Tiểu Sử và Tác Phẩm.
Vũ Anh Khanh tên thật là Vũ Văn Khánh (26) sinh năm 1926 ở Phan Thiết.
Vào Nam hoạt động văn nghệ với Lý Văn Sâm, Thẩm Thệ Hà và Dương Tử Giang.
Tác phẩm chính đã xuất bản: Bên Kia Sông (truyện ngắn), Đầm Ô Rô (truyện ngắn), Chiến sĩ Hành (thơ trường thiên), Sông Máu (truyện ngắn 1946), Ngũ Tử Tư (truyện ngắn 1950), Nửa Bồ Xương Khô (truyện dài tập I và II, 1950)v.v…Cuốn này bị cấm lưu hành.
Hoàn Cảnh Xã Hội Ảnh Hưởng Đến Tác Phẩm.
Tình trạng chính trị miền Nam, khác hẳn miền Bắc và Trung. Chính phủ trị tự trị Nguyễn văn Thinh chỉ là bù nhìn ở thành. Còn hoạt động kháng chiến rất tự do ở thành, ở thôn quê, rừng núi. Bảo vệ lấy tính mệnh để cùng chiến đấu chống xâm lược. Cho nên tất cả đề tài viết đều hướng về kháng chiến.
Những tác phẩm của Vũ Anh Khanh phần nhiều (có thể là hầu hết) là truyện ngắn; mà bất cứ truyện ngắn nào cũng bắt nguồn ở đề tài kháng chiến và lột mặt trái xấu xa đô hội bị ngoại bang chiếm đóng. Vũ Anh Khanh khác Quốc Ấn ở điểm: đề tài của Vũ Anh Khanh thoát, còn đề tài của Quốc Ấn đôi khi giả tạo và nghệ thuật non tay. Đọc truyện của Quốc Ấn truyền cảm ít, trái với Vũ Anh Khanh, dồi dào.
Truyện dài Nửa Bồ Xương Khô (2 tập) của Vũ Anh Khanh có nhiều tác dụng trong quần chúng, khiến chính quyền lúc ấy phải hạ lệnh cấm. Cũng như Nguyễn Bảo Hóa bị cấm quyển sử Nam Bộ Chiến Sử hay Thiếu Sơn bị cấm lưu hành tàng trữ cuốn Hai Cuộc cách mệnh 1789 và 1945 (Pháp và Việt Nam) Nhìn vào tác dụng Nửa Bồ Xương Khô, chúng ta nhận thấy nghệ thuật văn không có gì đáng kể so với truyện ngắn. Tác dụng chính trị ở truyện dài tất nhiên có ảnh hưởng lớn.
Vũ Anh Khanh còn là nhà thơ. Trường thiên thơ CHIẾN SĨ HÀNH hoặc một THA LA đăng trong tuyển tập thi ca THƠ MÙA GIẢI PHÓNG (1949) xác nhận thêm vai trò thơ rất quan trọng trong đời văn Vũ Anh Khanh. Còn là thi sĩ có bút pháp vững vàng, tứ thơ mới, nội dung mang nhiều hình tượng; có thể nói rằng hai nhà thơ đáng kể nhất của miền Nam lúc bấy giờ là Vũ Anh Khanh và Hoàng Tố Nguyên… Trong khi ấy, các thi sĩ khác như: Trúc Khanh, Bân Bân, Tố Phong, Thẩm Thệ Hà, Khổng Dương... có làm thơ; nhưng thích dùng từ sáo mòn, cổ; dùng rượu tiễn, gươm chuốt, trong cuộc tiễn đưa nào mà chả có ly bôi – Không hợp với hoàn cảnh hiện tại bom đạn chiến tranh là hình tượng mới.
Phân Tách Tác Phẩm Chính.
Trước hết, chúng tôi mở xẻ tập SÔNG MÁU (1950). Sông Máu gồm: Sông Máu, Trên Thái Bình Dương, Sài Gòn ơi, Tiếng Dịch Sông Ô, Cây đàn câm, Hai lá thư chưa gửi, Mai Phi, Cầu chìm. Trong tập này chuyện đặc sắc nhất Sông Máu, Cầu chìm và Trên Thái Bình Dương. Tập truyện ngắn này nói chung về nghệ thuật, giữa các truyện không chênh lệch là bao, tác giả viết đều tay.
