THAY LỜI DẪN

Lược Sử Văn Nghệ Việt Nam của nhà văn Thế Phong gồm 4 tập, đã được in 2 tập: Tập 1 NHÀ VĂN TIỀN CHIẾN 1930-1945, bản in ronéo đầu tiên ở Sài Gòn gồm 100 cuốn vào năm 1959. Bản tái bàn cuả NXB Vàng Son in 3000 cuốn ở SàiGòn vào năm 1974. Bià cuả họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi được chụp in lại trên đây , do một trong những NXB vô danh ở Mỹ in lậu ở California sau 1975 và Tập 4 : Tổng Luận đã chuyển ngữ A BRIEF GLIMPSE AT THE VIETNAMESE SCENE (from 1900 to 1956) và 2 tập 2 & 3 nói về văn nghệ kháng chiến, nhà văn hậu chiến 1900 - 1956 (văn nghệ quốc gia hay văn nghệ của VNCH) chưa bao giờ công bố trên văn đàn, mặc dù đã được lưu trữ tại một số thư viện TRONG NƯỚC (Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. HCM, Thư viện Khoa học Xã hội Tp.HCM) và NGOÀI NƯỚC như ở Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, Boston, Ithaca-New York, SIU, IOWA vv..hoặc ở Pháp, Đức, Úc..

Newvietart xin đăng tải lại một vài nhận định báo chí, văn giới về Lược Sử Văn Nghệ khi xuất bản lần đầu vào 1959 :

a) Tạp chí Bách Khoa:" ..Ông TPhong vừa cho ra một loạt phê bình văn học. Đó là ai nấy đều mong đợi, bởi vì sau một thời gian khá lâu chưa ai tiếp tay Vũ Ngọc Phan, chốc đà mười mấy năm trời' đúng một thời gian luân lạc cuả cô Kiều...."( số 56, năm 1959, TRIỀU ĐẨU)

b) Ông TP một văn nghệ sĩ thủ đô vừa viết xong và cho phát hành cuốn" Lược sử Văn Nghệ VN", trong đó tác giả phân tích các tác phẩm của văn nghệ sĩ ra đời từ 1930 đến 1945. Cuốn này được quay ronéo có bầy bán tại các hiệu sách. Sách này tác giả đã tốn nhiều công phu và sưu tầm khá nhiều tài liệu để biên soạn (nhật báo Ngôn Luận ngày 8/9/1959- Saigon).

c) ..." Điều thứ ba, sự phán đoán của anh hợp với ý tôi, phần nhiều các tác phẩm anh khen, thì tôi cũng nhận là có giá trị; những tác phẩm anh chê, thì tôi cũng không thích. các nhận xét cuả anh về Triều Sơn, Hoàng Thu Đông đều đúng cả. Đó là nhận xét của tôi; tôi phải phục sức đọc, sức viết, sức nhớ cuả anh. Cảm ơn anh một lần nữa.." (Nguyễn Hiến Lê, 12/3c Kỳ Đồng, Saigon 3- ngày 17/4/1959)

d) Nguyệt san Sinh Lực (1959, Chủ nhiệm: Võ văn Trưng- Saigon) :"...Hôm nay Thế Phong còn có thể ít nhiều nhầm lẫn-nhưng với khả năng rạt rào của tuổi trẻ, với lòng yêu văn nghệ đến đam mê, anh còn nhiều bước đi ngạc nhiên trên lãnh vực nà để đào xới lại mảnh đất hoang phê bình cảo luận bị bỏ quên trong nhiều năm. Sự cố gắng của Thế Phong là sự cố gắng hoàn toàn văn nghệ, cuả một người văn nghệ biết mỉm cười trong sự nghèo túng bản thân mình để hiến chiều dài cho văn học sử. Cũng có đôi khi ta thấy Thê Phong phê phán có vẻ độc tài và tàn nhẫn nữa; nhưng ta vẫn thấy rằng: đó là sự độc tài và tàn nhẫn không có tính cách tự cao, tự đại; hoặc dao to búa lớn; (trái lại) nhiều tinh thần thẩm mỹ, dĩ nhiên là có chủ quan. Ta quí sự nhận thức ấy- vì anh dám nói- cũng như người khác có dám cãi lại hay không là quyền của họ.." (Lê Công Tâm - Thanh Hữu, nhà văn).

e) Le Journal d'Extrême Orient (Saigon, 3 Décembre 1959)" Lược sử văn nghệ Việt nam-Hisotire de la littérature vietnamienne". Histoire sommaire de la littérature vietnamienne, òu l'auteur passe en revue les écrivains d'avant guerre 1930-1945. Cette oeuvre est tirée sur ronéo avec une tirage limitée. Fruit de minuitieuses recherches et d'une riche documentation donnée une vue d'ensemble des diverses époques et tendances des écrivains, des poètes du Vietnam, de leurs oeuvres, d'une littérature riche de plusieurs millénaires suivant le cours de l'Histoire. C'est une synthèse remarquablement coordonné annotée parle critique éminent qu'est ThếPhong qui l'achevée dans les derniers jours de Juin 1956 (đã in ở cuối sách "LSVNVN-Nhà văn tiền chiến 1930-1945 của ThếPhong, NXB Vàng Son Saigon 1974)...

Từ Vũ và Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những người muốn khách quan sưu tra sử liệu .

KỲ THỨ 25

VỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN : 1950 – 1956

[ QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH) ]


