âu hỏi thơ là gì? Mỗi cộng đồng sẽ có lời đáp riêng, thậm chí mỗi thi sĩ đều có định nghĩa thơ của chính mình. Nếu như vậy gần như không có khái niệm thơ, mà có định kiến về thơ?
Ở phương Đông, lúc chưa giao lưu văn học với phương Tây, có lẽ chi tiết khác biệt về thơ giữa các dân tộc là không đáng kể. Thơ Đường , Thơ Ấn Độ, thơ Hai Cư , thơ Việt Nam… đều đặt Thần Khí (1) là trọng tâm của thơ, và cũng chỉ là một sợi chỉ dọc của bài thơ, vì không có tấm lụa nào dệt mà thiếu sợi chỉ ngang được.
Ở phương Tây, từ trong chiếc nôi văn minh Hy Lạp, La Mã, thơ là phương tiện để ca ngợi chiến công (anh hùng ca), cao hơn thơ là dự phóng (truyền đạt triết học mặc khải), nghĩa là có pha lẫn Thần Khí, nhưng là thần khí của thượng đế ban phát, khác với minh triết thần khí của phương Đông. Ngay từ đầu ông tổ của triết học phương Tây, Platon, đòi đuổi thi sĩ ra khỏi nước cộng hòa sau khi choàng vòng hoa. Tâm cảm thơ không phù hợp với trật tự của lý trí chính trị của nước cộng hòa theo kiểu Platon.
Sau đêm dài Trung Cổ, chuyển mình trong thời đại Phục Hưng (le Moyen âge), mãi đến thế kỷ 18 với chủ nghĩa lãng mạn ở Pháp, kế tiếp với chủ nghĩa tương trưng (2), thơ Pháp và châu Âu mới lấy lại Thần Khí vốn là bản năng gốc của nàng thơ.
Trong lúc cuối thế kỷ 19, văn học nghệ thuật phương Tây trở về với tâm thức nhân loại được lưu giữ ở kho tàng phương đông Ấn Độ hoặc Trung Hoa, thì một số dân tộc châu Á bị chinh phục bởi khoa học kỹ thuật châu Âu, lại bị nô dịch tự nguyện về văn học, văn hóa. Không ai ngu xuẩn cực đoan phủ nhận giá trị tinh thần của những dân tộc phát triển, kể cả các dân tộc chậm tiến ở châu lục khác. Việt Nam được La-tinh hóa chữ viết, ảnh hưởng tự nguyện này là thành tựu văn hóa của dân tộc, đương nhiên có mặt thiệt hại, biết cách sẽ bổ sung lâu dài vào chỗ khiếm khuyết này.
Bị nô dịch là ở chỗ dẹp bỏ giá trị tinh thần đích thực của mình, thay vào cái bấp bênh, thậm chí cái giả tạo của người khác. Thí du đơn giản có một lúc chỉ tôn thờ thuốc Tây, vì trị bệnh mau khỏi , do có công nghệ tổng hợp được tinh chất bằng hóa học, dẹp bỏ hết thuốc cổ truyền, cho rằng thuốc Nam là mê tín, không có cơ sở khoa học thực nghiệm. Mấy ai hiểu được khoa học thực nghiệm cũng là thứ mê tín khác, cho đến khi có thuyết lượng tử ra đời? Bây giờ chính các nước phương Tây lại thích dùng Đông dược.
Trở lại vấn nạn thơ, đến đầu thế kỷ 21, mà có người thuộc dòng máu dân tộc phương Đông, có thể do mặc cảm làm dân tộc gì đó nên hô hào rằng tại sao “nhân loại” đang làm thơ hậu hiện đại mà ở Việt Nam chưa theo kịp? Nhân loại nào đây? Có lẽ khá hoang tưởng trong việc đánh giá thành tựu của nhân loại, với một hiện tượng bấp bênh (scandale) nào đó.