Trong Sông Máu, nhân vật chính cô lái đò và khách qua giang. Huyền, cô lái xinh tươi có mẹ già. Gặp khách trẻ tuổi vào một buổi chiều trên bến đò Phố Phủ. Khách ưa ngâm thơ và khách còn là chiến sĩ. Gặp duyên trên bến đò, cô lái yêu thơ, còn chiến sĩ yêu cô lái. Thế rồi hai người yêu nhau. Chàng trai còn vương thêm bệnh yêu tổ quốc nên bắt buộc dẹp tình yêu nhỏ bé để lên đường. Có một đêm, mẹ của cô lái âu yếm nhìn con mình, nhìn khách thắm đượm duyên, cất tiếng hỏi:
“… Ở khoang trước, mẹ Huyền trở mình bà còn thấy ánh đèn leo lét sáng bà bảo:
– Hai con chưa đi ngủ ư? Khuya rồi đấy nhỉ?
Huyền dạ một tiếng rồi tắt đèn. Trong bóng tối lờ mờ, hai mái đầu xanh son trẻ dựa vào nhau im lặng.
– Anh ngâm thơ Huyền nghe nhé.
Huyền gật đầu, ông khách giọng trầm ngâm:
Phong tiêu tiêu hề, dịch thủy hàn
Tráng sĩ nhất hề, bất phục hoàn.
– Buồn lắm anh ơi! Anh ngâm làm gì những vần thơ ấy cho lòng em đau đớn”.
Tả cảnh trao duyên rất đẹp, nhưng có một điều các nhà văn miền Nam trong thời kỳ đó mắc phải bệnh hay dùng điển cố và khuyết điểm này khiến độc giả mất phần hứng thú, với chuyện nửa cổ, nửa kim.
Tả đoạn chia ly. Một buổi mai còn sương sớm, khách lên đường, cô lái đò ở lại bến sông. Ông viết với giọng say sưa, quyến rũ:
“… Sáng hôm sau, trời còn lờ mờ sương, Huyền đã vội nhổ sào, chống đò sang ngang tiễn đưa ông khách về phố Phủ. Đến bến, Huyền bịn rịn cầm tay khách, mắt mờ lệ trắng nhìn trời, lâm râm khấn:
– Lạy Giời cho chóng bình yên mà trở về với thiếp.
Ông khách vội quay đi, quả quyết giựt tay lại rồi bước nhanh lên như trốn chạy.
Huyền nghẹn ngào đứng im nhìn theo. Mẹ Huyền lẩy bẩy đi lại gần Huyền để tay lên vai Huyền, hỏi nhỏ:
– Nó đi bao giờ thì nó về?
Huyền chùi nước mắt nhìn mẹ.
– Không về nữa mẹ ơi!
Nói xong thì Huyền khóc, những giọt nước mắt làm xao xuyến luôn tấm lòng già. Mẹ Huyền chợt hiểu càng sụt sùi…”
Khách bị xử tử, Vũ Anh Khanh đưa tới kết luận sầu thảm để kích thích lòng yêu nước của đồng bào đang chống lại ách thống trị. Vũ Anh Khanh nhấn mạnh "Vì hôm nay có cả cụ lớn Tuần Vũ và qua Công sứ đại thần về chủ tọa". Vũ Anh Khanh không đưa chủ quan của ông vào, nhưng chính sự khách quan trong chủ quan định hướng cũng đủ kích thích độc giả yêu nước. Vũ Anh Khanh như chịu ảnh hưởng Nguyễn Tuân, một Nguyễn Tuân tiền chiến trong tập truyện Vang bóng một thời (27) có hề nguyền rủa bọn thống trị đâu? Vẫn khách quan nhận định, nhưng lối viết tế nhị châm biếm, mai mỉa ấy thì người đọc hiểu tác giả khích động bằng giọng văn căm hờn đưa đến lật đổ chế độ.
