TÁC GIẢ
TÁC PHẨM





. Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

. Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái
trong giấy tờ tuỳ thân 1936.

. Khởi sự viết văn cuối 1952.

. Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

. Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

. Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút - báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

. Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… -

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la banlieue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur - Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).





BÚT KÝ & TRUYỆN


THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 1/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E -mail 2/2

CHÀNG VĂN SĨ ĐẤT TỀ

ĐÊM DÀI TÌNH ÁI

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA -Chương 1 Kỳ 1

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 1 Kỳ 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 2/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3 tiếp theo

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 4

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 4

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 5

CON CHÓ LIÊM SỈ

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 6

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 5

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 7

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 8

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 9

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 10 - KẾT





BIÊN KHẢO


LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 1

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 2

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 3

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 4

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 5

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 6

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 7

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 8

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 9

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 10

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 11

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 12

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 13

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 14

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 15

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 16

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 17

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 18

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 19

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 20

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 21

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 22

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 23






















THAY LỜI DẪN

Lược Sử Văn Nghệ Việt Nam của nhà văn Thế Phong gồm 4 tập, đã được in 2 tập: Tập 1 NHÀ VĂN TIỀN CHIẾN 1930-1945, bản in ronéo đầu tiên ở Sài Gòn gồm 100 cuốn vào năm 1959. Bản tái bàn cuả NXB Vàng Son in 3000 cuốn ở SàiGòn vào năm 1974. Bià cuả họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi được chụp in lại trên đây , do một trong những NXB vô danh ở Mỹ in lậu ở California sau 1975 và Tập 4 : Tổng Luận đã chuyển ngữ A BRIEF GLIMPSE AT THE VIETNAMESE SCENE (from 1900 to 1956) và 2 tập 2 & 3 nói về văn nghệ kháng chiến, nhà văn hậu chiến 1900 - 1956 (văn nghệ quốc gia hay văn nghệ của VNCH) chưa bao giờ công bố trên văn đàn, mặc dù đã được lưu trữ tại một số thư viện TRONG NƯỚC (Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. HCM, Thư viện Khoa học Xã hội Tp.HCM) và NGOÀI NƯỚC như ở Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, Boston, Ithaca-New York, SIU, IOWA vv..hoặc ở Pháp, Đức, Úc..

Newvietart xin đăng tải lại một vài nhận định báo chí, văn giới về Lược Sử Văn Nghệ khi xuất bản lần đầu vào 1959 :

a) Tạp chí Bách Khoa:" ..Ông TPhong vừa cho ra một loạt phê bình văn học. Đó là ai nấy đều mong đợi, bởi vì sau một thời gian khá lâu chưa ai tiếp tay Vũ Ngọc Phan, chốc đà mười mấy năm trời' đúng một thời gian luân lạc cuả cô Kiều...."( số 56, năm 1959, TRIỀU ĐẨU)

b) Ông TP một văn nghệ sĩ thủ đô vừa viết xong và cho phát hành cuốn" Lược sử Văn Nghệ VN", trong đó tác giả phân tích các tác phẩm của văn nghệ sĩ ra đời từ 1930 đến 1945. Cuốn này được quay ronéo có bầy bán tại các hiệu sách. Sách này tác giả đã tốn nhiều công phu và sưu tầm khá nhiều tài liệu để biên soạn (nhật báo Ngôn Luận ngày 8/9/1959- Saigon).

c) ..." Điều thứ ba, sự phán đoán của anh hợp với ý tôi, phần nhiều các tác phẩm anh khen, thì tôi cũng nhận là có giá trị; những tác phẩm anh chê, thì tôi cũng không thích. các nhận xét cuả anh về Triều Sơn, Hoàng Thu Đông đều đúng cả. Đó là nhận xét của tôi; tôi phải phục sức đọc, sức viết, sức nhớ cuả anh. Cảm ơn anh một lần nữa.." (Nguyễn Hiến Lê, 12/3c Kỳ Đồng, Saigon 3- ngày 17/4/1959)

d) Nguyệt san Sinh Lực (1959, Chủ nhiệm: Võ văn Trưng- Saigon) :"...Hôm nay Thế Phong còn có thể ít nhiều nhầm lẫn-nhưng với khả năng rạt rào của tuổi trẻ, với lòng yêu văn nghệ đến đam mê, anh còn nhiều bước đi ngạc nhiên trên lãnh vực nà để đào xới lại mảnh đất hoang phê bình cảo luận bị bỏ quên trong nhiều năm. Sự cố gắng của Thế Phong là sự cố gắng hoàn toàn văn nghệ, cuả một người văn nghệ biết mỉm cười trong sự nghèo túng bản thân mình để hiến chiều dài cho văn học sử. Cũng có đôi khi ta thấy Thê Phong phê phán có vẻ độc tài và tàn nhẫn nữa; nhưng ta vẫn thấy rằng: đó là sự độc tài và tàn nhẫn không có tính cách tự cao, tự đại; hoặc dao to búa lớn; (trái lại) nhiều tinh thần thẩm mỹ, dĩ nhiên là có chủ quan. Ta quí sự nhận thức ấy- vì anh dám nói- cũng như người khác có dám cãi lại hay không là quyền của họ.." (Lê Công Tâm - Thanh Hữu, nhà văn).

e) Le Journal d'Extrême Orient (Saigon, 3 Décembre 1959)" Lược sử văn nghệ Việt nam-Hisotire de la littérature vietnamienne". Histoire sommaire de la littérature vietnamienne, òu l'auteur passe en revue les écrivains d'avant guerre 1930-1945. Cette oeuvre est tirée sur ronéo avec une tirage limitée. Fruit de minuitieuses recherches et d'une riche documentation donnée une vue d'ensemble des diverses époques et tendances des écrivains, des poètes du Vietnam, de leurs oeuvres, d'une littérature riche de plusieurs millénaires suivant le cours de l'Histoire. C'est une synthèse remarquablement coordonné annotée parle critique éminent qu'est ThếPhong qui l'achevée dans les derniers jours de Juin 1956

(đã in ở cuối sách "LSVNVN-Nhà văn tiền chiến 1930-1945 của ThếPhong, NXB Vàng Son Saigon 1974)...

Từ Vũ và Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những người muốn khách quan sưu tra sử liệu .





VÀI DÒNG TÂM SỰ NGƯỜI VIẾT SÁCH

T rước hết cảm ơn bậc đàn anh bước trước: Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh – Hoài Chân ... (chẳng là gần với tài liệu văn học tham khảo, cũng như so sánh).

Viết sách biên khảo hay phê bình, giá trị nhiều hay kém có thể nằm trong vài ý kiến dưới đây: Lập trường người viết phải có trước khi tìm kiếm tài liệu. Ấy là đã phải kể tới kiến thức, học và đọc; khả năng và tâm hồn văn nghệ nhạy cảm của người viết phê bình.

Lại cần kinh nghiệm, nhỡn quan nhìn, phải được chế biến theo lập luận người viết càng nhuyễn, sách càng phong phú. Không thể coi sách tương tự như cours nhà trường, làm thành gọi là biên khảo, phê bình văn học. Cũng như étude, non-fiction, fascicule, étude critique sur critique phân minh rõ ràng.

Tài liệu dồi dào, nhưng tài liệu nào chưa đọc, không nên bao biện. Người viết không định ý, lập luận; hẳn tài liệu phong phú dồi dào đi nữa; cuối cùng người viết chết theo với tài liệu sưu khảo được. Nhớ tới Nguyễn Hiến Lê trong một sách biên khảo bàn về tài liệu, nhất là tìm tài liệu văn học, sử học Việt Nam khó gấp bội phần khi sưu tập tài liệu tương tự ở nước ngoài. Ý kiến thật xác đáng. Nước ta triền miên khói lửa, và tầm mức thẩm định giá trị tài liệu văn học chưa được sử dụng đúng mức, công bằng.

Cộng đời sống thấp kém, ít thời giờ đọc sách, mua sách, bảo tồn sách, nên tủ sách văn học Việt Nam cần cho người viết sử dụng còn ở tình trạng rất thiếu thốn.

Khi viết bộ sách này, khích lệ tôi nhiều nhất phải kể tới một người: đó là anh Nguyễn Đức Quỳnh. Ông nhắn nhủ tôi rằng: “tài liệu nhiều chưa chắc đã là một yếu tố thành công, còn phải dám làm, dám nhận trách nhiệm”.