G iai đoạn kháng chiến, từ 1945 đến 1950 Việt Nam độc lập được gần một năm. Tiếp, Pháp chiếm lại Hà Nội, (ngày 19 tháng 12 năm 1946) cho dù đảng phái Quốc hay Cộng đều bỏ phù hiệu riêng, đoàn kết trong danh xưng kháng chiến chống thực dân tái xâm lăng. Suốt chín năm (1945–1954), thì kháng chiến ở bốn năm về sau, đã hao hụt thực chất; Mác xít ra mặt lãnh đạo – và cho đến 20–7–1954, phân chia đất nước, danh xưng toàn dân kháng chiến mất hẳn ý nghĩa. Song trên bình diện văn nghệ, ý thức toàn dân kháng chiến tạo được nền văn học có chiều sâu và rộng.
Giai đoạn văn nghệ phân hóa, văn nghệ Mác xít – theo hẳn lối sáng tác được chỉ huy, nhất là sau 1954 miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Còn Quốc Gia và miền Nam (VNCH) văn nghệ chỉ là vườn hoang, mọc đủ loại thảo mộc. Trong tập này, với người khe khắt cho quá nhiều – người dễ dãi cho chưa đủ. Với tôi, vẫn chỉ là bắt voi bỏ giọ, và tất nhiên chủ quan; thiếu sót tất nhiên không thể tránh. Nhìn vào những người viết sách nhận định văn học trước như Vũ Ngọc Phan kết luận cuối trang sách phê bình văn học, có đoạn:
“... Trước hết, bộ sách này là bộ phê bình văn học như tôi đã nói nhiều lần, vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn. Sau nữa, trong khi tôi viết những trang phê bình về thơ, có nhiều thi sĩ chưa có quyển thơ nào xuất bản, về kịch hay tiểu thuyết, có nhiều nhà văn chưa có sách biên khảo, chưa có kịch hay tiểu thuyết ra đời. Như vậy, biết căn cứ vào đâu cho chắc chắn? Rồi lại những nhà văn chính trị tuy đã có văn thơ in trên báo chương hay xuất bản thành sách, cũng không có trong bộ sách này, vì một lẽ mà ai cũng hiểu khi nhớ đến chế độ hiện hành về sách báo. Còn những nhà văn chuyên viết những sách Pháp văn thì tôi cho là không phải nói đến trong văn học Việt Nam. (...) Tôi xin nhắc lại đây một lần nữa rằng bộ Nhà Văn Hiện Đại này chỉ là một bộ phê bình văn học, không phải là bộ văn học sử. Trong văn học sử, người viết cần phải xét rất kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến văn phẩm, rồi lại phải định rõ cả sự liên lạc của nhà văn nọ với nhà văn kia đồng thời hay khác thời đại. Nếu không đủ được những điều cốt yếu ấy, để định rõ phong trào văn học, thì dù có văn học sử đi nữa, người ta cũng chỉ coi là một mớ sử liệu...” (1)
Thời gian này tác phẩm viết bằng Pháp ngữ như Phạm Duy Khiêm với Légendes des terrres sereines và Nam et Sylvie; hoặc Nguyễn Tiến Lãng Le Chemin de la Révolte; Phạm Văn Ký: Frère de Sang, Celui qui régnera; Cung Giụ Nguyên Le Fils de la baleine – sử học Lê Thành Khôi với Le Vietnam, Histoire et Civilisation v.v..., không nói đến, cũng như lý do mà ông Vũ Ngọc Phan đề cập tới ở trên. Đến nhà chính trị văn sĩ Hồ Hữu Tường với Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc bỡn Nga, ... thì cũng vậy. Cả đến loại sách trinh thám kỳ tình, kiếm hiệp, phong thần, phỏng dịch chắp vá được gọi là tác phẩm văn học – chúng tôi xin phép không nói tới. Rõ hơn là Phạm Cao Củng có mặt từ tiền chiến với Kỳ Phát; hoặc truyện Người Nhạn Trắng cũng thế v.v... Tác giả Hoàng Như Mai, thời gian 1950–1954 trong kháng chiến; chúng tôi đưa vào cuốn này; vì vở kịch Tiếng Trống Hà Hồi đặc sắc được in trình diễn ở Hà Nội. Có thể nói điển hình bộ môn kịch là Tiếng trống Hà Nội. Bước sang bộ môn biên khảo, đưa Duy Sinh vào một tiết, như một điển hình cho lớp người viết biên khảo; cũng vẫn chủ quan, so với Diên Hương, Thu - Giang - Nguyễn - Duy - Cần; Khi đối chiếu lại thì, Duy Sinh không thể giá trị bằng hai nhà biên khảo vừa nêu danh.
Trở lại bình diện văn nghệ hậu chiến, tập 3 gồm trên dưới một trăm nhà văn; chọn ba mươi điển hình nói tới cặn kẽ; so với người khác viết tóm lược. Cũng vẫn chủ quan thô thiển và tự nhận thiếu sót. Bởi còn nghĩ xa hơn rằng: "không thể viết đầy đủ các nhà văn mình muốn đưa vào một quyển, thay vì mỗi nhà văn điển hình phải viết hẳn một cuốn nói về họ".
Nên coi những trang viết này chỉ là chữ viết (écriture) trong bộ sách này, và không là văn học (littérature); như quan niệm của Michel Buto (2). Lẽ trang viết có ý nghĩa tổng quát hơn. Còn nữa, bộ sách này chỉ là kết quả viết về tác phẩm các tác giả mà tôi đã đọc, đưa ra nhận xét của riêng tôi; giúp cho nghề tôi nuôi nghiệp (littérateur). Từ 1950 đến 1956, biến chuyển thời cuộc tác động đích thực vào đời sống văn học mà nhà văn sống trong đó. Ở miền Bắc của Quốc Gia Việt Nam (1950 – 1954) nhóm Thế Kỷ tạo thành một Triều Đẩu, qua những mảnh đời phóng sự hồi cư nóng bỏng, hàng ngày phải đối phó với đời sống, tạm gọi độc lập trong lồng son Liên Hiệp Pháp. Còn thêm nhà văn điển hình như Hoàng Công Khanh với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, (truyện), Bến Nước Ngũ Bồ (kịch dã sử), Nguyễn Minh Lang, ngọn bút tài hoa của văn chương lãng mạn mới, qua Gái Hà Nội, Nước Mắt Trong Đêm Mưa, Cánh Hoa Trước Gió (2 tập)... Hai nhà văn này, chúng tôi đề cập ở Chương 3 (tiết 2 và 4) – nhưng tập 3 này xuất bản ở Sài Gòn vào 1959 (Loại sách Đại Nam văn hiến trong nhà xuất bản Huyền Trân, Nhật Tiến chủ trương) bị kiểm duyệt bỏ trọn tiết. Bản in lại lần thứ hai in lại đầy đủ; nhưng trong lần này vẫn phải để trống phần phân tích; vì lý do tầm thường – không kiếm được bản tái bản vào 1973. Hai nhà văn điển hình khác nói đến trong Chương 3 là Thanh Hữu, Văn An. Về nhà thơ điển hình: Đinh Hùng, Nguyễn Quốc Trinh... Viết tóm lược nhà thơ: Hoàng Phụng Tỵ, Song Nhất Nữ, Băng Sơn, Vân Long, Trần Nhân Cư... Bình diện văn nghệ miền Trung (Quốc gia Việt Nam) vào giai đoạn này, nhà thơ điển hình được nói đến : Huyền Chi (nữ), Hoài Minh, Thanh Thuyền. Viết tóm lược các nhà thơ: Hồ Đình Phương, Huyền Viêm, Thế Viên...
Bình diện văn nghệ miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), nhà văn điển hình: Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo (nữ), Triều Lương Chế, Phạm - Thái - Nguyễn - Ngọc -Tân Phạm Thái kèm tên thật Nguyễn Ngọc Tân, phân biệt với một Phạm Thái khác), Chấn Phong Hư Chu. Viết tóm lược: Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ), Thiếu-Mai-Vũ-Bá- Hùng (nữ), Minh Đăng Khánh, Tạ Quang Khôi, Tường Hùng, Kiêm Minh, Nguyễn Hoài Văn, Uyên Thao, Tô Kiều Ngân... Một số nhà văn khác nổi tiếng sau giai đoạn 1956 như Võ Phiến chưa có tác phẩm xuất bản. Phải kể thêm trong số đó: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, (nữ), Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng (nữ), Võ Hồng, Thế Uyên, Tuấn Huy, Thế Nguyên, v.v... của Đệ nhị Cộng hòa (sau 1963 trở đi). Riêng về phóng sự tiểu thuyết: Hoàng Hải Thủy với Vũ Nữ Sài Gòn (3), Duyên Anh qua bút hiệu Thương Sinh, Toàn Phong với Đời Phi Công, chúng tôi chưa có cơ hội nói đến, và nhờ Vũ Ngọc Phan giúp giải vây sự khốn đốn; ... vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn... Thêm nữa, khoảng thời gian viết đến lúc in ra (dầu cho là in ronéo-typé cách vài năm). Do đó, chưa kịp nói đến Võ Phiến (Chữ Tình), (4) Thế Uyên, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Toàn Phong , Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đình Toàn, Thế Nguyên, Văn Quang (Thùy Dương Trang), Huy Trâm, Phạm Nguyên Vũ, Túy Hồng (nữ), Lê Vĩnh Hòa, Nhật Tiến, (văn) v.v... – Về thơ: Thái Thủy, Tô Thùy Yên, Tôn Thất Quán, Hoàng Khanh, Cung Trầm Tưởng, Cao Mỵ Nhân, Viên Linh, Trần Dạ Từ (khi ấy ký Hoài Nam), Hoài Khanh, Hà Yên Chi v.v... và v.v... (5).
Giá trị văn chương tiền chiến Tự Lực văn đoàn, có cả Lê Văn Trương, (tập một: Nhà văn tiền chiến), tiếp đến giá trị văn chương lửa kháng chiến; sau là hậu chiến. Đọc Bướm Trắng, Nửa Chừng Xuân. Mấy Vần Thơ, Gửi Hương Cho Gió, Vang Bóng Một Thời, Thằng Kình, Ngoại Ô, Giông Tố... không nhìn thấy đầy đủ hình tượng sống cuộc sống hôm nay được thấy trong: Gió Bấc, Truyện Năm Người Thanh Niên, Trên Vỉa Hè Hà Nội, Cánh Hoa Trước Gió, Trại Tân Bồi, Nhìn Xuống, Điệu Đàn Muôn Thuở, Đêm Giã Từ Hà Nội, Sợ Lửa, Rừng Địa Ngục.... Văn nghệ là sản phẩm phản ánh thời đại, nên Kim Vân Kiều có hay đến mức thượng thừa – cũng chưa thể đại diện cho một khoảng thời gian không tiếp nối. Tác phẩm Nguyễn Du mới chỉ nói lên đầy đủ về xã hội phong kiến giao thời mà tác giả Kim Vân Kiều sống – đủ một số điều tương đồng hiện cảnh. Không thể nói đến Kim Vân Kiều là đủ điều tất yếu hình tượng sống lịch sử. Tác phẩm của Karl Marx, S.Freud cũng bị vượt qua, hiện nay vẫn cần khối óc siêu việt Oppeheimer, Einstein, Gandhi, JP Sartre v.v...
Phải hiểu được rằng: lịch sử một nước như lịch sử văn học, luôn theo đà diễn tiến, tiếp nối không ngừng. Nói khác đi, sử học, văn học sử một nước không thể cắt quãng, cũng không tùy thuộc vào lập luận một phe nhóm nào để định giá trị vĩnh viễn. Rất cảm phục lập luận của Vũ Ngọc Phan dẫn trên kia; được gọi văn học sử, phải xét kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến tác phẩm, định rõ liên hệ (chữ dùng: TP) giữa nhà văn này với nhà văn nọ, định rõ phong trào văn học. Càng rõ hơn, được gọi văn học sử, ít ra phải làm được một bộ sách Lịch Sử Văn Chương Ngôn Ngữ Pháp (tạm dịch Histoire des littératures de la langue française) (6) do nhóm chủ trương gồm 209 giáo sư văn học thực hiện bộ sách vĩ đại ấy.
Cảm ơn số bạn giúp tài liệu, ý kiến, khích lệ, động viên, khi tôi khởi sự viết bộ sách này. Như họa sĩ Đinh Cường cởi áo, ngồi xệp trên sàn gác căn nhà trọ cùng tôi chia giúp những trang sách in ronéotypé xếp thành tập vào 1959, ở hẻm nhà thờ Lý Thái Tổ (Chợ Lớn). Uyên Thao mượn cho chiếc máy chữ, có lịch sử sản xuất cùng thời kỳ Tây hạ thành Hà Nội. Nguyễn Quang Tuyến nuôi ăn ở hàng năm, tôi ra thư viện đọc sách. Cùng với nhiều thư tình đầy tâm huyết người - tình - bậc - chị đến từ Hong Kong (nàng gọi Cảng Thơm) khích lệ người - em - bạn - tình miệt mài với chữ và nghĩa. Lại không thể quên bạn vong niên Phan Văn Thức cấp tiền ăn sáng, giấy stencil và thẩm phán Đào Minh Lượng, khi là sinh viên Trường Luật mua bánh mì dùng bữa trưa để tôi ngồi lì ở Thư Viện Quốc Gia làm mọt sách. Cũng không thể quên chịu ơn André Gide, qua cuốn sách viết phê bình về Fédor Dostoievskï (7) và cả Textes philosophiques của V.Biélinsky (8) nữa.