Người khách yêu nước bị xử tử. Cô lái đò buồn man mác. Huyền vẫn đưa khách sang sông. Rồi một đêm Huyền mơ thấy khách về gọi Huyền để sang đò. Thì bên kia phố Phủ, gần bãi pháp trường có bóng một người xách đầu mình tới bến. Huyền giợn người… Đoạn văn này Vũ Anh Khanh đã truyền cảm độc giả:
“… Một đêm mưa lớn, Huyền ra cột lại sợi giây neo cho chắc thuyền. Bỗng Huyền giật mình, giữa một đêm mưa khuya bão mà có người gọi đò:
– Huyền ơi, cho anh sang đò.
Bên kia bờ phố Phủ, ngày ở bãi pháp trường thấy lờ mờ một bóng người mặc áo chàm xanh, một tay xách đầu mình, một tay ngoắc nàng.
Huyền giợn cả người, đứng bơ vơ nhìn giòng sông cuộn sóng, tự nhiên Huyền đưa tay lên giụi mắt. Lạ quá! Nước sông khi không đổi sắc đỏ hồng như máu một sắc máu quen thuộc của một người…”
Đoạn kết, cô lái đò bỏ khoang thuyền, bỏ khách sang sông, đi mất. Không biết cô lái đi đâu? Đi trả thù cho người yêu đã bị bọn thống trị xử tử hay bỏ trốn để quên cảnh xưa? Kết luận ở thể hoài nghi, một Vũ Anh Khanh có lập ý cao viết truyện như Anatole France, Hoffmann, Edgar Poë, Khái Hưng…:
“… Thời gian qua…
Ba năm rồi, ly loạn, con thuyền đưa khách vẫn neo chỗ cũ nhưng không ai biết Huyền bỏ đi đâu?
Huyền hẳn không về phố Phủ mà chắc là đi qua phía cánh đồng dâu tằm, tìm đường về bến Ké lần vào dẫy núi Tà–Khoun chằng chịt rễ cây già.
Con sông tỉnh Quảng giờ hết trong mà lúc nào dòng nước cũng đỏ ngàu ngàu. Người Phố Phủ đó ngẩn ngơ không hiểu vì sao?...”
Đến truyện Trên Thái Bình Dương lối viết theo dự tượng, đoán ở hậu bán thế kỷ hai mươi (1960) sẽ có trận thế giới chiến tranh thứ Ba. Khói lửa bao trùm từ Âu sang Á; Tây Âu đến Đông Âu, Bắc đến Nam Cực. Phía bên Pháp có những dũng sĩ Việt, bên Việt có những dũng sĩ Pháp.
Truyện kể dưới đây xảy ra trên Thái Bình Dương. Cottier và Vương Dung được lệnh lái thủy phi đoàn ĐOÀN KẾT thám thính tàu nghịch. Cottier lái chiếc phi cơ đậu trên tiềm thủy đỉnh, sau khi đã giao tranh với địch.
Cottier và Vương Dung ôm nhau nhìn bờ cõi Việt Nam chờ tàu tiếp viện lương thực. Nhưng tới khi họ gần chết đói, Cottier nhớ đến Catherine, Vương Dung nghĩ đến người tình của anh. Đoạn tả mối tình giữa Dung và Tấn, Dung kể cho bạn nghe:
“… Khi còn đi học, tôi đã yêu thương một cô gái nhỏ hiền lành làm thư ký cho mẹ tôi để biên sổ sách và bán hàng. Nàng mồ côi cha mẹ, tôi con nhà giàu, nàng ngây thơ tin tưởng ở nơi tôi bởi những lời hò hẹn vu vơ không có gì đảm bảo.
Khi ra trường, sẵn có khiếu văn chương, tôi đeo đuổi nghề văn. Tiếng tăm tôi lừng lẫy trong nước một thời. Tôi lén lút đem nàng về ở tại tại một gian nhà ngoại ô. Nàng khuyến khích tôi viết, nàng chăm nom sức khỏe cho tôi để đến một ngày, tôi nghe cha mẹ mà phản nàng.
Người vợ mới của tôi đẹp hơn nàng, học giỏi hơn nàng về nhất là giàu hơn nàng nhưng lại thua nàng ở chỗ không phải yêu tôi mà lấy tôi.
Hôm tôi nói thật tất cả cho nàng hay và tặng nàng một số tiền lớn, nàng im lặng ngồi nghe và im lặng đem sách vở, quần áo tôi mà xếp vào va ly tiễn tôi đi lấy vợ.