Đôi khi, chính kẻ dám làm lại liều lĩnh và dám biết mình ngu. Như vậy, chắc chắn tôi biết trách nhiệm khi viết sách. Cảm ơn một lần nữa nhà văn lão thành Nguyễn Đức Quỳnh, ông bạn văn tiền chiến vong niên. Nữa, cho tôi xin cảm ơn thêm vài tấm áo vải lao động: như anh chị Hai Nụ ở Xóm Chùa (Tân Định) làm nghề thợ thêu. Anh chị nuôi sống tôi hai năm trời: cơm và nhà ở. Nhà thuê vào năm viết bộ sách là một trăm năm mươi đồng. Tiền cơm bốn trăm đồng. Chưa hết, ông già Lịch bán thuốc lá, cũng ở đây; cho tôi chịu khoảng hai ngàn đồng tiền thuốc lá. Thuốc lá Ruby khoảng sáu đồng một bao. Sáu tháng liền, tôi chỉ đi ra tới ngõ; xa hơn là 147B Trần Quang Khải (Sàigòn 1) tới tiệm cho thuê sách Đức Hưng. Nơi này đủ gần hết tác phẩm tiền chiến, giấy dó Hàn Thuyên, mướn đem về đọc để làm tài liệu viết. Một người bạn nữa anh Lung cũng ở Xóm Chùa ngập nước, có một tủ sách khá lớn. Anh cho mượn và tôi sử dụng một cách sở hữu chủ. Anh từ miền Bắc vào Nam lâu, có viết báo tài tử, một người thật chân tình. Phải chăng chân tình này làm tôi cảm động, khi nghe kể đoạn đời anh tham gia kháng chiến ở Nam Bộ bị Pháp cầm tù. Đời tù đầy thêm kinh nghiệm sống, đời quất ngọn roi phũ phàng bao nhiêu, nạn nhân chịu nổi hờn đau sẽ sống lâu hơn; sau thì người ấy sẽ được liệt vào bậc tốt nhất xã hội trên mọi phương diện.Và một bạn học cũ Hà Nội : Tạ Văn Tài đạp xe đạp thăm tôi để khích lệ - trước khi anh đậu hai thủ khoa Văn chương và Luật khoa Sài Gòn rồi sang Mỹ du học.

THẾ PHONG





KỲ THỨ 23

Tiết 1

KHÁI QUÁT VỀ NHÓM CHÂN TRỜI MỚI

Nhóm này gồm ba cây bút có trình độ, liên kết chặt chẽ với nhau: Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc. Chủ trương nhóm không là sáng tác mà là biên khảo chính trị.

Chẳng khác nào một nhóm Hàn Thuyên trong giai đoạn kháng chiến bổ sung ở miền Nam. Quan niệm sáng tác tân tả chân: phê bình là duy vật sử quan. Sự khai triển duy vật sử quan tùy theo tri thức tiếp nhận của ba nhà văn ấy. Cũng đề cao lối tự phê (auto-critique) lột xác như Jdanov; cho nên Tam Ích đả phá Nhất Linh, Khái Hưng theo quan niệm biện chứng duy vật sử quan.

Hãy cùng đọc:

“… Về nghệ thuật tiểu thuyết, không phải mỗi lúc lại có thể có được một Khái Hưng hay một Nhất Linh. Phải bao nhiêu năm mới kiếm được những văn sĩ ấy. Chỉ tiếc một điều là phần nội dung nghệ phẩm của họ không hợp trào lưu và đứng trên phương diện ý thức hệ, thì nghệ sĩ này đã đối lập với nghệ sĩ kia…”(Văn nghệ và Phê bình, Nam Việt xuất bản 1949).

Chúng tôi trả lời câu hỏi này ở đoạn kết nói về Khái Hưng(28) và tiểu mục về Nhất Linh. Đôi Bạn là cuốn tiểu thuyết như thế nào? Đả đảo phong kiến hướng dẫn cách mệnh, vậy ở giai đoạn tiền chiến lại là yêu nước. Yêu nước trong giai đoạn ấy là đuổi Pháp ra khỏi biên giới nước Việt tạo lập một quốc gia độc lập. Ý thức hệ quốc gia không cần bàn tới trong khi Pháp còn trên đất nước, đuổi xong Pháp, người ta sẽ liên hiệp để cải biến quốc gia theo một hình thức nào thích nghi, với diễn biến lịch sử dân chúng đòi hỏi.

Chẳng hạn thành lập cộng hòa hay quân chủ lập hiến, tùy ý. Sự đả kích của Tam Ích mà ông cho rằng ý thức hệ đối lập với nhau, chỉ vì ông cho rằng nó khác với Mác xít mà thời ấy ông, nói riêng, nhóm Chân Trời Mới, nói chung, tin rằng thích nghi để canh tân lịch sử theo đà tiến hóa mới.

Nay nhóm ấy đã từ chối lập luận Mác xít để phê bình văn chương Việt Nam mà trưởng nhóm (chef de file) cho rằng trước đây chỉ là giai đoạn thử thách, nghiên cứu, học hỏi mà thôi. Cũng không lấy gì làm lạ về thái độ chuyển biến này. Một Jean Paul Sartre từ chối tham gia Hội Pháp Nga thân hữu (Alliance franco-russe) sau 1935, một Henri Lefèbvre trung ương ủy viên kiểm soát chính trị đảng Cộng sản Pháp, kể lại thành tích 30 năm đảng viên của ông trong bài L’exclu s’inclut đăng trên báo Les Temps modernes của Jean Paul Sartre, tháng bảy 1958.

Cũng chính lý do Nga đàn áp nhược tiểu quốc: Ba Lan, Hung, vào năm 1956, sai lạc hẳn lý thuyết mà Henri Lefèbvre đã tán dương (Tác giả những cuốn Marx (Que sais je), L'existentialisme (Sagittaire, 1946) Critique de la vie quotidienne, Pour connaitre la pensée de Karl Marx (Bordas) viết tựa cuốn sách dịch của Politzer La liberté humaine (nguyên bản của Schelling). Và chính Politzer, đại lý thuyết gia đảng Cộng Sản Pháp, tác giả cuốn sách triết học Principes fondamentaux de la philosophie” tôn Henri Lefèbvre bậc thầy.

Hay minh chứng trong đời sống các nhà làm nghệ thuật Pháp, một André Gide, tác giả Retour de l’URSS sau để viết lại Retouche le retour de l’URSS(29). Một Charles Plisnier (Belgique) đã từng Sois remercié Staline trong cuốn Faux passeport (Corrêa), một Panaðt Istrati nhà văn Lỗ Mã Ni (Roumanie) viết văn bằng tiếng Pháp đã thất vọng tìm một nhân bản mới trong Vers l’autre flamme. Còn bao nhiêu trường hợp tương đồng như thế nữa…

Cũng chẳng riêng gì một Chân Trời Mới về sau; trước kia còn có một Hàn Thuyên. Cùng một ý nghĩa(30).

Tiết 2

TAM ÍCH

Tiểu sử.

Tên thật Lê Nguyên Tiệp. Sinh năm 1918 ở Thanh Hóa, chính quán ở Quảng Ngãi. Tác phẩm đã xuất bản: Văn nghệ và Phê bình (Nam Việt, 1949), Nghệ Thuật và Nhân Sinh (1949) viết chung với Thê Húc và loại sách (Tìm hiểu biện chứng pháp), (dịch POLITZER, Tủ sách Chân Trời Mới) gồm Tam Ích, Thê Húc và Thiên Giang chủ trương.

Phân tích tác phẩm chính.

Trong tập sách này chỉ phê bình về văn nghệ và không chủ ý phê bình học thuyết chính trị. Cho nên những cuốn Tìm hiểu biện chứng pháp không nói đến cả Nghệ thuật và Nhân sinh cũng không nhắc tới; mặc dầu quan niệm tiếp nhận chủ nghĩa Mác của nhóm này có phần cực đoan(31) Thứ nhất, phản đề bằng cách phủ nhận sự nghiệp quá vãng các nhà văn tiền chiến. Cùng đọc một vài dòng ông trang tặng các nghệ sĩ lột xác; thì nào có khác gì cuộc môi giới trước khi bước vào chỉnh huấn. “… Trang tặng tất cả những nghệ sĩ tiền cách mạng đã phủ nhận xu hướng nghệ thuật cũ của mình...” Như vậy theo ông, thì Khái Hưng cũng như Nguyễn Tuân không nên có quá vãng; mà ông cho là không hợp thời. Hẳn rằng trong lúc các nhà văn tiền chiến sáng tác chống phong kiến và hướng dẫn cách mệnh, thì ông Tam Ích và nhóm Chân Trời Mới ngồi chờ hoàn cảnh nào đúng ý thức hệ mới tham gia. Và điều đó, chúng ta thấy rằng nhờ có kháng chiến bùng nổ, thì các nhà văn lý luận như Tam Ích mới có cơ hội nói về ý thức hệ Mác.