THẾ PHONG

CHƯƠNG HAI
SƠ LƯỢC VỀ CÁC NHÀ VĂN ĐỘC LẬP



Tiết 1 . – Viết Sơ Lược Về Các Nhà Văn Độc Lập


1. Lãng Mạn Buông Lỏng.
2. Tâm Tình.
3. Lãng Mạn Tranh Đấu.
4. Nhà Văn Phóng Sự.



Tiết 2. – Tiểu Mục :


a. Nhà Văn Tiền Chiến:

BẠCH DIỆN – Mai Lâm NGUYỄN ĐẮC LỘC – NGUYỄN TỐ – VĂN THUẬT.

b. Nhà Văn Tâm Tình Tiến Bộ:

MẶC THU – NGUYỄN ÁI LỮ – KỲ VĂN NGUYÊN – NHỊ LANG – THANH NAM – HUY QUANG – NGUYỄN THIỆU GIANG – THY THY TỐNG NGỌC – NGUYỄN HOÀNG QUÂN.

c. Lãng Mạn Buông Lỏng:


HIỆP NHÂN – THÙY LINH – THANH BÌNH – VĨNH LỘC – NGUYỄN THẠCH KIÊN – HÀ BÌNH TRUNG – Hoàng Lan - NGUYỄN–XUÂN–HUY– QUỐC ẤN – HOÀI LINH–KIM DUNG.

d. Nhà Văn Phóng Sự:


HIỀN NHÂN – ĐOÀN THU.


Tiết 3: Kết Luận Về Các Nhà Văn Viết Sơ Lược.


***

Tiết 1. SƠ LƯỢC VỀ CÁC NHÀ VĂN ĐỘC LẬP.

Bình diện văn nghệ thời kỳ này, chia ra làm hai: vùng kháng chiến (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) ở ngoài khu - miền còn lại trong các thành phố gọi là Quốc Gia Việt Nam. (trong lồng son Liên Hiệp Pháp). Giai đoạn 1946 đến 1950, một số nhà văn kháng chiến tham gia kháng chiến trở về Thành được nhắc tới trong này. Phải xác nhận một điều, đa số những nhà văn nổi tiếng từ tiền chiến hoặc tiền - kháng - chiến còn ở ngoài. Thêm một số nhà văn khởi nghiệp từ cuối thập niên bốn mươi, thập niên năm mươi vào nghề: như Triều Đẩu, Nguyễn Minh Lang, Sao Mai, Hoàng Công Khanh, Huy Quang, Nguyễn Thiệu Giang, Hiệp Nhân, Thanh Hữu, Thanh Bình, Thùy Linh, Nguyễn Hoàng Quân, Sao Mai v.v... Gọi là nhà văn buông lỏng tâm tình, còn có ý nghĩa lấy nghề cầm bút kiếm sống và danh vọng – nhưng tác phẩm chỉ là giải trí cho độc giả đô thị. Họ là nhà văn viết không chủ đích, chí hướng, lập trường - loại này văn học Pháp gọi là tài hoa son trẻ kiểu roman rose. Trong đống rác văn chương son trẻ, cũng lựa được một số đóa hoa đẹp, tươi thắm hương sắc, tạo cho bình diện văn nghệ giai đoạn 1950–1954 khởi sắc.

- Lãng Mạn Buông Lỏng.

Nhà văn tâm tình nặng về tình cảm tâm lý chung chung, sao chép hình tượng, cảm xúc, cốt tạo gây cấn ăn khách; hoặc cũng có thể dùng mánh khóe viết lách kích thích dục vọng để tác phẩm thành ly kỳ hấp dẫn. Đó hẳn không là sáng tác có hình tượng mới thời đại.

- Tâm Tình Tiến Bộ.

Là nhà văn có tác phẩm mà sáng tác khai thác hình tượng sống mới, nhưng không có chủ đề nghệ thuật. Tác phẩm hòa nhịp tình cảm cá nhân cùng xã hội, tuy họ sống trong đô thị, tư tưởng hướng về kháng chiến, và cho có chính nghĩa.

- Lãng Mạn Đấu Tranh.

Tác phẩm các nhà văn này, ở đó mới hòa nhịp có tình cảm tiến bộ cá nhân với xã hội. Lối văn này Maxime Gorki định nghĩa: biến thể ở văn học tả chân xã hội. Như chúng tôi phân tích trong tập 2; Nhà văn kháng chiến chủ lực và Nhà văn miền Nam 1945–1950, bàn về các nhà văn chuyên nghiệp tiền chiến, tiền - kháng - chiến, chiến sĩ văn không chuyên và nhà văn kháng chiến Nam Bộ: Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Hoàng Tấn, Bình Nguyên Lộc, Thẩm Thệ Hà, Hoàng Tố Nguyên, Dương Tử Giang v.v... Trong chương này dành riêng từng tiết bàn về nhà văn điển hình Nguyễn Minh Lang, Hoàng Công Khanh, Văn An, Thanh Hữu, Huy Sơn...