Ở phương Đông chưa bao giờ lấy lý tính làm tiêu chuẩn của sáng tác văn học. Thơ càng không phải là lãnh vực của ý thức, trừ các loại ghép từ có vần điệu nhằm mục đích để quảng cáo hay tuyên truyền. Thơ hình thành từ dòng năng lượng tâm linh của thi sĩ tương tác với đối vật (sinh vật, tĩnh vật, hạ nguyên tử, thiên hà và những dòng năng lượng khác), ấy là thần khí mà từ xa xưa các nhà nho phương Đông cảm nhận lúc tiếp cận với thơ, vốn đã vắng mặt lý trí của khoa học thực nghiệm.
Cho dù ở Trung Quốc ngày nay có người tung hô vạn tuế thơ hậu hiên đại, thì họ vẫn chưa làm một bài thơ nào hay bằng thơ Đường của Lý Bạch, Đỗ Phủ, tiền nhân của họ. Thơ vốn lặng lẽ, tuyệt đối không ồn ào. Xã hội càng hỗn độn, càng gào thét thì thơ hay càng âm thầm, càng tĩnh lặng như thái độ thiền sư. Họ định nghĩa thơ hậu hiện đại là phản lý tính, không chấp nhận văn minh hiện hữu của nhân loại. Đúng, khó mà chấp nhận văn hóa thực dụng, trật tự máy móc của phương Tây, và vài nước phương Đông học đòi. Nhưng thơ không có nhiệm vụ chống lại sự hỗn mang hay sự vô nghĩa nào hết, nếu làm thế thơ là công cụ của đủ loại thế lực. Tiếp cận thơ theo góc độ thơ là con đẻ của xã hội, đó là cách tư duy của lý trí thuần túy, thứ triết học một chiều mà các chủ nghĩa, học thuyết phương Tây gây tai vạ cho nhân loại từ ba thiên niên kỷ qua. Vì ai cũng tự vỗ ngực, xưng tên ta là lý tính nhất, chân lý nhất, suy cho cùng ai cũng tham vọng là minh chủ, ai cũng muốn lấy tiểu ngã, cái ta bé tí đòi lấp đầy vũ trụ. Nếu ai tỏ ra không phục tùng, họ sẵn sàng tiêu diệt.
Tại sao phương Tây đầu thế kỷ 20, có Mallarmé, Paul Valéry, Appolinaire…? Vì những tài năng lớn này không dùng tư duy lý tính để sáng tác. Giải Nobel văn học trao cho Tagore, nhà thơ của tâm linh. Hermenhet, nhà văn Đức với câu chuyện của dòng sông, viết về cuộc sống bằng trực cảm và minh triết. Cùng với chủ nghĩa siêu thực… đều đã phủ nhận lý trí chứ không cần đến hậu hiện đại mãi sau này đâu. Phải chăng phương Tây linh cảm rằng nên trở về với cội nguồn của nhân loại mà phương Đông đang lưu giữ…?
Viết đến đây, đọc giả vui lòng cho phép liên hệ với thực trạng viết lý luận thơ ở Việt Nam hiện nay:
- Do hoàn cảnh chiến tranh và số phận của lịch sử nên số người học đại học đúng nghĩa, có tư duy độc lập để động não, hoặc đủ sách vở để nghiên cứu các lãnh vực nhân văn đến nơi đến chốn là rất hiếm; mà dù có đầy đủ sách như ở Pháp hay Đức cũng chỉ có thể lấp đầy tri thức duy lý hữu thần hoặc duy lý vô thần mà thôi. Không đủ điều kiện tiếp thụ tâm thức, vì sách tri kiến về tâm thức viết bằng cổ ngữ châu Á, hơn nữa còn phải tu tập trực cảm để hiểu được ý tại ngôn ngoại, ít ra mới có đủ tâm thức để cảm thụ triết học, văn học phương Đông.
- Chỉ biết lõm bõm, như người khiếm thị sờ voi, không nghiên cứu tường tận tri thức mà liều mạng viết lý luận, đã là con vẹt biết viết rồi, không hiểu tâm thức là gì mà đòi làm thơ hay, là con khỉ đòi làm nhà tiên tri.