Phê bình Khái Hưng ông viết:

“… Cái thế giới của Khái Hưng tạo ra những gì? Mỗi nhân vật của Khái Hưng chỉ là một thế giới biệt lập, người này cảm thông riêng với người kia, nói chuyện riêng của một số người riêng. Cái thế giới ấy đã tạo ra được một số thanh niên lãng mạn vậy thôi. Có ai muốn xây dựng một cuộc đời lý tưởng, một xã hội lý tưởng hẳn là phải xây dựng trên một hạng người khác chứ không thể xây bằng một cậu Ngọc, một cô Tuyết, một ông giáo Chương hay một họa sĩ như Nam. Phát nguyên của nghệ thuật Khái Hưng là ở một thế giới riêng, chứ cứu cánh lại cũng ở đó. Ở chỗ khúc quanh của lịch sử, thế giới của Khái Hưng phải đổ, có gì là lạ...

“… Chỉ có thế giới nào làm lịch sử mới sống. Maxime Gorki chết lâu rồi, thế giới của Gorki tạo ra trong cuốn “Người Mẹ” vẫn là một thế giới linh động và sống lâu…”(trang 34).

Phê bình Khái Hưng của Tam Ích hỏng trên nguyên tắc, vì:

– Phê bình một chiều theo biện chứng pháp tiếp nhận cầu may của Mác.

– Phê bình một tác phẩm nào không chịu đặt tác phẩm ấy song hành với hoàn cảnh ấy.

– Thiếu điều kiện so sánh tác phẩm với hoàn cảnh xã hội.

Chúng tôi sẽ phân tích từng điểm ba tiểu mục trên, mà ông Tam Ích đặt cơ sở nhận định về sự nghiệp Khái Hưng.

I) Phê bình một chiều theo biện chứng pháp tiếp nhận cầu may của Mác.

– Tại sao chúng tôi lại gọi là phê bình theo biện chứng cầu may của Mác (đã bàn khái quát ở trên). Là phê bình sự kiện hôm qua bằng con mắt hôm nay chỉ là một thái độ phản đề xuống dốc nhất, tức là đả kích quàng xiên, gián tiếp bắt mọi người thừa nhận giá trị đưa ra. Nếu tạm theo phương pháp phê bình của ông, thì không một tác phẩm cổ điển nào mà không thiếu điều kiện tương đồng với ý thức hệ của ông Tam Ích quan niệm cả.

II) Phê bình một tác phẩm nào không chịu đặt tác phẩm ấy song hành với hoàn cảnh song hành. – Như ở trên đã biết sự tai hại đốt giai đoạn (bruÂler les étapes). Một khi đốt giai đoạn, thì tất cả những giá trị có, chỉ là giá trị giai đoạn, tự mình làm rồi lại phá đi rồi làm lại chỗ phá đi khi cần. Tỷ dụ hôm nay đề cao Vũ Trọng Phụng, hẳn không phải Vũ Trọng Phụng viết theo chủ nghĩa hiện thực, ngay từ khi viết sách; nhưng ở tác phẩm Vũ Trọng Phụng có điều kiện tương đồng có thể khai thác thích ứng với phương tiện của duy vật sử quan ở giai đoạn ấy.

Còn những tác phẩm khác hay chăng nữa, không thích ứng và thấy có ảnh hưởng bao trùm đối nghịch là đập phá và gán cho tác phẩm ấy không giá trị. Trường hợp này trả lời cho Đẹp của Khái Hưng mà ông Tam Ích thấy rằng không đúng với lập trường của ông – bởi Nam là một họa sĩ tiểu tư sản.

III) Thiếu điều kiện so sánh tác phẩm với hoàn cảnh xã hội. – Mạt sát, lên án Khái Hưng nghĩa là lên án chung cả một Tự Lực văn đoàn; nghĩa là chế độ cấu kết văn hóa của Tự lực văn đoàn chẳng khác mấy với chế độ tín nhiệm một vị bộ trưởng của một chế độ nội các thủ tướng.

Đề cao Maxime Gorki rồi đem so sánh với Khái Hưng, cho Khái Hưng là một tiểu thuyết gia có cũng không hại gì hoặc có đôi khi còn có hại; rồi lại đặt câu hỏi tại sao Khái Hưng lại không viết lại Người Mẹ Việt Nam của M.Gorki Việt Nam?

Đó là một lối ngụy biện, so sánh của biện chứng pháp. Chẳng hạn khi định nghĩa một vấn đề gì, không bao giờ thảo luận về vấn đề liên hệ đến vấn đề ấy, mà tìm tỷ dụ khác đối tượng, rồi kết luận đối tượng ấy không đúng, vì nó sai với sự kiện tỷ dụ so sánh kia. Chúng ta nên nhớ rằng trong giai đoạn Pháp chiếm đóng Việt Nam, hệ thống công an, lưỡi lê, súng tận răng, mà Tự Lực văn đoàn còn có một Đôi Bạn lên án quan liêu, đề cao cách mệnh, là một sự kiện cần nhận chân giá trị.

Chúng ta nên nhớ rằng Người Mẹ của M.Gorki viết đề cao kháng chiến, đạp đổ Nga hoàng sau thành công vĩ đại, vì lực lượng chính trị cách mệnh kháng chiến Nga đặt ở ngoại quốc. Và khi Gorki viết cuốn Người Mẹ ấy, không phải Khái Hưng, Nhất Linh, Tự Lực văn đoàn ở trong xứ viết Đôi bạn, Tiêu Sơn Tráng Sĩ… mà M.Gorki viết ở Capri trước khi họp ở Luân đôn vào 1907. Như vậy thử hỏi rằng sự kiện tìm vật so sánh là một điều kiện quan hệ. Không thể nào tìm một sự vật so sánh với sự vật khác mà hai cái không ăn nhập với nhau. Chẳng hạn, chê người đẹp hơn con rệp đẹp… Cho nên khi chúng ta thấy ông đề cao Ehrenbourg ở những trang 36, hoặc Howard Fast; vì họ là nhà văn nòng cốt có lợi cho ý thức hệ mà ông đang theo đuổi.

Kết luận.

– Vẫn một lập luận như trên, ông phê bình Nguyễn Khắc Hiếu, Hồ Hữu Tường, Xuân Diệu và ca tụng Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân lột xác… Chúng tôi chỉ đồng ý rằng phê bình một nhà văn thơ nào phải đặt ở bối cảnh chính trị song hành…

Sau 1954, ông Tam Ích có sự chuyển biến quan niệm khi viết nhận định văn học (các bài viết phê bình thơ Vũ Hoàng Chương trên báo “Nguồn Sống Mới” 1954); chúng tôi muốn nói đến sự chối bỏ duy vật sử quan phê bình văn chương. Bằng chứng, có thể căn cứ vào câu trả lời của chính ông trong bài Nhà văn Tam Ích theo thuyết hiện hữu? (Nhân Loại, bán nguyệt san bộ mới số 1, ra ngày 22–8–1958 do ông Ngọc Linh thuật lại:

"Riêng anh Tam Ích, anh hứa sẽ viết những bài viết về văn hóa, nói chung, về văn nghệ, nói riêng; để bầy tỏ ý kiến một cách phong phú hơn. Con người trước kia thường viết về chính trị (vào thời 1946, 1947. 1948) và về phê bình văn nghệ từ 1948, hình như ít nhiều thay đổi về chi tiết, về thái độ tri thức của mình”.

Và chính Tam Ích trả lời thái độ về mình; chúng tôi không phê bình, cũng không nhận định rằng hiện tại ông đứng trong lập trường nào? Và chỉ làm một việc ghi lại các giai đoạn tư tưởng diễn biến của ông Tam Ích mà thôi:

“TAM ÍCH: – Xưa kia tôi chưa từng áp dụng triệt để phương pháp duy vật biện chứng trong những bài phê bình văn học của tôi. Tôi là người ham học, ham tìm hiểu; tôi nghiên cứu thuyết ấy cũng như tôi đọc kỹ bộ Nho Giáo của Trần Trọng Kim chẳng hạn… Nói rằng xưa kia tôi đã thử thách thì đúng hơn…”

Tiết 3

THÊ HÚC (32)

Tác phẩm của Thê Húc viết chung với Thiên Giang Dân Chủ và Dân Chủ, Tìm Hiểu Biện Chứng Pháp (dịch Politzer), Nghệ Thuật và Nhân Sinh (viết chung) và cuốn duy nhất của ông là cuốn truyện dịch quốc tế Tia Nắng, Tủ sách (Chân Trời Mới, Nam Việt ấn hành 1949).

Sự kiện thâm nhập văn nghệ giữa quốc gia này với quốc gia kia (Interpénétration des littératures) là một sự kiện cần thiết. Nước Pháp có thể gọi là nước đã thể hiện phong phú vào bậc nhất những tác phẩm chọn lọc của ngoại quốc, đủ loại văn học và kỹ thuật được in ra. Ở nước ta trình độ hưởng thụ, tiếp nhận, dịch thuật còn trong thời kỳ phôi phai nên chưa phổ biến được tác phẩm dịch nhiều (nói chung).