Tiết 2. TIỂU MỤC

Trong tiết viết sơ lược nhà văn, nhà thơ thuộc ba chủng loại. Trước hết là nhà văn tiền chiến sót lại mà chưa nói đến trong tập 1: Nhà Văn Tiền Chiến 1930 - 1945, hoặc đang sống trong Thành (Hà Nội) hoặc trong vùng kháng chiến. Rồi bàn đến nhà văn mới nổi từ năm 1948, 1949, 1950; hiện sống ở miền Bắc (Quốc Gia Việt Nam).

a. Nhà Văn Tiền Chiến còn sót lại :

Nhà văn, thơ được nhắc ở tiểu mục này: Bạch Diện, Văn Thuật, Mai–Lâm–Nguyễn Đắc–Lộc, Nguyễn Tố.

1. BẠCH DIỆN

Tên thật Nguyễn Văn Cư. Không rõ năm sinh. Tác giả nhiều truyện dã sử đăng trên nhật báo Liên Hiệp (Chủ nhiệm Soubrier Văn Tuyên), Giang Sơn (CN Hoàng Cơ Bình xuất bản ở Hà Nội từ 1950). Đã in: Việt Nam Quốc Dân Đảng (Hà Nội, 1951) sách biên khảo nói về Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Xứ Nhu... đảng quốc gia bị xử tử hình ở Yên Bái vào 1932. Tác giả là đảng viên VNQDĐ, nhờ am hiểu cơ chế tổ chức, cuốn sách có giá trị cao về tài liệu xác thực lịch sử một đảng phái quốc gia. Truyện dã sử, viết theo lối truyện dài đăng báo hàng ngày (feuilleton) rất ăn khách. Như chúng tôi gọi, tác phẩm kiếm cơm mục đích giải trí cho người đọc. Cùng thời với ông: Trương Linh Tử, Nguyễn Quỳnh… tác giả có truyện dài feuilleton ăn khách một thời ở Hà Nội vào thập niên năm mươi.

2. Mai Lâm–NGUYỄN–ĐẮC LỘC: (1897–1975) Sinh 1897 ở Hà Nam. Học qua Trường Trung Học Bảo Hộ khóa 1915 – 1918. Sang Pháp 1926 viết báo Việt Nam Hồn, ký bút hiệu Nguyễn Càn Khôn. Về nước viết cho báo: L’Argus Indochinois (1927), L’Ami du Peuple 1930), L’Union Indochinois (1934)... Sau 1950, viết cho tuần báo Cải Tạo (Chủ nhiệm: Phạm Văn Thụ, Hà Nội) và là chủ nhiệm báo Tân Dân (Hà Nội đến Sài Gòn). Tác phẩm: Mộng Xuân... (Hà Nội 1954 truyện dài). Sau Hai Mười Năm (Sài Gòn, 1964, hồi ký lịch sử)... Bối cảnh Mộng Xuân..., tác giả lên án xã hội bị thống trị, thanh niên sống không lý tưởng, thả lỏng mục đích đấu tranh dân tộc tồn vong, sống vì cơm áo, vợ đẹp, con khôn. Theo tác giả, muốn đạt mục đích này, thanh niên chỉ còn cách vùi đầu trong đường cam chịu nô lệ. Tác giả đưa ra một nhân vật có lý tưởng trong đám thanh niên Việt Hồng, nêu gương đấu tranh độc lập. Tác giả, một nhà cách mạng chưa là nhà văn; bút pháp văn phong, kỹ thuật dàn dựng nhân vật truyện chưa đạt. Phải nói cho đúng Mộng Xuân... cuốn biên khảo đường lối đấu tranh, cách diễn tả qua văn chương tiểu thuyết chưa thành công.

Ông tự vẫn giữa trưa 30–4–1975 (đường Lê Đại Hành, Sài Gòn 11).

3. NGUYỄN TỐ (19?? – 1958) . – Nhà thơ tiền chiến còn sót lại. Chủ nhiệm tuần báo Giác Ngộ (Hà Nội 1948). Cháu của thi sĩ Tản Đà, trước 1945, chuyên viết báo không nổi danh. Sau 1950, ông cho đăng nhiều thơ tình cảm hoài vọng: Người nổi gio,ù Phóng Đãng... trên báo nhà. Xuất bản: Cuộc tình duyên ngang trái (truyện, Anh Phương, Hà Nội 1954) chỉ là truyện tình cảm, tiểu thuyết giải trí nhất thời. Ông qua đời vào 1958 ở Sài Gòn.

4. VĂN THUẬT.– (19?? – 1958)

Qua đời ở Dalat 1959, không rõ năm sinh. Tác phẩm xuất bản sau tiền chiến: Tôi Mất Con (Hà Nội, 1952), Đời Cô Nhung (truyện, Hà Nội 1952)... Tôi Mất Con đời sống một gia đình lao động, Tác giả chưa chứng tỏ ông là người viết sống sâu sắc về giai cấp này; diễn đạt như giai cấp cao hơn nhìn xuống, chưa hòa đồng. Khác hơn, văn phong nhà văn có giọng văn ve vãn, mị lao động. Văn Thuật là kịch tác gia, tác giả nhiều vở kịch ngắn, dài, được công diễn. Vở kịch mới đăng báo bút danh Bao Công trên nhật báo Giang Sơn. Đời Cô Nhung chưa chứng tỏ được là nhà văn sắc sảo. Nhiều chi tiết khôi hài nhân vật trong truyện theo lối diễu, hề hạ cấp. Văn Thuật viết truyện dài chưa thành công như Triều Đẩu qua Tranh Tối Tranh Sáng. Nhận định về Đời Cô Nhung, được đánh giá như bài viết của Duy Sinh: “... Tác giả mang ra tất cả những hành động ô uế khốn nạn nhất của xã hội, đưa ra bằng những hình ảnh thật khiêu dâm để không giáo dục, không tìm cho họ lối thoát. Tác giả kéo đến năm, sáu lần ván tam cúc lục sở, do tác giả tổ chức...” (Duy Sinh, báo Đời Mới, Sài Gòn).

b. Nhà Văn Tâm Tình Tiến Bộ.

1. MẶC THU (1920 – 2002)

Tên thật Lưu Đức Sinh. Sinh 1920 ở Bắc Việt. Còn ký bút danh Chu Băng Lĩnh mang tựa đề Đảng Cần (Lao Sài Gòn, 19??). Khởi sử viết văn từ ngày đầu kháng chiến. Cộng tác với các báo Đây Sài Gòn xuất bản ở Hà Nội trước 1954. Là một, chủ trương nhật báo Tự Do (Sài Gòn sau 1954) cuối cùng chủ nhiệm tuần báo Văn Nghệ Tự Do (Sài Gòn). Tác phẩm: Thằng Bé Thợ Rèn (Hà Nội, 1953), Bão Biển (1951), Đêm Trừ Tịch (Sài Gòn 1955), Người Chép Sử (1956),...

Tập truyện Bão Biển phản ánh đời sống dân lao động, hầu hết nhân vật lao động chưa bộc lộ cá tính điển hình, kể cả đả phá và ý hướng xây dựng. Tác phẩm nặng chính trị, thiếu nghệ thuật được gọi là tác phẩm văn học. Cũng không thể tin dư luận phê bình văn chương về Bão Biển, tâng bốc quá đáng: “...một đóa hồng đột khởi trên những núi sách tầm thường đang là chướng ngại vật?...”. Tập kịch thơ Người Chép sử trước khi in sách đăng tải trên Văn Nghệ Tự Do. Tác giả dùng tích Kinh Kha sang Tần, nhưng chưa đạt ý thức của người chép sử trung thực. Thơ thiếu chất thơ, kịch thiếu tác động kịch trình diễn. Động tác kịch cần thiết (coup de théâtre) chưa được tác giả vận dụng cho vở kịch cần có là vở kịch nghệ thuật. Viết truyện ngắn, Mặc Thu chứng tỏ tài năng, so với các loại văn khác của ông. Đêm Trừ Tịch tả một nhà văn nghèo không tiền tiêu Tết, chỉ còn giải pháp đốt thật nhiều thuốc cho khói bốc, tan tù túng vây hãm. Tình tiết thật cảm động, khiến người đọc mủi lòng với nhân vật tác giả tạo ra. Ở Tết Con Chó, văn phong chua chát, đau sót, hơi văn, mạnh có sắc thái riêng. Qua đời ở Sài Gòn năm 2002.