Vì vậy, không nên vì muốn nổi tiếng, vì tiểu ngã của mình mà làm kẻ đốt đền, làm kẻ đánh lận con đen, gây ô nhiễm môi trường văn học. Gài bom vào vần điệu, vào cấu trúc ngôn ngữ, ngụy trang bằng lời chữ rồi cho nổ tung chết lây những bài thơ đích thực, tung hơi cay vào không gian thơ để được gọi là “thi sĩ”.
Vì nền thơ ca Việt Nam mà đành viết những lời thô bạo trên đây, biết làm sao, vì chỉ làm thế mới vạch trần một ít kẻ to mồm. Tuy nhiên, lập luận trên không phải đứng về phía những người bảo thủ, sinh ra trót dại đọc được vài bài thơ tiền chiến nào đó, rồi xem đó là mẫu mực của thơ. Bài thơ nào thiếu vần điệu đó, cấu trúc đo, lời chữ mượt mà đó, vội xổ toẹt, như thế cũng làm đông cứng môi trường thơ, tổn thất lớn cho thơ. Chỉ vì mình biết làm thơ kiểu nhai lại nói trên, mà phủ nhận sạch trơn đổi mới đích thực của thơ.
Bài này nhằm tiếp cận cách đổi mới đúng đắng cho thơ. Như vậy đổi mới thơ diễn ra thế nào?
Trong thể thao, mỗi vận động viên đều muốn phá kỷ lục trước đó. Nếu đã nhảy cao 2m3 lần này phải nhảy 2m4 và lần sau cao hơn 2m4… tiến trình đơn giản đó là khái niệm tiến bộ. Nếu cải tiến động cơ phản lực của máy bay thì lần này đạt tốc độ 900km/g lần sau phải đạt 950km/g, mới được cho là đổi mới.
Nếu vận động viên nào trang phục kỳ dị để ai cũng chú ý, thậm chí khỏa thân trong cuộc thi thể thao, mà vận động không đạt mức kỷ lục cũ thì công luận không thể cho rằng vận đông viên ấy tiến bộ được, có khi bị đuổi khỏi cuộc chơi vì phạm quy.
Làm thơ là hành vi sáng tạo độc đáo của con người, thuộc lãnh vực tinh thần, tiến bộ trong thơ không dễ thấy như trong cuộc thi Olympic, tạm mượn tiến trình trong lãnh vực rèn luyện thân thể để cảnh tỉnh những người làm dáng, lập dị trong cái na ná như thơ mà ngỡ mình tiến bộ, đổi mới thơ. Nếu bài thơ hay có tốc độ của âm thanh thì bài thơ hay hơn phải vượt được bức tường âm thanh. Đổi mới thơ cũng theo tiến trình ấy. Nhất là các cây bút trẻ, mới sáng tác nên biết không có cách nào đi tắt, đón đầu, hay bất kỳ trò xảo thuật nào để có tác phẩm hay đích thực. Phải thật sự có tài năng và liên tục sáng tạo ngôn ngữ bằng tâm thức, bằng chính nghiệp thơ của mỗi người được dòng năng lượng tâm linh chuyển tải.
Đồng thời, còn tiếp cận thơ theo cách hình thành tinh thể, mỗi viên kim cương dù kiểu dáng ra sao, to nhỏ thế nào đều phải có chất lượng là kim cương, không thể là đá quý khác trộn vào được. Thơ đòi hỏi khắc nghiệt phải là tinh thể thơ, không cặn bả nào lẫn vào được. Thơ không có phó kim cương.
Thơ là luôn lập kỷ lục mới, là tinh thể kim cương, thơ còn tỏa sương sớm bao quanh độc giả. Hơi sương ấy có thấm vào da thịt nhiều ít là tùy lớp áo dày mỏng của khách thăm vườn thơ.
Thần khí của bài thơ hay luôn tỏa ra bao quanh độc giả, chỉ có độc giả cùng tâm hồn đồng điệu, cùng tần số sóng tâm linh thì mới cảm thụ trọn vẹn cái hay, mát lạnh hay ấm áp tùy chỗ ngồi của độc giả. Ý niệm này, chỉ ra giữa nhà thơ và độc giả luôn nâng cao tri thức và tâm thức ngang tầm thơ, cùng với nhạy cảm là bản năng riêng có, hai bên mới thật sự là tri kỷ của nhau.