Tia Nắng thu góp văn phẩm quốc tế hoặc hồi ký những nhà văn nổi tiếng; Carlos Monternegro (Cuba), Jtanislaw Palinski (Ba Lan), Lev Nikoulin (Nga)vv... Cuốn ấy gồm những truyện được Việt hóa qua các nhan đề: Thu về chim hạc sang ngang, Bạch phu nhân, Ông thầy bói, Đoàn xe lửa nổi loạn, Đức thánh hàng hải.

Trước khi nhận định về quan niệm dịch thuật, thường ra hay mắc phải tật cho rằng hễ nói đến nhà văn Nga, Ba Lan, là nghĩ ngay đến vấn đề mất lập trường chính trị. Thực ra không hẳn thế, rất nhiều nhà văn Nga, Ba Lan có tinh thần quốc gia xã hội chứ không hoàn toàn là Mác xít. Tỷ dụ Maxime Gorki, nhà văn đúng nghĩa, khi thành công cách mạng ở Nga, ông lại phản đối Lénine và chính vì thế Lénine cho ông xuất dương sang Capri (Ý Đại Lợi)… hoặc Lỗ Tấn, Ba Kim, Lâm Ngữ Đường(34) từng dùng duy vật biện chứng phục vụ Mác xít một thời gian rồi trước hoặc sau đã có một thời phục vụ văn nghệ theo tinh thần dân tộc. Như một Ả. Q. Chính Truyện, một Lạc Thú Ở Đời (Importance of living) là một tỷ dụ. Thê Húc dịch truyện còn là một thái độ sáng tác. Vì ông phải chọn lựa sáng tác thích thú nhất thì động tác ấy cũng phải mất công lao hòa đồng sáng tạo diễn dịch sang Việt ngữ. Những truyện trong tập Tia Nắng hầu hết là chọn lọc như Ve kẹo đường của Carlos Monternegro mang một triết lý nhân sinh đầy thú vị. Phê bình Thê Húc, Hoàng Hạ Huệ viết (35):

"... Cả ý nghĩa lâm ly của Ve kẹo đường chẳng những là bức tranh truyền thần của cả một xã hội trần truồng mà còn là một tài liệu đã đánh giá cả một giá trị nghệ thuật của cả hai nhà văn Carlos Monternegro và Thê Húc...”(trang 72).

Thê Húc việt hóa một cách rất thoải mái, người đọc cảm thông được với nhân vật chính một cách gần gũi, một cảm tưởng rất Việt Nam, nghĩa là từ cách chuyển nhân vật chính của xứ sở Cuba sang thái độ, hành động, hình tượng như nhân vật Việt Nam.

Thê Húc đã làm một việc rất có ích, bổ sung nền văn học nước nhà thêm phần phong phú, cũng như Thiên Giang dịch cuốn La fille du capitaine (Giữa chốn ba quân) của Pouckhine. Và Thê Húc (Phạm Văn Hạnh) còn là thi sĩ tiền chiến trong Xuân Thu Nhã Tập (tác giả tập Giọt Sương Hoa).

Tiết 4

THIÊN GIANG (1911–197?)

Tên thật Trần Kim Bảng. Sinh năm 1911, ở Đà Nẵng, anh ruột nữ văn sĩ Hợp Phố. Tác phẩm đã xuất bản: Văn Chương và Xã Hội( viết chung), Nghệ Thuật và Nhân Sinh (viết chung), Tìm Hiểu Biện Chứng Pháp (viết chung), Dân Chủ Và Dân Chủ (viết chung), Lao Tù( NXB Việt Nam), Giữa chốn ba quân (Đông Phong), dịch Lịch Sử Thế giới (chung với Nguyễn Hiến Lê, NXB Nguyễn Hiến Lê)…

Thiên Giang viết ba loại: biên khảo, dịch thuật, sáng tác. Về biên khảo và dịch thuật, trong lập trường duy vật sử quan, chúng tôi phê bình ông Tam Ích và bao trùm chung cho Thê Húc, Thiên Giang. Tập truyện LAO TÙ hiện nay là sáng tác độc nhất của Thiên Giang cũng như nhóm Chân Trời Mới.

LAO TÙ gồm : Mẹ Con, Tình Người Chuột, Miếng Thịt Heo và Ông Bạn Già, Dưới Nắng Hè, Nguyện Vọng Cuối Cùng, Người Bạn Đường Của Tôi, Trong chỗ quạnh hiu.

Hai truyện đặc sắc nhất là Mẹ Con và Tình Người Chuột. Tập này hoàn toàn khai thác đề tài lao tù, gần như là hồi ký tác giả, cũng như đồng đội chiến đấu. Ngay ở đầu, ông viết :

“… Thế mà có những người thản nhiên đi vào nhà tù, đầu họ đã biết chỗ đó một ngày ngàn thu và đã vào đó rồi, lắm khi họ muốn làm một con muỗi để hưởng đôi chúc tự do.

Họ đi vào đó một lần

Họ đi vào đó hai lần

Và bao nhiêu lần nữa

Và có khi họ ở trọn đó một đời…”

Trong đời người, nhất là người bị tù vì yêu nước, khát tự do, độc lập, thật đáng kính! Ở nước ta thời khi thực dân thống trị, biết bao nhiêu thanh niên bị tù đày. Ở đây, Lao Tù, hồi ký của thanh niên ở trường hợp ấy. Có những bà mẹ một con, con một mẹ, bỏ gia đình theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc lâm nguy ra đi, không ham sống đời bình thường. Và tình mẹ con không bao giờ xa cách, dù hoàn cảnh khe khắt dến đâu chăng nữa? Thiên Giang giới thiệu với chúng ta một pha cảm động của mẹ con gặp nhau trong nhà tù. Phút thiêng liêng ấy chỉ được kéo dài mười lăm phút:

“... Đây là muối mè, đây là cá kho, đây là thịt nguội, đây là chè… Mẹ đem những vật này cho con. Và đây là những món quà cuối cùng của mẹ. Con mạnh giỏi không?

Vì ước mong con mình mạnh giỏi ở chỗ nước độc ma thiêng, bà quên con bà ở tình trạng nào?

Tên lính giục:

– Gần hết giờ.

Giờ khắc cay nghiệt quá, nó sấn tới để bứt tình mẫu tử của người ta.

– Còn lại hai phút nữa thôi.

Tên lính cho hay một cách lạnh lùng.

Bà mẹ già cởi chiếc áo nâu ngoài, cởi cả chiếc áo cụt và cởi luôn chiếc áo cánh, bà trao áo cánh cho con, bảo :

– Con giữ chiếc áo này, khi nào nhớ đến mẹ con bận để lấy hơi. Mẹ đến thăm lần này để chết…”(trang 31–32).

Tình thương cao độ của một trong muôn vàn người mẹ có những đứa con ra đi không bao giờ trở lại, được ông diễn tả lại rất linh động và chính là sự kiện của đoạn đường ai có qua cầu mới hay. Và đây là tâm trạng người con trai gặp mẹ:

"... Mặt trời đổ nắng chói lòa. Tiến ngồi trong trại đan, vừa chuốt nan vừa nhìn lên cây xoài. Một con chim vừa bắt được con sâu, nhẩy lần về tổ.

Mặt Tiến trầm ngâm, người ta đoán được chàng nghĩ tới bà mẹ già. Nhưng chàng mỉm cười tự hào: Sau khi ta bị bắt, nhà cửa tan tành, cha mẹ anh em phải bỏ quê hương đi tìm sinh kế ở một xứ xa, ta không sợ mẹ ta sẽ vượt nghìn trùng để đến đây.

– Im và làm việc.

Ông xếp tới, người lính canh trại cho hay.

Tức thì mọi người đều chăm chú vào việc mình làm, mặc kệ thời gian trôi, lôi cuốn nó theo tất cả việc đời...”

Tình Người Chuột, người đọc nhớ đến một truyện của John Steinbeck Of mice and men. Thật là một câu truyện hòa đồng giữa người và vật. Ở Steinbeck, đó chỉ là giải quyết nỗi lòng chán chường của nhà văn sống trong xã hội tư bản chán tình người, để rồi rút niềm ẩn ức viết áng văn bất hủ về Người và Chuột. Thì Thiên Giang chung đề tài ấy; nhưng hoàn cảnh sống đã trải qua một tài liệu thực kết bằng máu và xương, kinh nghiệm sống thực viết hồi ký nhớ chuột. Vào tù, tác giả sống cô độc trong hầm nhỏ (cellule) thì chỉ còn chuột đến thăm. Lá thư viết rất linh động, bất hủ của tác phẩm nhỏ bé nhưng giá trị. Từ mối căm thù đổi thành một tình thân giữa chuột và người, Thiên Giang hẳn là nhà văn giàu nhân loại tính xây bằng lớp vữa để sinh vật này cảm thông nổi với sinh vật kia.