2. NGUYỄN ÁI LỮ

Tên thật Nguyễn Duy Nhâm. Sinh 1933 ở Hà Nội. Viết văn vào những năm 1950 khi theo học Trung Học Chuyên khoa Chu Văn An. Tác phẩm đăng rải rác trên báo xuất bản ở Hà Nội: Cải Tạo, Thế Kỷ, Thanh Niên. Tác phẩm: Sóng Gió (Hà Nội 1952), Đường Tự Do (Sài Gòn 1956), đa số là tập truyện. Sóng Gió gồm tám truyện, truyện khá nhất nổi bật : Vắng Bóng Hoa Đào, Mong Đợi, Chân Trời Mới. Tác giả diễn tả vợ thương chồng, dầu anh chồng rất bạc đãi vợ, Hoàng đối với Nhân vẫn là hình ảnh đẹp, lột tả vai nhân vật đàn bà gia đình hồi cư. Ông sở trường về truyện ngắn tâm tình tiến bộ. Nhưng tập truyện Đường Tự Do mới sau này, xuất bản sau này muốn tỏ ra là nhà văn viết văn học chính trị, nên truyện không thuyết phục người đọc. Cũng như Huy Sơn, viết truyện tình cảm hấp dẫn; nhưng qua Trường Ca, gọi là tiểu thuyết chính trị thì thất bại. Muốn làm nhà văn chính trị, ít nhất phải là người am hiểu chính trị, hoặc nhà chính trị mới có viết tác phẩm thành công, nếu không, trở thành sách tuyên truyền ít tác động giá trị văn chương. Cũng như Kỳ Văn Nguyên với tác phẩm gọi là tiểu thuyết chính trị Tìm Về Sinh Lộ vậy.(mặc dầu được giải thưởng quốc gia)

3. KỲ VĂN NGUYÊN.

Tên thật Nguyễn Văn Thúy. Sinh 1923 ở Hà Nội. Viết văn từ 1945. Tác phẩm: Những Kẻ Sống Sót (1950, Hà Nội). Bài đăng tải trên báo: Hồ Gươm, Cải Tạo... như: Trên đường chạy loạn, Trăng Đẹp Ngoài Song, Xa Cách Muôn Trùng, Xưa Nay, Chuyện Một Cánh Tay... Năm 1957, xuất bản dài ở Sài Gòn, Tìm Về Sinh Lộ. Tác giả muốn trở thành nhà văn viết tác phẩm nói về văn chương Quốc gia và Cộng sản. Phần chính nghĩa theo tác giả phải thắng, nhưng tác phẩm chưa thuyết phục được người đọc, với văn giới đích thực thì lại càng không. Về mặt đúng lập trường Tìm Về Sinh Lộ được giải thưởng Văn Chương Toàn quốc 1957. Tác giả viết truyện ngắn tâm tình rất hay, như Trăng Đẹp Ngoài Song và số truyện ngắn khác viết vào thời kỳ trước 1954 ở Hà Nội.

4. – NHỊ LANG

Tên thật Thái Lãng. Sinh 1921. Từng là con rể nhà văn Nhất Linh. (Nhất Linh còn bút hiệu khác, ít phổ biến Nhị Linh). Tác giả tiểu thuyết Tương Tàn (1953) truyện dài đăng trên nhật báo Quốc Gia (Sài Gòn) mà chính ông là chủ nhiệm kiêm chủ bút. Tương Tàn tiểu thuyết tranh đấu, mô tả xung đột sâu sé giữa hai chủ nghĩa đối lập nhau: Quốc Gia và Cộng sản. Tác phẩm nhà văn chính trị có bút pháp một nhà văn tài năng vừa phải.

5. THANH NAM (1931–1985)

Tên thật Trần Đại Việt. Sinh 1931 ở Nam Định. Tác phẩm: Cuộc đời một thiếu nữ, Lỡ một đời hoa, Biết nhau quá muộn, Sau cơn binh lửa, Em ơi đợi anh về... Tác giả một số tác phẩm tiểu thuyết được ấn hành khoảng trên dưới ba chục. Ông còn làm thơ, viết báo, từng chủ trương tuần báo Thẩm Mỹ ở Sài Gòn với Tô Kiều Ngân trong những năm 1952 – 1954. Truyện dài khuê phòng lãng mạn hạ cấp, đối tượng độc giả là nữ. Thanh Nam viết chung với Nguyễn Minh Lang là một tập truyện. Thời kỳ này (trước 1954 ở Hà Nội); cả hai nhà văn viết truyện để kích thích tình dục, tình tiết gây cấn, éo le câu khách. Tả mối tình tay ba, tay tư, chương một: anh gặp em bất ngờ, chương hai: quen rồi yêu, chương ba: yêu tha thiết nhưng vì hoàn cảnh gia đình, đời sống, hoặc giai cấp thiếu môn đăng hộ đối đành chia tay, hoặc ở người tình thứ ba dẫn đến kết cục thảm khóc. Ở thể loại này, Nguyễn Minh Lang Tình Tuyệt Vọng hoặc Nước Mắt Trong Đêm Mưa, có phần hay, trội hơn, lãng mạn, văn phong hấp dẫn hơn Thanh Nam. Sau 1954 ở Sài Gòn, Thanh Nam đổi cách viết truyện, thành công hơn qua truyện ngắn đặc sắc, hình tượng nhân vật, tâm lý sắc sảo, có cá tính – nhất là truyện ngắn viết từ chất liệu tự sự tác giả. Đó là truyện Sau 18 năm, tả cuộc sống thiếu thời chịu nhiều oan khiên, khổ lụy – mẹ đi lấy chồng, sống với người thân đùm bọc, không tình mẫu tử thiêng liêng chứng tỏ văn phong một nhà văn kinh nghiệm trong nghề. Truyện dài Trăng về Sáng đăng dở dang trên báo, qua những kỳ đã đăng, chưa lên tay. Nhà văn đồng thời với Nguyễn Minh Lang, Vĩnh Lộc, Nguyễn Thiệu Giang, Huy Quang. Qua đời 1985 ở Mỹ.

6. HUY QUANG.

Tên thật Vũ Đức Vinh. Sinh 1930 ở Hải Phòng. Tác phẩm: Ngày mai anh trở lại (Cộng lực, Hà Nội, 1951), Đôi Ngả (Thế Giới, 1952), Những Mái Đầu Xanh (Thế Giới, Hà Nội 1954)...

Huy Quang viết tiểu thuyết có bút pháp khô khan, thiếu hấp dẫn, đối thoại nhân vật trong Những Mái Đầu Xanh gò bó, kém tự nhiên, kịch cỡm. Lối xây dựng nhân vật Huy Quang có mẫu người lờ đờ, mệt mỏi, thiếu hơi thở đời sống. Nhân vật chiến binh, phản ánh đời sống quân ngũ, đời học sinh đến quân đội; hẳn chưa có gì nổi bật, sôi động. Trong Đôi Ngả tuy lên tay viết, khi so sánh với tác phẩm đầu tay Những Mái Đầu Xanh; nhưng chưa đủ tạo cho Huy Quang, bản sắc văn chương nhà văn được. Văn phong một tiểu thuyết gia, cho dầu muốn xây dựng nội dung thế nào đi nữa, đầu tiên phải có ma lực thu hút người đọc; Huy Quang thì ngược lại, khô khan, tẻ nhạt – khiến nhớ đến tiền chiến, Nguyễn Đức Quỳnh có điểm giống Huy Quang bây giờ.

7. NGUYỄN THIỆU GIANG.

Tên thật Nguyễn Văn Bột. Sinh 1933. Tác phẩm: Nắng cuối thôn (1954), Nụ Cười Đô thị (Hà Nội 1954)... Bạn học cùng trường lớp với Hoàng Song Liêm, Tạ Quang Khôi... sau này cùng đồng nghề văn. Văn phong tiểu thuyết Nguyễn Thiệu Giang hấp dẫn, song tình tiết bố cục truyện chưa hẳn đạt bút pháp triển vọng trở thành nhà văn có cá tính, nếu chỉ căn cứ qua hai cuốn tiểu thuyết đã ra đời.