Đổi mới thơ không phải căn cứ vào chỗ thơ vần, rồi làm thơ tự do (không vần) hay tệ hơn nữa là viết ngắt dòng một bài thơ có vần, tháo rời rạc một bài thơ lục bát, mỗi dòng viết năm ba chữ; hiện nay còn nhiều trò bế tắc hơn nữa… Đương nhiên mỗi tác giả có quyền làm thế tùy thích, nhưng dứt khoát chỉ làm vậy mà cho rằng làm mới thơ quả thật vô nghĩa, cho rằng đã sáng tạo càng lố bịch hơn.
Sáng tạo thơ chính là ở thần khí của bài thơ, thi sĩ chiết ra từ dòng năng lượng tâm linh hòa nhập vào ngôn ngữ tạo ra dung lượng mỗi bài thơ, mới đích thực sáng tạo thơ. Viên kim cương tròn, dẹt, nhỏ, to; gọt dũa nhiều, ít là cái bên ngoài; là kiểu dáng của nó, chủ yếu nó có phải thật là kim cương không?
Vài năm trước đây, trên một tap chí có đăng một bài viết ca ngợi “ bài thơ” con cóc. Một bài viết hùng hồn để phản bác lại dân dã Việt Nam hay nói “mày làm thơ con cóc đấy à?”, nhằm chê trách cách mô tả nguyên si, thô ráp của ai đó. Bài viết này với mục tiêu là bảo vệ những người ngỡ mình làm thơ hậu hiện đại . Ở đây chỉ nhắc lại nhằm làm rõ hai tiến trình làm thơ:
1/ tiến trình mô tả: là dùng lý trí để mô tả cái khách quan, mà người ta thường đề cao biết khắc họa nhân vật, quan sát từng chi tiết của đối vật để viết ra. Tiến trình này chắc chắn phải ca ngợi “ bài thơ” con cóc là mẫu mực. (con cóc trong hang con cóc nhảy ra/con cócnhảy ra con cóc ngồi đó/ con cóc ngồi đó con cóc nhảy đi), và trong thực tế không có sách vở đủ để in lại những bài đại loại như “ bài thơ” con cóc này. Dù có ca ngợi anh hùng, mỹ nhân, hay dung tục, khai thác tính dục… mà chỉ mô tả đơn thuần vẫn không thoát khỏi dung lượng bài thơ con cóc trên, kể cả có cải trang khéo léo ra sao.
2/ tiến trình thể hiện: lấy xúc cảm trước đối vật mà diễn đạt thành lời chữ; nói chính xác hơn dùng tâm tư hòa nhập vào đối vật rồi hiện ra bằng lời chữ. Rất nhiều thơ hay để minh chứng cho tiến trình thể hiện: nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương của Nguyễn Du, cành thiên hương bị gãy giữa mùa xuân là hiện thể của hồng nhan bạc mệnh. Có lẽ đoạn thơ của Tagore sau dây làm rõ tiến trình làm thơ này: Chính nỗi đau khổ mênh mông này/ Đã ăn sâu vào tình yêu và dục vọng/Vào niềm vui và nỗi khổ / Trong ngôi nhà mỗi người/ Và chính nó luôn tan chảy thành tiếng hát/ Qua trái tim thi sĩ của tôi. (Trích thơ Dâng).
Và ở phương Tây, Baudelaire viết: Un soir, l’âme du vin chantait dans bouteilles: “Homme, vers toi je pousse ô cher déshérité/ sous ma prison de verre et mes cires vermeilles / Un chant plein de lumìere et de fraternité. (tạm chuyển ngữ: Một buổi chiều trong đám ve chai / hồn rượu vang thoát ra câu hát/ xin gửi người số phận đắng cay/ chai nút sáp đỏ nhà giam tôi/ lời trào dâng nghĩa tình sáng rực.) Rõ ràng Baudelaire đã nhìn ra rượu vang có tâm hồn, rượu còn đồng điệu với số phận đắng cay; đấy chắc chắn không phải là cách tư duy của lý tính thuần túy. Nói theo phương Đông là cách nhìn bằng tâm thức, còn thiền sư gốc người châu Âu cho rằng đấy là ý thức tinh tế.