Và tình yêu mến ấy, Thiên Giang tả lại hay như thế nào?:

“... Bạn có nhớ không? Chính lúc tôi cầu xin một chút yên tĩnh, để mà sống thì bạn đã đang tâm dầy xé thêm cái thân hình dở sống, dở chết của tôi. Bạn và bà con đã ngấu nghiến một cách ngon lành những miếng máu đọng trên lưng trên đầu, trên bụng, trên tay chân của tôi, và hôm nay tôi còn rùng mình khi nhớ đến bộ răng bé nhọn của bạn đã gậm những miếng thịt thười lười trên thân thể tôi…… Có ngờ đâu sau cái đêm ấy chúng ta lại có thể trở nên đôi bạn chí thân…”(trang 10).

Sống trong tù phải nuôi hy vọng gần gũi nhất đối với mình là phải mượn hình ảnh người đi trước đau khổ, để tự an ủi.

Sự kiện tâm lý xác đáng này được Thiên Giang nhớ đến Bakounine: (35)

“… Ngày xưa nhà cách mạng Bakounine bị giam chín năm, không thấy một người, không biết có ánh sáng, trọn ngày chỉ nghe những tiếng giầy của tên lính gác làm khuây. Thì ngày nay tôi có vợ chồng bạn, đôi sinh vật xinh xắn, mắt sáng đuôi dài, lông mượt, bộ tịch lanh lẹ…”

(...)… Và có một buổi, người tù được trả lại tự do trong một phút bất ngờ mà thâm tâm chỉ dàm nghĩ rằng đó là đi lĩnh cơm, cho nên không tiễn biệt được đôi bạn chung đời...”

Thiên Giang ghi lại hình tượng nhớ mong luyến tiếc của sự quen lệ đến bữa cơm mà vắng bạn đời, hẳn chuột buồn lắm. Mà cả đến tình người nhớ chuột cũng không kém. Đoạn văn ấy đẹp như bài thơ hay:

“… Chúng ta gặp nhau mùa xuân, nắng ấm trời trong… – Phút chia tay lại làm cho chúng ta, nhứt là tôi chín gan nẫu ruột, cái cảnh phân ly của ta còn đau đớn hơn cảnh phân ly của đôi vợ chồng son trẻ, chưa vui xum họp đã sầu chia phôi…”

Từ đó đến đây, mười lăm năm qua, mỗi độ đông tàn, xuân đến là mỗi lần tôi lại tan nát cõi lòng. Nhưng bạn ơi, việc đời là thế, biết ăn nói làm sao bây giờ?

Hôm nay, trong lúc người ta đua nhau may áo lông cừu gửi ra mặt trận cho những kẻ chịu đau khổ để tạo nên cảnh yêu vui, thì tôi lại nghĩ đến cái tình giữa bạn và tôi.

Hơn mười lăm năm qua, sự đời vẫn không có gì thay đổi, loài người chúng tôi vẫn tiếp tục giết tróc lẫn nhau…” (trang 47).

Lao Tù chỉ cần hai truyện ấy đủ tạo thành hội xuân loại văn tân tả chân ở giai đoạn văn nghệ bổ sung kháng chiến rồi.

Về dịch thuật, Giữa Chốn Ba Quân của Pouckhine, tác giả mạt sát, lên án bọn quan lại của thời phong kiến Nga Hoàng rất điển hình.

Nếu Pouckhine đã thành công trong chính tác và sự diễn đạt qua Việt ngữ của Thiên Giang đã tỏ rất thận trọng khi dịch thuật, bình văn. Bình luận về Pouckhine trong Giữa Chốn Ba Quân (La fille du Capitaine), Thiên Giang nhận xét cho là cải cách, vì sự thỏa hiệp của nhà văn đối với Nga Hoàng, nên không dám nghĩ đến cách mạng toàn diện.

Về sáng tác, Thiên Giang là nhà văn chủ lực trong nhóm Chân Trời Mới với lối văn định hướng, diễn đạt thể văn tân tả chân; tuy ông chưa thành công lắm trong địa hạt tiểu thuyết – nhưng trong giai đoạn ấy ông là một nhà văn đáng kể.

Truyện ngắn Thiên Giang mang hình tượng thời thế, nhân vật có tinh thần tranh đấu, song về nghệ thuật viết thì nhiều truyện chưa hấp dẫn; nghệ thuật chưa cao. Văn khô khan ở các truyện ngắn trong Lao Tù (trừ hai truyện kể trên) không khác gì vở kịch thiếu biến động kịch khiến nên buồn nản.

Thiên Giang đi vào loại tiểu thuyết tả thực ấy và nếu trau dồi nghệ thuật lên cao hơn, tất ông trở thành nhà văn xã hội chính trị nổi tiếng của bình diện văn học kháng chiến Nam Bộ thập niên 1950.

Tiết 5

KẾT LUẬN VỀ NHÓM TAM ÍCH

Sau nhóm Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà và các nhà văn độc lập, nhóm Tam Ích kháng chiến bổ sung góp một Thiên Giang, một Thê Húc, những nhà văn có nhiều khả năng văn nghệ và tài năng.

Ngoài Tam Ích ra, hẳn Tam Ích không là một Trương Tửu hoặc một Nguyễn Đức Quỳnh còn sáng tác mà Tam Ích chỉ là nhà chính trị chuyên lý luận biện chứng pháp tiếp nhận Chủ nghĩa Mác cầu may. Nhưng phải nhận rằng Chân Trời Mới góp công vào văn học kháng chiến bổ sung đáng kể.

Nếu một Voronsky-Trương-Tửu của Hàn Thuyên coi như một thí nghiệm văn hóa, một Tam Ích đã bị coi như là nhóm trí thức kháng chiến xa lông (résistance au laboratoire). Hẳn rằng sự chuyển hướng nhóm này đã bắt đầu bằng Thiên Giang quay sang giáo dục thuần túy. Phê bình nhóm Tam Ích qua duy vật biện chứng, chúng tôi chỉ căn cứ ở giai đoạn đó, không liên lạc gì về tư tưởng biểu hiện diễn tiến hôm nay. Và chúng tôi đã nói sự diễn tiến nhóm ấy ở phần khái quát và mỗi tiết nói về mỗi cây bút.

Phần thứ Ba

NHÀ VĂN ĐỘC LẬP ĐIỂN HÌNH

Tiết 1 : – KHÁI QUÁT VỀ NHÀ VĂN, THƠ ĐỘC LẬP ĐIỂN HÌNH

Tiết 2 : – HOÀNG TẤN

Tiết 3 : – BÌNH NGUYÊN LỘC

Tiết 4 : – HOÀNG TỐ NGUYÊN.

Tiết 1

KHÁI QUÁT VỀ NHÀ VĂN, THƠ ĐỘC LẬP ĐIỂN HÌNH

Các nhà văn độc lập, là nhà văn không đứng trong nhóm nào cùng thảo luận, sáng tác và có sinh hoạt văn nghệ chung.

Ngoài các nhóm Lý Văn Sâm và Chân Trời Mới còn có các nhà văn độc lập như: Hợp Phố (nữ), Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Quốc Ấn, Vũ Xuân Tự, Liên Chớp, Việt Tha, Bùi Nam Tử, Võ Hoàng Khanh, Phạm Thu Cảnh… Về biên khảo, bình diện văn nghệ miền Nam, nói riêng, thật vô cùng nghèo nàn. Quay đi quay lại cũng vẫn chỉ có một Thiếu Sơn, một Nguyễn Bảo Hóa, một Tam Ích, một Triều Sơn...(36)

Riêng Thiếu Sơn tiền chiến, chúng tôi đã viết ở Nhà Văn Tiền Chiến, 1930-1945. Thiếu Sơn hậu chiến không có gì đáng nói, vì xét rằng ông đã phát triển khả năng tận cùng ở giai đoạn trước rồi.

Các nhà văn độc lập điển hình như Hoàng Tấn thiên về đấu tranh xã hội, Bình Nguyên Lộc lãng mạn cách mạng…

Về thơ, đề cập đến hai nhà thơ điển hình là Hoàng Tố Nguyên và Vũ Anh Khanh .

Tiết 2

HOÀNG TẤN

Tiểu sử.

Hoàng Tấn tên thật Hoàng Đức Tấn, sinh 1920 ở Hà Nội. Tác giả tập bút ký CỨU LẤY QUÊ HƯƠNG (Nam Việt, 1949) và tác giả nhiều bài thơ như Giang san khói lửa v.v... đăng trong tuyển tập thi ca THƠ MÙA GIẢI PHÓNG (1949).