8. THY THY TỐNG NGỌC.

Tên thật Nguyễn Ngọc. Sinh 1925 ở Hòn Gay. Tác phẩm: Khúc Ca Thơ Ấu (Hà Nội 1952), Cu Tý (1953). Truyện viết về thiếu nhi, bởi là người phụ trách Trang Học sinh nhật báo Giang Sơn (Chủ nhiệm: Hoàng Cơ Bình). Tác phẩm nhỏ thường đăng trên các báo ở Hà Nội, ngoài Giang Sơn là Tia Sáng...

Truyện thiếu nhi mang tính chất giáo dục thiếu niên, nhi đồng; chưa nổi ưu điểm đáng ghi nhận. Ông còn viết số bài điểm sách, nhận định tác phẩm Nguyễn Minh Lang, Thanh Nam... . Nội dung điểm sách phê bình quảng cáo, (critique réclamée), như hầu hết bài được gọi là phê bình văn chương Hà Nội thời ấy. Xưa kia, Trần Trung Phương từng chủ trương Trang học sinh dành cho thiếu niên, học sinh; sau trở thành nhà văn tiếng tăm – thì Thy Thy Tống Ngọc hậu chiến phụ trách Trang học sinh nhật báo Giang Sơn mới chỉ thành một Trần Trung Phương viết về thiếu nhi yếu kém.

9. NGUYỄN HOÀNG QUÂN. – (1930–197?)

Tên thật Nguyễn Kiêm Quát. Sinh 1930 ở Sơn Tây. Tác phẩm: Khi Hoàng Hôn Xuống (Hà Nội, 1954), truyện dài Ly Sao, (đăng tải trên nhật báo Liên Hiệp, Hà Nội), Hoàng Ca, thơ 1951), Chồng Em Tòng Quân, Hương Cỏ Vàng, Kiều Thu đã xuất bản thành sách...

Truyện dài Khi Hoàng Hôn Xuống, Ly Sao, bối cảnh là người tản cư, vào 1946, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ ở lên mạn Hòa Bình. Chàng trai Thủ đô Hà Nội gặp nàng sơn nữ yêu nhau, dưới ngọn bút tài hoa nhà văn; lột tả nhân vật có nhiều cá tính, khám phá hình tượng sống rất mới qua Noọng Hà (Noọng, tiếng Thái là em). Nhân vật lấy bối cảnh ở miền sơn cước này không giống như thời đoạn sống, cảm nghĩ của nhân vật đường rừng các nhà văn tiền chiến viết về đường rừng như Lan Khai, Tchya, Thế Lữ…

Từ Nẻo Về, qua Ly Sao, hay Khi Hoàng Hôn Xuống, Nguyễn Hoàng Quân viết từa tựa giống nhau, đọc nhân vật của ông, có cảm tưởng như đã khai thác ở đâu rồi.

Nguyễn Hoàng Quân còn làm thơ, tập Hoàng Ca, xuất bản trước tiểu thuyết. Thơ ông gây được xúc động, tâm hồn tế nhị khôn hàn, nếu phải so sánh để chọn giữa Nguyễn Hoàng Quân nhà văn hay là nhà thơ, thì Nguyễn Hoàng Quân chân tài của một thi nhân làm giầu cho thi ca hậu chiến không phải nhỏ!

Trích thơ :

BỮA GẠO CHIỀU

Chân đã mỏi rời lê mấy phố
Bạn bè tình nghĩa có bao nhiêu?
Em tôi mắt nhỏ bên song cửa
Trông đợi tiền đong bữa gạo chiều.

Bụng lép ra đi từ sáng sớm
Mấy thằng bạn kiết kéo chơi rong
Chè tầu thuốc lá la cà sĩ
Bấm bụng cho qua phút đói lòng.

Thiên hạ có đi thì có lại
Kiếp nghèo tình nghĩa cũng bằng không
Bao giờ bẻ bút xoay nghề khác
Em khỏi bên thềm đứng ngóng trông.

Trở về cát bụi đầy hai túi
Em bảo : Chiều nay hết gạo rồi
Chớp chớp hàng mi tôi nói nhỏ
Kinh thành đen bạc lắm em ơi!

Thăm thẳm trời xanh như mắt em
Thơ tôi vàng úa mộng im lìm
Thơ vàng mắt thắm không ra gạo
Gạo hết em ơi vũ trụ chìm!

NGUYỄN HOÀNG QUÂN
(Trích Hoàng Ca)


c. Lãng Mạn Buông Lỏng.

1. HIỆP NHÂN.

Tên thật Nguyễn Quý Đôn. Sinh 1932 ở Hà Nội. Khi còn ngồi ghế trường Trung Học Dũng Lạc, Văn Hóa; ông đã viết văn, được sự khích lệ thầy dậy học văn Nguyễn Uyển Diễm. Tác phẩm: Linh Hồn Ngọc (1953). Viết cho các nhật báo: Tia Sáng (Chủ nhiệm: Ngô Vân), tạp chí Thẩm Mỹ (Sài Gòn). Linh Hồn Ngọc, truyện dài đầu tay, chưa phải tác phẩm xuất sắc, nổi trội – nhưng văn phong là nhà văn lãng mạn diễm tình có hạng. Ở lại Hà Nội sau 1954.

2. THÙY LINH.

Chưa rõ tên thật, năm sinh đích xác là 1935 hay 1936. Tác phẩm: Trăng Chờ (Hà Nội 1954), Mưa Bóng Mây (Tia Sáng, Hà Nội, 1954). Thùy Linh còn bút hiệu khác: Minh Đức, tác giả tập thơ Hương Mùa Chinh Chiến (Hà Nội, 1952) viết chung với Hồng Anh. Truyện dài Thùy Linh thuộc thể loại tiểu thuyết tâm tình tiến bộ, hình tượng sống thời đại, phản ánh xã hội người Hà Nội hồi cư về Hà Nội những năm trước 1954. Văn phong nhẹ nhàng, lả lướt, mượt mà như tiểu thuyết trong lành Nguyễn Xuân Huy Nắng Đào tiền chiến. Cũng ở lại Hà Nội sau 1954.

3. THANH BÌNH.

Tên thật Nguyễn Ngọc Minh. Sinh 1931 ở Bắc Việt. Tác phẩm xuất bản: Gió Sài Gòn, Dập Mưa Vùi (Hà Nội 1953), Mình Còn Trẻ Lắm (Tia Sáng, Hà Nội 1953). Sau 1954, ở Sài Gòn ông còn là tác giả những ca khúc Những Nẻo Đường Việt Nam (đã in) Tiếng Hát Bên Ni, Cung Đàn Tự Do, Gặp Gỡ Duyên Nhau. Nội dung truyện Thanh Bình cùng trong thể loại tiểu thuyết tâm tình xã hội, văn chương vô hại, mục đích giải trí độc giả trung lưu thành thị.

4. VĨNH LỘC.

Tên thật Lê Vĩnh Lộc. Sinh 1928 ở Hà Nội, nhưng sống nhiều năm ở Hải Phòng. Chính ở miền duyên hải đã đưa ông vào đường viết văn. Sau vào Nam, ngoài đời ông là công nhân nhà máy. Tác phẩm: Hửng Nắng (Phổ Thông, 1950) Trôi Giạt (truyện dài đăng trọn trên tuần báo Đời Mới, Sài Gòn – (Cn: Trần Văn Ân). Truyện dài Niềm Tin đăng trọn trên tạp chí Đời Mới và rất nhiều truyện dài truyện ngắn đăng trên hầu hết các báo, tạp chí. Trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy (Hà Nội trước 1954) là Aùo Rách, Dì Hạnh, Biển Chiều, trên tạp chí Đời Mới: Lạnh, Mưa Sang Mùa. Vĩnh Lộc còn là tác giả những bài thơ: Buổi Anh Về (đăng trên Đời Mới rất truyền cảm, xúc động. Truyện dài Hương Đắng chưa lấy gì làm nổi trội, bố cục chưa vững chắc, bối cảnh là thời gian kháng chiến, viết về thân phận những kẻ bị tàn tật, thương tích, dầu vậy vẫn cần phải sống hữu ích. Truyện dài Niềm Tin (đăng báo) ông chuyển hướng sang đề tài xã hội, nhưng khi giải quyết hướng cho nhân vật có lập trường sống chiết trung, lại lâm vào cảnh bối rối, nếu không muốn nói có tính chất mị dân.