Đương nhiên cả hai tiến trình trong thực tiễn đều rất cần thiết, ở đây đang nói trong môi trường thơ, còn nếu viết báo cáo khoa học thì tiến trình mô tả là chủ đạo. Và đương nhiên ngay trong làm thơ đôi khi cũng làm toán, nhưng nếu bài viết nào chỉ là hai với hai là bốn, chắc chắn đấy không phải là thơ. Còn tại sao con người phải làm thơ, không thuộc nội dung bài này, đó là đề tài lớn cần bàn vào dịp khác. Song, có thể nói ngắn, vì con người cảm thấy bất lực khi dùng lời chữ giao tiếp để phản ánh thực tại sinh động. Tiến trình mô tả nêu trên hoàn toàn lệ thuộc vào lời chữ giao tiếp.
Định kiến thơ sẽ dẫn đến hạ thấp vị trí của thơ trong văn học và văn hóa. Vì định kiến là suy nghĩ của một nhóm người, đưa vào một công thức cứng ngắc, tệ hại hơn, công thức ấy xuất phát từ tầm nhìn hẹp và thiếu tài năng. Song, thơ dù được đánh giá ở vị trí hàng đầu của văn học, thơ cũng vừa có cái chung và vừa có cái riêng như những lãnh vực văn học nghệ thuật khác: truyện ngắn; tiểu thuyết; phóng sự; hội họa; điêu khắc; nhiếp ảnh; điện ảnh. Vì vậy vẫn nên có khái niệm thơ. (3)
Cổ nhân tìm ra kim cương, đương đại cũng tìm ra kim cương, và nhiều thế hệ sau cũng vẫn tìm ra kim cương, thơ hay cũng thế. Những bạn trẻ đừng lo hành tinh đầy đất cát này bị khai thác hết sạch kim cương rồi, mà vội chạy theo cái giả tạo, số it giả tạo đó thời nào cũng có, thời nào cũng mãi võ sơn đông trong môi trường thơ, khi ai hỏi tác phẩm, họ chỉ chìa ra một trái ớt hiểm, khổ nỗi trái ớt hiểm ấy cũng chẳng cay tí nào.
Ngày xưa, phương Đông hay xem xét ý chí, tâm tư của nho sĩ qua sáng tác. Đọc một bài thơ không chỉ cảm nhận tài năng văn học, mà còn có thể tìm ra gần đúng nhân sinh quan, thái độ trước thế cuộc của tác giả; dù cho nhà nho cảm tác phong cảnh thiên nhiên, hay vịnh vật dụng tầm thường. Chính vì vậy, mà các khoa thi tuyển chọn nhân tài ra làm quan cai trị, phải thi làm thơ. Qua bài thơ, đánh giá trình độ uyên bác và nhân tâm của sĩ tử.
Tác giả bài thơ sẽ bộc lộ trình độ phân tích và tổng hợp, đặc biệt là năng lực liên tưởng, vì liên tưởng là dấu hiệu cuả tài năng, thi sĩ khi cần dùng đến hình tượng tảng đá, không dừng lại ở cấu trúc phân tử, tỷ trọng, màu sắc… mà còn liên tưởng đến thời kỳ đồ đá, với dụng cụ đá, hoặc còn biết đá tạo ra lửa, thậm chí còn biết triết gia tại sao nói hòn đá tảng trong hệ thống tư tưởng của họ. Đúng vậy, vì không ở đâu đòi hỏi tri thức nhiều mặt và vô cùng như trong việc làm thơ. Thi sĩ không thể chỉ biết hạt bụi là bé tí mà còn phải biết hạt hạ nguyên tử nhỏ ra sao và vô thường thế nào? Cũng như không chỉ kể nỗi buồn độc hành trên lưng ngựa mà còn nói ra nỗi cô đơn trên máy bay phản lực cùng ngồi với hàng trăm người, và còn quá nhiều hình tượng nữa…
Muốn đong tri thức cho đầy để sáng tác phải vượt qua gian nan rồi, chưa thấm vào đâu so với làm đầy tâm thức để sáng tạo thơ.