Phân tích tác phẩm chính.

Hoàng Tấn, bạn văn đồng thời với Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Trúc Khanh… Nhưng sở dĩ chúng tôi liệt ông vào nhà văn độc lập, vì lẽ ông không sinh hoạt với nhóm trên, mặc dầu đối với nhà văn trong nhóm ông là bạn thân. Có những đêm Lý Văn Sâm đã viết văn ở thảo ốc Hoàng Tấn (Thèm Một Ngọn Đèn).

Nói chung, tác phẩm là sáng tác riêng, cũng không trao lại cho nhóm đọc; có nghĩa là không có sinh hoạt văn nghệ chung.

Cứu Lấy Quê Hương tả tâm trạng một thanh niên yêu nước phải bỏ bưng về thành chữa bệnh. Ông diễn tả tâm lý nhân vật vững vàng, có nhiều đoạn đấu tranh tư tưởng an phận, hưởng thụ, quên đấu tranh rất sôi nổi trong nội tâm dằn vặt. Thi trong truyện xưng hô bằng tôi. Vợ chồng anh Điển là nhân vật phụ.

Thi nằm ở nhà vợ chồng Điển điều trị. Điển cũng là thi sĩ. Vài trò thi sĩ trong thời đại hiện hữu như một kiếp sống khổ ải nhất. Hoàng Tấn phác họa:

“… Ôi! Nếu thi sĩ ở nước ta có thể gọi được là một nghề? Điển còn có một nghề mọn rất phổ thông bất cứ ở thời nào. Nếu gặp lúc công việc trôi chảy, thì có thể nuôi đủ một gia đình sung túc gồm có: cha, mẹ, bốn người em bé, vợ và một đứa con gái nhỏ… (trang 7).

Điển hình cho cuộc sống một thi sĩ vào giai đoạn 1949, Hoàng Tấn còn lạc quan nhiều, chính ra thực trạng và cuộc đời còn đốn mạt túng bấn hơn nhiều; mà Lý Văn Sâm đã viết trong “Đời Tàn Trong Ngõ Hẹp”(đăng trên báo Tiểu thuyết thứ bẩy 1949). Khi Thi trở về thành, nhìn lại nơi ở cũ, ông nói lên một ý tưởng chua chát của một người phải nhìn lại quãng đời ngày xưa; hiện đang sống lại qua ngoại cảnh liên tưởng. Ông viết rất thành khẩn về một tâm trạng đau đớn.

“… Khi về tới đầu đường Bạch Đằng – chỗ ở cũ của tôi – tôi có một cảm tưởng kỳ dị rợn lòng. Tất cả bày ra trước mắt tôi một cảnh tang thương. Nhiều giẫy nhà đã rủ nhau về cát bụi. Ngổn ngang gạch và ngói, từng nếp tường xiêu, ngôi nhà của tôi còn sừng sững thi gan cùng khói lửa, in trên nền trời sám ngắt… “(trang 15)

Và khi Thi vào đến ngưỡng cửa nhà – không luyến tiếc đồ đạc mất; nhưng chỉ buồn vì mất bản thảo và di cảo của các bạn văn. Ông diễn tả tha thiết, khiến người đọc liên tưởng đến một bảo tàng viện VICTOR HUGO ở Pháp, chứa sách và bản thảo của văn hào. Người đọc lại nhớ đến công trình thu góp văn hóa của tất cả dân Pháp:

“… Đồ đạc thì chả kể làm chi sau hồi loạn lạc, chỉ ngẩn ngơ tiếc nhưng tập bản thảo, những chồng sách quý, nhất là di cảo của những bạn làng văn quen biết sớm mệnh chung…” (trang 16).

Cuối cùng, đến bản thảo của ông, mà một người con gái yêu thơ đến tột độ, thêu thơ đến rỏ máu cả năm đầu ngón tay. Kỷ niệm ấy được diễn tả lại thật cảm động và ở đây chỉ tán tụng thái độ yêu văn thơ người ấy:

“… Mất thực rồi ư? Mất thực rồi tập SUÔI GIÒNG SÔNG NHUỆ. Đó là một tập thơ lịch sử dầy năm mươi trang, thêu bằng chỉ vàng, đều đề bằng tơ đỏ trên giấy lụa toàn tơ Hòa Mạc, thêu năm ngày năm đêm bởi bàn tay của Hiền, người thân mến. Hiền đã sả hình hài ra mà thêu, hối hả nức nở mà thêu, thêu quên ngủ, thêu bỏ ăn. Thêu đến rỏ máu cả năm đầu ngón tay. Mỗi chữ tức là một giọt nước mắt, mỗi giòng là một giòng máu. Mỗi trang thấp thoáng ít nhiều hình hài của kẻ thêu thơ…” (trang 17).

Rồi Thi sang ở nhà vợ chồng Thịnh. Sự săn sóc của vợ Thịnh đối với Thi trong khi đang ốm; khiến Thịnh bực bội:

“… Tôi thở ra à họ lại ghen tuông với nhau gì đây? Tôi ngồi dậy, lập cập quơ chân kiếm chiếc guốc văng tận gầm giường. Tiếng chị Thịnh bỗng vọng ra dữ dội.

Anh Thi, xin mời anh vào trong nhà này, xin mời anh…

Đấy anh vào đây. Nói lạy giời chứng cho lòng tôi. Tôi thấy anh mệt không ai săn sóc, tôi nấu giùm anh nồi cháo có thế thôi mà…” (trang 33).

Đó là sự ghen tuông đưa đến mục đích:

“… Sở dĩ tôi phải nấn ná mãi nguyên do, nói ra mà xấu hổ, chỉ vì một người đàn bà. Thật thế, muôn vạn trùng dương mình có thể vượt được. Đèo núi gập ghềnh mình có thể qua được, vậy mà tôi lại hèn nhát để đến nỗi đền giọt nước mắt người đàn bà trói chặt chỉ tay. Người đàn bà đó anh thừa hiểu là vợ tôi. Bao nhiêu phen tôi định rũ áo ra đi là bấy nhiêu phen bị nó dày vò đay nghiến…” (trang 39)

Và không biết tìm cớ gì hơn vu oan vợ mình thông dâm với bạn, để đủ can đảm lên đường cứu nước; thì quả là một thái độ rất hỏng của tác giả đã chép sự thật ở ngoài đời, thiếu chủ quan định kiến, Hoàng Tấn đặt sai đối tượng và như thế sẽ đưa đến mục đích sai. Một người lính chiến đấu có thực tâm yêu nước không thể dày vò bằng một thái độ đê mạt như vậy được!

Dàn bài cốt truyện, tác giả có mục đích tuyên truyền cho người đọc một ý niệm yêu nước. Bố cục tổng quát vững, nhưng từng đoạn hỏng. Ở Hoàng Tấn còn có một thái độ hỏng nữa, đó là bội thực sự hiểu biết. Sự hiểu biết thu góp được ở ngoài đời cứ vội vã tuôn ra và không đúng chỗ:

“… Gia đình của Điển đối với tôi nồng hậu quả, nhưng tôi có thể đóng vai quý khách mang tiếng là một kẻ Tề nhân mãi sao?

(...) Tôi liên tưởng đến thuở An Lộc Sơn mang quân yểm bách Tràng An, khiến vua Minh hoàng phải chạy vào Thục. Quân An lộc Sơn trùng điệp thắt vòng vây làm cho Đỗ Phủ bị nghẽn trong thủ đô thoát ra không kịp… Tứ phương đùn lên những áng mây đỏ, chuyển hẳn lại khung cảnh của trời cao chót vót như hình những giải núi Yên…”

Điển cố ấy nên tránh dùng trong sáng tác. Nếu không căn cứ vào thực tế hôm nay so sánh, thì người đọc làm thế nào mà hiểu được ông muốn nói gì? Thái độ bội thực sự hiểu biết ở đây không còn là cách dùng để so sánh nữa.

Kết luận.

Văn Hoàng Tấn tương đối hấp dẫn. Nội dung Cứu Lấy Quê Hương tiến bộ, có chính nghĩa. Đoạn kết vẫn là khích lệ người yêu nước lên đường chống trả xâm lăng đe dọa – Tây thuộc lần thứ hai. Sẽ tạo được kỹ thuật cao hơn tránh được điển cố dùng gò ép và không đúng chỗ vào tiểu thuyết khi thực hiện sự không cần thiết.

Tiết 3

BÌNH NGUYÊN LỘC (1914 – 1985)

Tên thật Tô văn Tuấn. Sinh năm 1914 ở Tân Uyên Biên Hòa. Cùng quê hương với nhà văn Lý văn Sâm. Tác phẩm đã xuất bản Nhốt Gió (truyện ngắn, Thời Thế 1950 xuất bản).