5. NGUYỄN THẠCH KIÊN.

Tên thật Nguyễn Văn Khánh. Sinh 1926, viết báo, viết văn, cộng tác với nhật báo Thời Sự, Thời Báo, nhóm của Trần Trung Dung. Tác phẩm: Hương Lan (Hà Nội, 1951), Mầu Hoa Phượng (đăng trọn trên báo Thời Luận, 1956. (Chủ nhiệm Nghiêm Xuân Thiện). Hương Lan là tập truyện gồm 15 đoản truyện, được xây dựng trong bối cảnh dân thị thành hồi cư về Hà Nội. Chỉ là ghi chép mẫu đời sinh hoạt rất bình thường, không có gì nổi bật, nhân vật không cá tính, tâm lý chung chung, ít khám phá hình tượng sống mới. Truyện dài Mầu Hoa Phượng, đưa nhân vật sinh hoạt trong mặt đảng phái, hội đoàn tranh đấu cho lý tưởng quốc gia. Giá trị văn chương chưa mới. Nguyễn Thạch Kiên làm thơ đượm mầu sắc tôn giáo. Trích dẫn bài Chim Trắng, coi như tài liệu thơ tham khảo.

Trích thơ :

CHIM TRẮNG

Hỡi sứ giả người từ đâu bay lại
Mộng nõn nà trên đôi cánh êm tơ
Vừa trông ngươi cả lòng ta điên dại
Vượt tươi lên như thuở nhỏ trăng thơ

Đời ta lạnh đã nhờ ngươi ấm lại
Hào quang trong chiếu rạng trán ươn hèn
Đường xa thẳm những chiều đau thất bại
Đã quên vì linh cảm bóng đêm đen.

Hỡi chim trắng mông triều thiên sáng chói
Dừng nơi đâu giòng đất mung lung
Đây trần gian nhớp nhơ đời tăm tối
Ngàn năm còn vương chuyển ánh sao rung.

Sao vương mắc như rừng chiều hối lỗi
Ngửng nhìn lên non nước tuyệt mù xa
Buồn thăm thẳm trông về bao giông tố
Lệ nhân lành thương cảm bỗng tuôn ra.

Hỡi chim trắng vội bay về nước biếc
Bãi trần qua vừa một thoáng mong manh
Ta còn đứng suy tìm bao luyến tiếc
Xót sa chiều nắng quái áo phai xanh.

NGUYỄN THẠCH KIÊN.

6. HÀ BỈNH TRUNG.

Sinh 1922 tại Cao Bằng. Có thời làm chủ bút tạp chí Quê Hương ở Hà Nội trước 1954 (Cn: Bùi Đức Thịnh). Tác phẩm: Răng Đen Ai Nhộm Cho Mình, tiểu thuyết (Hà Nội 1953), Hoa Thơm (dịch thơ Pháp, tự xuất bản, Hà Nội 1952,) Anh Hoa (dịch thơ Anh, tự xuất bản, 1956 Sài Gòn). Luận đề trong tiểu thuyết trên tác giả muốn lý giải sự xâu sé giữa cũ và mới. Một thanh niên thị thành bị hai cô gái cám dỗ, một tỉnh, một quê. Sau Tuân có vợ răng đen là Thi và có tình nhân răng trắng Thiên Hương. Tuần bị Thiên Hương quyến rũ nên ở lại thành thị, sau Tuấn hối cải, trở về với vợ là Thi răng đen cho trọn tình nghĩa vợ chồng. Truyện không có gì đặc sắc, bố cục chưa hợp lý, mất phần cân bằng. Phần đầu truyện, viết rất hấp dẫn, phần sau như là hết vốn, nhạt nhẽo. Ông làm thơ và dịch thơ từ Pháp sang Việt, cuốn thơ dịch khác, từ Anh sang Việt. Thơ Hà Bình Trung nhẹ nhàng, rung cảm, bén nhậy, hồn thơ tế nhị, rung động ngọt ngào.

Trích thơ:

LẠC LOÀI

Lành lạnh mùa thu đã đến
Lá vàng lác đác rơi khô
Ai về Đất Việt xin ghi nhớ
Ta vẫn quay nhìn hướng cố đô.

Thân ở đây mà mộng gửi người
Buồn thu sơ sác lá vàng rơi
Mang mang nhớ tiếc không bờ bến
Những cái hư vô đến lạc loài.

Thân ở đây mà mộng gửi tình
Chim trời khao khát bóng mây xanh
Cây buồn lạnh lẽo phơi sương sám
Đứng tựa ven sông ủ rũ cành.

Gió nhớ mặt sông êm gợn sóng
Tơi bời đường phố lá rơi khô
Vui xa xôi lạc loài không hướng
Mộng gửi mây về chốn cố đô.

1952
HÀ BÌNH TRUNG.

7. HOÀNG LAN (1914 – 1989)

Tên thật Nguyễn Xuân Huy. Sinh 1914 mất 1989 ở Sài Gòn. Viết cho các nhật báo Giang Sơn (Hà Nội), Tự Do (Sài Gòn, sau 1954)... Phóng sự đăng trên Giang Sơn; Cốc và Cốc, Những Hạt Máu Rơi, Tắc Xình (viết chung với Búa Đanh, Những Cô Gái Muộn Chồng (viết chung với Nguyễn Minh Lang và Thanh Nam), Bí Mật Sân Khấu, Tình Vương Ý Nhạc (phỏng dịch)... Tác phẩm: Tình Vương Ý Nhạc, Sài Gòn 1955... Tình Vương Ý Nhạc phóng tác, tâm lý xã hội được Việt hóa gần gũi với không khí Á Đông. Từ danh xưng nhân vật đối thoại, cảm tưởng chuyện xảy ra đâu đó, Nhật hoặc Trung Hoa. Chính câu chuyện tình éo le lãng mạn này, một soạn giả kịch trường đưa lên sân khấu, diễn; ròng hàng tháng trên sân khấu Kim Chung ở Hà Nội những năm 1952–53.

8. QUỐC ẤN.

Trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy ở Hà Nội, Quốc Ấn xuất hiện qua nhiều truyện ngắn tình cảm xã hội, thì ở miền Nam (Sài Gòn) một Quốc Ấn khác, tác giả tập truyện Vĩ Tuyến XI xuất bản; độc giả nhầm lẫn hai tác giả là một. Quốc Ấn ở Hà Nội với các truyện ngắn tâm lý xã hội: Hương Quê, Người Đi, Trai Hà Nội, Sóng Triều, Cây Đa Bến Cũ... trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, qua văn phong và bối cảnh truyện khác hẳn tác giả Vĩ Tuyến XI. Theo như tài liệu Hồ Nam cho biết, tác giả Quốc Ấn (Hà Nội) bị công an tra tấn đến chết ở Hưng Yên (1953).

9. HOÀI LINH.

Có hai tác giả cùng xuất hiện trên văn cùng thời gian (1950–54) ở Hà Nội mang bút hiệu Hoài Linh. Tác giả Hoài Linh trong tiết này không là Hoài Linh (có tên thật Lê Trọng Duật) viết truyện ngắn đăng trên tuần báo Quê Hương (Cn: Bùi Đức Thịnh) ở Hà Nội trước 1954, Việt Chính Sài Gòn. (Cn: Hồ Hán Sơn).

Tạm gọi tác giả này : Hoài Linh (A), có những bài thơ như Gió Nhớ đăng trên T.T.T.B, và truyện Tiếng Đàn Trong Đêm Vắng (Hà Nội, 1952). Hoài Linh (A) xuất hiện trên TTTB với truyện ngắn Sau Trận Bão, nội dung tình cảm xã hội tiến bộ, chứng tỏ nhà văn chân tài. Thơ ông đọc lên đây xúc động, chân thành xót sa:

“... Có nhớ ai sống tha hương lận đận
Quên cuộc đời say thép súng muôn phương
Và hiên ngang cười giữa bãi chiến trường
Hồn theo gió lộng trên đường nghĩa vụ...”