Mỗi con người đều được hai dòng năng lượng vật chất và năng lượng tâm linh kết thành và luôn tương tác với nhau suốt một đời người, lưu ý hai dòng năng lượng này đều trong một nhất thể của thực tại vũ trụ. Thi sĩ bẩm sinh bao giờ dòng năng lượng tâm linh cũng vượt trội hơn, nên chọn nghiệp thơ. Biểu hiện ra là đa cảm, nhạy cảm, và có tính tiên tri… Tri thức là hiểu biết của bộ não thuộc dòng năng lượng vật chất, còn tâm thức là hiểu biết thuộc dòng năng lượng tâm linh. Phương pháp của tri thức ai cũng rõ, như học ờ trường, đọc sách, hội thảo… Còn phương pháp của tâm thức không ai chỉ dạy để tiếp thụ được, mà chính mỗi bản thân tự trực cảm bằng thiền, quán tưởng, chay tịnh, ngẫu nhiên phát lộ… thật nan vấn phải chăng thi sĩ của xưa nay?
Thơ viết cho công chúng đọc, nhưng xúi giục người ta, ai cũng làm thơ được là mị dân. Với lý lẽ rất kêu: “mọi người “hưởng thụ” văn học và có quyền sáng tạo văn học”, đã tạo ra một không khí hỗn độn, không còn thẩm mỹ văn học. Sau khi thành công hoăc thất bại nghề nghiệp gì đấy, họ đua nhau cầm bút, dễ nhất là làm thơ, rồi viết tiểu thuyết…
Đương nhiên vàng thau sẽ lẫn lộn một giai đoạn dài, ngắn nào đó. Song nếu kéo dài qua, thì lịch sử ngàn sau sẽ rất ngạc nhiên tại sao có một giai đoạn xảo trá như vậy. Rất thiệt thòi cho những thi sĩ đích thực sống trong thời kỳ bị lý tính thuần túy, biểu hiện thành ngụy biện đang áp đảo này.
Phải chăng thơ là dòng năng lượng của Tâm Linh, dòng năng lượng ấy xuất phát từ con người làm thơ hòa nhập với ngôn ngữ thành khối lượng chính là bài thơ, nên đổi mới thơ là làm phong phú, đậm đặc năng lượng chứ không phải hài lòng với vo tròn, bóp dẹp khối lượng? Bài thơ dù dài, ngắn ra sao; âm điệu ngôn ngữ thế nào vẫn không bù đắp chút gì cho năng lượng thơ.
Dòng năng lượng tâm linh chính là nội lực của thi sĩ./. (4)
Attapeu, 6/01/2008 (28.11.Đinh Hợi)
Chú Thích: Vui lòng đọc những bài viết cùng tác giả dưới đây để sáng tỏ thêm vấn đề:
(1) Suy nghĩ về câu nói của nhà nho Nguyển Tư Giản. Vannghesongcuulong.org.vn
(2) Paul Valéry, tiếp bước sau trường phái Tượng Trưng, tạp chí Văn 1991 Sài Gòn.
(3) Những chữ qua cầu tâm linh. newvietart.com hoặc Gieo&mở, chuyên san thơ số 1, 1994.
(4) Bài viết này Triệu Từ Truyền có vài lời nhắn gửi cho những ai mang nghiệp thơ Việt Nam, là một cách tiếp cận thơ, không muốn thay thế cho một hệ thống lý luận mỹ học nào. Và đây là một ngón tay chỉ vầng trăng rằm của thơ.
tải đăng theo nguyên bản của tác giả gởi từ Attapeu-Lào ngày 09.01.2008.