Ông viết cho nhiều báo văn nghệ ở Sài gòn và là tác giả rất nhiều truyện ngắn, như: Bà sao giữa giời… chẳng hạn.

Nhốt Gió gồm mười ba truyện: Nhốt gió, Chó điên, Lò chén chòm sao, Bàn tay năm ngón, Qua lối cũ, Gái bách xê, Đất không chết, Hai buổi giúm cù, Trụ thứ mười, Vướng bận, Thèm người, Còn yêu, Không trốn nữa. Truyện hay nhất là Lò chén chòm sao và Thèm người … Còn truyện như Cái bách xê trào phúng hoạt kê ít chất nghệ thuật, nhạt nhẽo.

Đọc truyện Bình Nguyên Lộc luôn nhận ra rằng ông thích đem triết lý nhân sinh đời sống, từng cử chỉ nho nhỏ đưa vào hình tượng văn nghệ. Cái lý thú đọc nhất đọc văn ông là nhẹ nhàng, bình dị, truyện phiêu lưu rất bình tĩnh giải quyết vấn đề gai góc (Thèm người). Cái tế nhị và buồn thấm thía sau khi đọc xong Lò chén chòm sao. Nếu Bùi Hiển tiền chiến viết rặt cái gì thuộc về quê mình thì hôm nay Bình Nguyên Lộc cũng vậy. Ông chỉ viết cái gì gần gũi ở quê hương hoặc truyện chứng kiến rõ rệt.

Lò chén chòm sao tả chú Hoa kiều Minh hương, có một phút thấy thương mẹ và nghe lời mẹ để nặn chén, vẽ hoa cho chén bát đẹp hơn lên. Lần ấy trong đời, hắn thấy yêu quê hương là nơi mà hắn sinh ra. Thật tuyệt diệu khi ông diễn tả tâm trạng được người Minh Hương yêu quê mẹ như thế nào?

So tác phẩm đầu tay đến nay, chúng ta thấy ông chuyển dịch tâm lý nhân vật bề mặt đến bề sâu nhân vật và nội dung hướng về giai cấp nghèo. Chẳng hạn như xóm Đề Pô đăng dở dang trên tuần báo Nguồn Sống Mới (1954), diễn tả cuộc sống bên người dân đô thị sống chui rúc trong các kho hàng hoặc lề xã hội rất cảm động.

Bình Nguyên Lộc có một hơi văn độc đáo về truyện ngắn. Ông không là nhà văn tranh đấu như Lý Văn Sâm hoặc Vũ Anh Khanh, cũng không phải là nhà văn xã hội đứng trong trường lãng mạn cách mạng trong giai đoạn miền Nam kháng chiến bổ sung.

Nhưng Bình Nguyên Lộc là nhà văn thích đem những thái độ sóng nho nhỏ hàng ngày để cải tiến lại cho đời đẹp hơn lên.

Với lối văn dung dị, tế nhị, nhất là kỹ thuật viết bình thản, dù nhân vật phản diện, Bình Nguyên Lộc cũng không bao giờ nỡ lên án tệ hại mà chỉ châm biếm nhè nhẹ mà thôi.

Tiết 4

HOÀNG TỐ NGUYÊN (1929–1975)

Tên thật là Lê Hoàng Mưu, quê quán ở Gò Công (Nam Bộ). Về bình diện thi ca miền Nam 1945–1950 chỉ có hai nhà thơ điển hình nhất là Vũ Anh Khanh và Hoàng Tố Nguyên. Họ bao trùm cho các nhà thơ khác như: Ái Lan, Tố Phong, Trúc Khanh, Khổng Dương vv…

Ái Lan, một nữ thi sĩ có nhiều triển vọng loại thơ tranh đấu như Thu bất hủ; cũng như Trúc Khanh có trong loại thơ tâm tình lành mạnh, một thứ Nguyễn Bính non tay trong kháng chiến miền Nam.

Hoàng Tố Nguyên trội hơn hết, sau Vũ Anh Khanh. Tác giả nhiều bài thơ đăng rải rác trên báo, mặc dầu chưa in một tác phẩm nào… Những bài như: Vọng hướng sao rơi, Xuân về say ý nhạc… đăng trong tuyển tập thi ca Thơ Mùa Giải Phóng (5.1949).

Thơ Hoàng Tố Nguyên đi vào thực tiễn cách mạng, kỹ thuật cao, truyền cảm người đọc như Tha La của Vũ Anh Khanh. Như Vũ Anh Khanh, Hoàng Tố Nguyên nổi tiếng vì thơ có hình tượng sống mới, tiết tấu âm thanh mới, không dùng sáo ngữ, hoặc điển cố, như bài thơ Sa Cơ của Thẩm Thệ Hà hoặc Hoàng Tấn với Giang san khói lửa mù bay…

Xuân về say ý nhạc là bài thơ của một đồng đội chiến đấu chống xâm lăng Tây thuộc lần thứ hai; mà tác giả là Hoàng Tố Nguyên, nhà thơ xuất sắc.

Về bình diện văn nghệ Nam bộ 1945 –1950, hẳn không thể quên văn Lý Văn Sâm, thơ Vũ Anh Khanh, thơ Hoàng Tố Nguyên... là những người góp vào nền văn học cực thịnh của Nam Bộ.

XUÂN VỀ SAY Ý NHẠC

Anh đi miền Sông Hậu

Tôi về khám thị thành

Đêm đêm, nhìn Bắc đẩu

Nôn nao lòng nhớ anh.

Trời nơi anh sáng chứ?

Hoa đời nở ý xanh?

Máu sông sầu cuồn cuộn,

Có vương tình trăng thanh?

Gió muôn trùng… gió lộng.

Vẫn vang khúc viễn hành?

Bạn bè còn đủ cả

Hay cuối bãi đầu ghềnh?

Tương tàn bao thảm cảnh

Có hiện vào mắt anh?

Xuân về say ý nhạc

Có cạn chén tâm tình?

Ngựa Hồ thương Gió Bắc

Có vẹn lời sắt đanh?

Hay men Tần dễ bén

Mà say khúc hậu đình?

Mà quên thề cổ biệt,

Mà nguôi hận bất bình?

Nơi đây sầu phong tỏa

Hương đời cạn ý xanh

Mây giăng mờ tám hướng

Nắng loãng bụi kinh thành

Có lắm phường cẩu nhãn

Còn mơ chuyện Đế Đình.

Gái trai cười phấn lụa

Cao hát khúc Ân tình

(Còn mong gì tuyết trắng

Mà dâng hồn thơ xanh)

Sầu đông cay độc ẩm

Hồn đau nghẹn bất bình

Đêm đêm nằm đếm tóc

Nghĩ thẹn kiếp phù sinh.

Xuân về say ý nhạc

Đôi câu gọi chút tình

Trăng liềm chênh chếch đổ

Về phương nào đó anh?

(1949)

Trích trong “ Mùa Giải Phóng”

HOÀNG TỐ NGUYÊN.

Phần thứ Tư

SƠ LƯỢC CÁC NHÀ VĂN ĐỘC LẬP

Tiết 1: – QUỐC ẤN

Tiết 2: – SƠN KHANH

Tiết 3: – VŨ XUÂN TỰ

Tiết 4: – HỢP PHỐ

Tiết 5: – PHI VÂN

Tiết 6: – NGUYỄN BẢO HOÁ.

TIỂU MỤC:

1. QUỐC ẤN.

– Tên thật là Nguyễn Ngọc Nhơn. Viết rất nhiều truyện ngắn đăng rải rác trên các tuần báo Sài Gòn vào những năm 1949-1950.

Tác phẩm đã xuất bản: SOS (truyện ngắn) (Tiếng Chuông 1949) VĨ TUYẾN XI (truyện ngắn) (Nam Việt 1949), ĐÁP LỜI SÔNG NÚI (1949 truyện ngắn) v.v... Truyện của Quốc Ấn mang triết lý nhân sinh thi vị và bổ ích như truyện MƯA (Vĩ tuyến XI). Trong đó ông đưa ra hai nhân vật: Phan và Xuyến. Phan là học trò nghèo. Xuyến con nhà giàu. Phan ôm mộng học giỏi sau này thi đỗ làm công chức cao cấp, có thể ngồi đầu phòng một bộ; Phan yêu Xuyến vì chỉ muốn sau này nhờ thanh thế nhà nàng, Phan có thể bước lên đường danh vọng dễ dàng.

Buổi thi Tú tài, Phan sửa soạn đến trường. Thì buổi ráp bắt đầu, tất cả người trong phố phải ra bãi cỏ. Cho đến 10 giờ kém 5, Phan được trả lại tự do thì đã lỡ kỳ thi. Rồi anh đến nhà một người bạn viết báo, Phan suy tưởng kỹ lưỡng hơn, nào cuộc đời chỉ cần tiền bạc là đoạt được hạnh phúc mong muốn. Phan đau đớn nghĩ đến thái độ im lặng của Xuyến.