Tiếng Đàn Trong Đêm Vắng tả về cuộc đời đôi thanh niên thiếu nữ yêu nhau khi còn trên ghế nhà trường. Nhân vật nam Đông, nữ Lan; Đông giỏi đàn, Lan hát hay. Một ngày quê hương nổi cơn gió bụi, chiến tranh bùng nổ giữa Pháp Việt, dân chúng thị thành tản cư, Đông và Lan gặp lại nhau ở Cống Thần, phiên chợ Chuông. Khi ấy Đông là chiến sĩ, và trong một trận giao tranh, bị thương, nhưng Lan không hề bỏ rơi, còn săn sóc và tình yêu nên giữa hai người thêm khắng khít. Tác giả đề cao mối tình thủy chung, giữa một xã hội lọc lừa, cả tình yêu đại nghĩa, danh lợi. Họ yêu nhau từ, gắn bó tình và nghĩa đến bây giờ. Nhân vật Lan được mô tả qua vào đoạn văn hay trích dẫn dưới đây:

“... Hai người ngồi yên lặng giây lát cùng nhau thả hồn vào hai ý nghĩ riêng biệt. Một lát sau, Lê Đông nắm chặt bàn tay xinh xắn của Tuyết Lan rồi lần lần sờ lên mặt nàng, mắt nàng, mũi nàng. Chàng âu yếm:

– Mắt em độ này còn đen không em?

...

Khuôn mặt trái soan lộ dưới ánh đèn tranh tối tranh sáng. Đôi mắt đen nhánh và hai hàm răng trắng xinh xinh, Lan nhìn chồng âu yếm như chờ đội câu trả lời. Đông vẫn dò dẫm bước theo Lan:

– Tùy đấy em ạ. Thế nào cũng được.

Nhưng chàng đổi giọng ngay:

– Nào sắp tới phố rồi, anh bỏ đàn xuống nhé.

Không chờ Lan đáp, Đôn bỏ chiếc giầy đen trên cổ, hạ cây đàn xuống và ngón tay cái như thường lệ, đã quen thuộc với công việc hàng ngày rồi, lướt qua chiếc giây âm điệu...”

Tiếng Đàn Trong Đêm Vắng tác phẩm có nội dung tiến bộ, văn phong nhẹ nhàng của nhà văn còn có tâm hồn thơ. So sánh Hoài Linh (A) với Huy Sơn, Nguyễn Ái Lữ, Hiệp Nhân... thì Hoài Linh (A) qua tiểu thuyết trên, nổi trội hơn hẳn cái đầu.

10. KIM DUNG.–

Tác giả truyện dài Người Vũ Nữ (Hà Nội, 1954); bối cảnh truyện được xây dựng khung cạnh đô thị, phản ánh một loại hình người nữ làm nghề giải trí cho giới đàn ông lắm tiền nhiều của. Khác với những phóng sự về vũ nữ, chẳng hạn như Tắc Xình của Hoàng - Lan - Nguyễn - Xuân - Huy, viết chung với Nguyễn Minh Lang, Thanh Nam – Người Vũ Nữ của Kim Dung được sắp xếp thành cuốn tiểu thuyết có lớp lang thu vén trong xã hội cỏn con thu nhỏ thật xôi động, đầy tính nhân bản trong văn chương, lại giáo dục được để hướng về chân thiện mỹ. Ngoài ra, tác giả còn tả hành động dã man, chân dung đoàn quân Phát xít Nhật đặt chân lên mảnh đất Việt Nam trong thế chiến thứ hai, cùng bọn mại bản tay sai cấu kết làm băng hoại xã hội; tất cả được phơi bày dưới ngọn bút tài hoa Kim Dung, nhà văn xã hội tiến bộ.

d. Nhà Văn Phóng Sự:

1. – HIỀN NHÂN.

Tên thật Đỗ Trọng Quỳnh. Sinh 1907 ở Bắc Việt. Qua đời năm 1999 ở Hà Nội. Nhà báo từ thời tiền chiến, trải qua đa chế độ thực dân Pháp, Nhật, Quốc Gia Việt Nam, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa... 1950, là biên tập viên nhật báo Tia Sáng ở Hà Nội (Cn: Ngô Vân), viết potin hàng ngày trong mục Tiếng Vang, sau những bài này được chọn lọc in thành sách mang tên Tiếng Vang (Hà Nội, 1951). Tiếng Vang gồm 27 truyện, những câu chuyện thời sự sốt dẻo liên quan đến đời sống thường ngày dân chúng thành thị : trí thức, lao động, chính khách, vĩ nhân, đàn bà, đủ loại người với thói hư tật xấu. Giọng văn cay độc, châm biếm, đả phá; nhưng xây dựng; có hướng giáo dục, cảnh tỉnh sự đi xuống của xã hội đương thời. Từ tiếng khóc, nụ cười, luận cổ suy kim, mượn trăng tả mây, dương đông kích tây, như lời ông biện bạch: “... rồi ra nhân loại liệu có thoát khỏi...” thương cho số phận nước nhỏ đem ra làm con cờ thí nghiệm cho nước lớn, đề cao lòng quả cảm của cá nhân ý thức như một người Nhật trong chuyện Một ông Tướng khi đầu hàng Đồng Minh xin chết với đồng bạn... Qua tác phẩm Tiếng Vang, chứng tỏ được là nhà báo có hạng, còn là nhà văn châm biếm hoạt kê, loại phúng thích chính trị sâu sắc.

2. ĐOÀN THU

Tác giả tập phóng sự tạp bút Phồn Hoa Giả Dối (Hà Nội, 1952), Đời (truyện dài (Sài Gòn 1954). Có Triều Đẩu qua Trên Vỉa Hè Hà Nội, đột tả tác phong hỗn loạn xô bồ của người dân thành thị hồi cư về Hà Nội, thì sự bịp bợm của bọn hám danh, hám lợi, hám tình, hư vị... đó là bộ mặt giả dối được Đoàn Thu đưa vào Phồn Hoa Giả Dối. Phải công bằng đánh giá tác phẩm phóng sự này có tính chất văn học cao, thì không thể nhắc đến Phồn Hoa Giả Dối Đoàn Thu và Trên Vỉa Hè Hà Nội Triều Đẩu. Nếu Triều Đẩu chưa thành công qua Tranh Tối Tranh Sáng; Đoàn Thu cũng không khác hơn với Đời, truyện dài xuất bản về sau của ông ở Sài Gòn vào 1954.


Tiết 3. KẾT LUẬN VỀ CÁC NHÀ VĂN VIẾT SƠ LƯỢC.

Hơn ba mươi nhà văn viết sơ lược trong chương này; không là điển hình. Do đó, viết sơ lược, tóm tắt độc giả đủ có khái niệm tổng quan về từng nhà văn. Qua chương sau, bàn đến số nhà văn điển hình, tất nhiên vẫn theo chủ quan của người viết xếp đặt.

Ngày 20 tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève ký kết giữa Pháp và Quốc Gia Việt Nam với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chia Việt Nam thành hai nước. Từ giới tuyến 17 ra ngoài là miền Bắc và từ vĩ tuyến 17 trở vào là miền Nam (sau gọi là Việt Nam Cộng Hòa). Do đó, một số nhà văn giai đoạn 1950 – 1954 ở lại miền Bắc, một số vào Nam. Các tác giả vào Nam vẫn tiếp tục xuất bản tác phẩm; khi nhắc đến họ, chúng tôi có ghi sau tác phẩm: tên, nơi, và năm xuất bản – như vậy người đọc biết rằng tác giả đã vào miền Nam. Những nhà văn này sẽ đề cập đến ở Phần thứ ba: MIỀN NAM 1954–1956.


...CÒN TIẾP...







© tác giả giữ bản quyền.

.tải đăng theo nguyên bản của tác giả ngày 15.03.2008.