Tạm dịch : Mưa nhỏ thấm ướt áo nhìn chẳng thấy ; hoa rơi xuống đất không nghe tiếng) là hai câu thơ trích trong bài “Tặng biệt Nghiêm Sĩ Nguyên” (Tặng Nghiêm Sĩ Nguyên khi chia tay) của nhà thơ đời Đường Lưu Trường Khanh.

Có những lý giải khác nhau về bài thơ như sau :

1. Đây là bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của mùa xuân.

2.”Mưa nhỏ”, “hoa rơi” tả nỗi cô đơn không ai thấu hiểu.

3. “Nhìn chẳng thấy”, “không nghe tiếng” không chỉ thái độ sống buông xuôi mà là cách sống không màng danh lợi.

4. Nhân sinh quan trong bài thơ không còn thích hợp với cuộc sống ngày nay.

Bằng cảm nhận của riêng mình về hai câu thơ, anh (chị) hãy làm một bài văn theo những yêu cầu sau đây :

1. Đề bài tự đặt.

2. Thể thức hành văn không giới hạn.

3. Bài văn không dưới 800 chữ”.

Đề thi này lạ ở chỗ không có trong chương trình giáo khoa nhưng mọi người – nhất là các nhà giáo Trung Quốc – chỉ khen chứ không ai phàn nàn về chuyện ấy.

Hai câu này, ngoài cái nghĩa đen thông thường, còn có nghĩa bóng nữa.

Câu trên :“Tế vũ thấp y khan bất kiến” (Mưa nhỏ thấm ướt áo nhìn chẳng thấy) nghĩa bóng là : ngày ngày bị gièm pha mà mình không biết để phân trần đến nỗi phải bị đày.

Câu dưới : Nhàn hoa lạc địa thính vô thanh” (Hoa rơi xuống đất không nghe tiếng) nghĩa bóng là kẻ sĩ bị ruồng bỏ (Theo cụ Đỗ Bằng Đoàn trong Đường thi trích dịch).

Đối chiếu với tiểu sử : Lưu Trường Khanh (709-780) tự Văn Phòng, người Hà Gian, tỉnh Hồ Bắc, đỗ tiến sĩ năm 733 dưới triều vua Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng), nhưng mãi đến năm 756 dưới triều Đường Túc Tông (niên hiệu Chí Đức) mới được bổ làm Giám sát ngự sử. Vì tính cương trực, bị Ngô Trọng Nhụ vu cáo, ông bị giam ở ngục Tô Châu rồi bị biếm ra Phan Châu. Sau nhờ có người biện bạch, ông được minh oan và được bổ làm thứ sử Tùy Châu.

Đề thi này có nhiều ưu điểm :

1. Dạy cho học sinh biết yêu quí vốn cổ vì thơ Đường là viên ngọc sáng của nền văn học Trung Quốc.

2. Đề tài này là một đề tài thuần túy văn học, là một đề mở, không đánh đố học sinh.

3. Khơi gợi óc sáng tạo, thí sinh phải vắt óc suy nghĩ ; bài làm sẽ cho biết sự cảm thụ thơ và suy luận của thí sinh, hẳn là bài thi không ai giống ai.

4. Chống lại cách dạy bài mẫu, cách học tủ, học vẹt làm thui chột tài năng và óc sáng tạo của học sinh ; tránh cái cảnh hàng trăm bài làm giống nhau tới từng chi tiết.

Chỉ có một điểm khó là nếu thí sinh không biết tiểu sử tác giả (vì ngoài chương trình) thì sẽ không lý giải được tại sao lời thơ của tác giả lại đượm vẻ buồn rầu, bi quan đến thế (3).

Nên chăng Việt Nam ta cũng làm như Trung Quốc trong các kỳ thi sắp tới? Bắt chước cái hay thì có gì là xấu?

________________________________

(1) Nhàn hoa : hoa đã hết mùa xuân không có người thưởng ngoạn, ý nói kẻ sĩ bị ruồng bỏ.
(2) Câu này nhắc ta nhớ đến hai câu thơ của Vi Thừa Khánh trong bài “Nam hành biệt đệ” (Từ giã em trai, đi về Nam) :

Lạc hoa tương dữ hận - (Hoa cũng chung lòng hận)
Đáo địa nhất vô thanh - (Âm thầm cánh nhẹ rơi)
(3) Để bạn đọc có thể hiểu hết ý của tác giả, chúng tôi xin chép đầy đủ bài thơ và bản dịch dưới đây :

TẶNG BIỆT NGHIÊM SĨ NGUYÊN

Xuân phong ỷ trạo Hạp Lư (*) thành,
Thủy quốc xuân hàn âm phục tình.
Tế vũ thấp y khan bất kiến,
Nhàn hoa lạc địa thính vô thanh.
Nhật tà giang thượng cô phàm ảnh,
Thảo lục hồ nam vạn lý tình.
Đông đạo nhược phùng tương thức vấn,
Thanh bào (**) kim dĩ ngộ nho sinh.

Bùi Khánh Đản dịch :

TẶNG BIỆT NGHIÊM SĨ NGUYÊN

Gác mái chèo xuân bến Hạp thành,
Lạnh lùng thủy quốc khí xuân thanh.
Không nghe hoa rụng rơi đầy đất,
Nào biết mưa bay thấm ướt mình.
Trên nước buồm chiều giăng một lá,
Bên hồ cỏ biếc gợi muôn tình.
Ai về Đông đạo cho ta nhắn :
Đã lỡ nhà nho bởi chút danh.

__________________________

(*) Hạp Lư thành : Thành Hạp Lư ở huyện Ngô Môn, tỉnh Giang Tô. Đời Xuân Thu, năm thứ sáu Chu Kính Vương (513 trước công nguyên) vua Ngô Hạp Lư phá xong nước Sở kéo quân về, sai quan Tướng quốc là Ngũ Tử Tư đắp thành ở Ngô Môn để kỷ công, gọi là thành Hạp Lư.
(**) Thanh bào : áo xanh, chức quan nhỏ.






© tải đăng theo nguyên bản của tác giả gởi ngày 16.03.2008.