Một buổi Xuyến và Phan gặp nhau lần cuối, sau đó Phan bỏ nhà ra đi. Mục đích Phan cho Xuyến nhận định về sự nghĩa lý sống, được giác ngộ anh không còn ham giàu có.

Hoàn cảnh Xuyến khác hẳn, nàng tham gia cách mạng. Sau bị bại lộ, phải rời đất nước, lúc đó Phan mới hiểu người yêu hơn.

Hầu hết truyện của Quốc Ấn mang một hình tượng mới của nếp sống thời đại. Văn dung dị, nội dung lãng mạn cách mạng phát triển trong hầu hết trong tác phẩm. Quốc Ấn là nhà văn có nhiều triển vọng ở loại văn phân tiùch tâm lý. Lối văn viết thiếu hấp dẫn người đọc, có lẽ ông viết chưa đều tay. VĨ TUYẾN XI bị chính quyền hồi ấy kiểm duyệt bỏ nhiều; nên giá trị bị giảm một phần lớn nhất là những đoạn văn chuyển ý.

2. SƠN KHANH.

Tên thật Nguyễn văn Lộc. Tác phẩm đã xuất bản: Giai Cấp (Sống Chung 1949), Tàn Binh (1949) và nhiều truyện ngắn hoặc thơ đăng rải rác trên báo và trong tuyển tập thi ca Thơ Mùa Giải Phóng... Chủ trương NXB Sống Chung.

Truyện dài của Sơn Khanh tiến bộ, từ hình thức đến nội dung, hướng về mặt cải tiến xã hội. Giai Cấp, truyện dài, tả cuộc sống bọn thư lại công chức, mạt sát công chức thực dân và đưa mẫu một công chức trẻ tuổi sống chung với giới này làm mẫu mực và kết thúc là không thể thỏa hiệp. Tập truyện dài còn mang nhiệm vụ là đả phá mảnh bằng chỉ làm khổ tâm não thanh niên. Theo ông, muốn đánh giá con người có khả năng hay không thì mảnh bằng chưa là đủ.

Thơ Sơn Khanh không mấy đặc sắc. Tuy nhiên có một bài thơ khá hay như Mơ một trời hồng, lên án bọn cường quyền xâm lược. Nói chung, nội dung thơ tiến bộ, nhưng kỹ thuật và hồn thơ chưa dồi dào, thiếu truyền cảm, rời rạc.(36)

3. VŨ XUÂN TỰ.

Tên thật dùng làm bút hiệu trong tác phẩm đã xuất bản hoặc phóng sự đăng báo. Sinh năm 1913 ở Hà Nội. Viết cho các báo Trung Bắc Tân Văn, Trung Bắc Chủ Nhật (1941). Tác phẩm đã in: Túi bạc Sài Gòn (Trung Bắc Tấn Văn xuất bản), Muộn chồng…

Vào Sài Gòn viết cho Nam Kỳ tuần báo, sau 1948 viết cho các báo Tiếng Dội, Thần Chung... Năm 1949 cho xuất bản cuốn phóng sự Tài Xỉu.

Vũ Xuân Tự viết phóng sự châm biếm chua cay, sâu độc, ghi lại được nếp sống thời đại qua mẩu phóng sự nho nhỏ, nên không tạo được hơi dài phóng sự, nên Vũ Xuân Tự ít được biết đến.

4. HỢP PHỐ.

Tên thật Trần Thị Hợp Phố, sinh ngày 7/7/1923 ở Đà Nẵng. Em ruột nhà văn Thiên Giang. Tác phẩm đã xuất bản: Chị Dung (Nam Việt) và truyện ngắn đăng trên các báo. Hợp Phố hướng về giáo dục nhiều hơn, đi vào con đường giáo dục xã hội qua truyện nhỏ. Nhưng chưa có gì trội. Tuy không đặc sắc lắm; song tập truyện Chị Dung phân tích tâm lý tế nhị, văn phong nhẹ nhàng. Qua đời ở Sài Gòn năm 2001.(37)

5. PHI VÂN.

Tên thật Lâm Thế Nhơn, sinh năm 1917 ở Cà Mau. Tác phẩm đã xuất bản: Đồng Quê (Tân Việt 1949) sau tái bản nhiều lần và truyện đầu tiên: Trên bãi cát vàng.

Phóng sự có màu sắc bản địa Nam Bộ, nhiều hình tượng điển hình địa phương từng miền, nên đã được dịch sang tiếng Trung Hoa. Đọc tác phẩm Phi Vân, người đọc có thể hiểu tổng quát cuộc sống nông thôn miền Nam. Đồng Quê được giải nhất văn chương Hội Khuyến Học Cần Thơ 1943. Tác phẩm ấy, ở hôm nay, không thể so sánh với tác phẩm đương thời kháng chiến 1945-1950. Văn Phi Vân ghi chép theo ngôn ngữ nói, chủ ý thô thiển; chính tác giả cũng tự trạng điều đó trong sách (Lời nói đầu).

Bức tranh Nam Bộ bao gồm phong tục, tập quán địa phương được Phi Vân chép lại khá đầy đủ. Đồng Quê được gọi là tập ảnh tài liệu giá trị của nhà phóng sự phong tục đồng quê nổi tiếng, tài năng, giá trị là Phi Vân.

6. NGUYỄN BẢO HÓA – (1925 – 1990)

Tên thật Nguyễn Văn Đình. Sinh 1925 ở Bến Tre. Tác giả tập truyện dã sử Ải Chi Lăng, Bóng Giai Nhân và cuốn biên khảo sử học : Nam bộ Chiến Sử 1859 – 1868, Lửa Sống 1949) v.v... Truyện dã sử không đặc sắc, nhưng về mặt ghi chép tài liệu sử học ông là nhà khảo sử giá trị, có lập trường của dân nhược tiểu.

Nam Bộ Chiến Sử, một sử liệu quý giá nói về uyên nguyên mất nước, bình luận xác đáng về một giai đoạn lịch sử tối tăm dân tộc (Tây thuộc Việt Nam ở cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX). Lối viết sử với lập trường tiến bộ, văn sáng gọn, là nhà chép sử vào thời đoạn ấy. Sau, ông viết tiểu thuyết dưới bút hiệu Tiêu Kim Thủy (Tiếp và Bội), Tô Nguyệt Đình (tiểu thuyết dã sử) và khảo luận viết về Phạm Hồng Thái... Nguyễn Bảo Hóa chỉ thể thành công trong loại viết sách biên khảo. Về tiểu thuyết chưa đặc sắc nghệ thuật, bố cục, quan sát, dàn cảnh, tình tiết, diễn đạt tâm trạng nhân vật cho thành một cuốn truyện hay.

PHẦN KẾT THÚC

Trước kia, một Hồ Biểu Chánh không thể độc lực gây nổi phong trào văn nghệ, một sự kiện nào đáng kể đánh dấu mức tiến bộ văn học Nam Bộ. Ấy là chúng tôi chưa phân tiùch đến ảnh hưởng tai hại lối văn mỵ dân, thô tục của cả một trào lưu đầu độc, như loại tiểu thuyết hồng hạ cấp, (rose) của Pháp. Chúng tôi gọi là romantisme du voyou (tiểu thuyết ba xu).

Ngoài những nhà văn điển hình trong nhóm Lý Văn Sâm như: Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà, Dương Tử Giang... Nhóm Chân Trời Mới: Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc và các nhà văn độc lập điển hình, Bình Nguyên Lộc xu hướng văn tâm tình tiến bộ, Hoàng Tấn bút ký tranh đấu, thơ Hoàng Tố Nguyên thơ. Còn lại chỉ viết sơ lược với các nhà văn, thơ khác.

Tổng luận bình diện văn nghệ từng miền; thì Nam Bộ đã đánh dấu được một bước đi rất mạnh trong lịch sử văn nghệ giai đoạn 1945 – 1950. Với nhà văn miền Nam, nhất là lỗi chính tả, cần phải trau dồi. Vì âm thanh nặng dễ nhầm lẫn tai hại về chính tả. Những nhà văn đã cố gắng nhất cho sự kiện này như Lý Văn Sâm , Thẩm Thệ Hà... cũng chưa tránh nổi.

Giai đoạn cực thịnh nhất của lịch sử văn nghệ Nam Bộ (nói riêng) là ở những năm 1945 – 1950 của thế kỷ XX.

Sài Gòn 22 tháng 12 năm 1956



CÒN TIẾP ...

Trở lại: LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 22






© TÁC GIẢ VÀ NEWVIETART GIỮ BẢN QUYỀN .

tải đăng ngày 12.01.2008.



TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ TRUYỆN NGẮN NHẬN ĐỊNH