Nàng có một vẻ lạnh lùng gần như không cần gì cả, nhưng tôi biết nàng đau khổ vô cùng. Chúng tôi xa nhau, một hôm tôi nhận được do nhà giây thép, số tiền của tôi tặng nàng và một lá thư vỏn vẹn mấy chữ:
“Tình yêu của người con gái này không thể trả bằng tiền. Tôi xin gởi trả lại cho ông để ông tặng lại người khác”.
Thế rồi năm 1945 trận chiến tranh huynh đệ, giữa hai nước Việt– Pháp bùng nổ. Tôi bỏ văn theo võ, sống với anh em chiến sĩ trong những ngày liều lĩnh nhất của quê hương. Vợ tôi đi lấy chồng khác, còn nàng, tôi không biết nàng sống ở phương trời nào?
Cottier bỗng rú mừng:
– Dung ơi có tàu đằng xa kìa.
Hai người chăm chú nhìn Dung hốt hoảng:
– Tàu địch đúng rồi tàu địch! Chúng mình chết mất! Một loạt súng bắn tới, chiếc thủy phi đoàn trúng đạn chìm xuống từ từ. Dung và Cottier nhẩy xuống biển bập bềnh theo lượng sóng.
– Cottier liệu có lội được không?
– Yếu sức quá! Vĩnh biệt Catherine!
Chàng ngay chân mặc dòng nước cuốn đi, Dung trườn tới kéo bạn nhưng mắt chàng cũng hoa lên. Một viên đạn trúng ngay vào đùi. Dung hét to..."(trang 22,23).
Diễn tả sự trung thành một người đàn bà Việt Nam giàu lòng hy sinh. Chính điều đó nói lên đặc tính người đàn bà ta để thế giới nhận định về luân lý cổ truyền và nếp sống trầm mặc của người Á Đông sẵn căn bản đạo đức vững vàng, bao giờ cũng sẵn lòng tha thứ kẻ không biết giác ngộ hôm nay; sau chính nghĩa sẽ cải tà vi thiện ở mai hậu.
Còn Dung tưởng mình đã chết. Nhưng Dung đã gặp lại Tần, người vợ ngày xưa ấy nay trở thành y tá. Sau khi được mổ xong, Dung tưởng gặp Tần trong ảo mộng. Dung hỏi Tần để tang ai, người thiếu phụ trả lời để tang Dung bằng mắt. Bồi hồi cảm động:
“… Em có giận anh không?
Tần không trả lời, nàng nhìn ra ngoài cửa sổ. Trời cao và xanh, gió dịu hiền thổi rung rinh những cành hoa lựu đỏ tươi như màu máu thắm. Đôi chim sẻ miùa đang mớm mồi cho nhau trên cành bàng.
Im lặng.
Bỗng xa xa một điệu khúc tuyệt vời….”
Đến Cầu Chìm, trình bày cuộc đấu tranh giữa tình yêu cá nhân và tình yêu đất nước. Chế Cầu, người Chàm là họa sĩ. Khi nhà Trần đem quân vào đánh phá thành Đồ Bàn giết vua Chàm và bắt nàng Mỹ Ê về đất Việt thì Chế Cầu được lệnh nhận nhiệm vụ hạ sát vua nhà Trần.
Ra đến Thăng Long sống bằng nghề vẽ. Họ yêu nhau. Chế Cầu quên tình đất nước mà say đắm nguyệt hoa. Bỗng một phút tỉnh ngộ, nhờ lời thề. Chế Cầu sách gươm vào để giết vua Trần, nhưng khi vừa giết được võ quan hầu vua thì sa lưới: Và đây là đoạn kết:
“… Những ngày cuối cùng trong ngục, Chế Cầu được phép tự trích máu của mình pha màu để vẽ một bức tranh. Chàng dùng hết tài lực, đem hết tâm trí tạo một tác phẩm cuối cùng của mình để gửi lại người yêu tạ tội chàng đã giết cha nàng…”
Ông muốn cảnh tỉnh thanh niên Việt giữa thời loạn khi tổ quốc lâm nguy, giặc cướp nước mình thì chớ bao giờ quên bổn phận. Đó cũng là hình thức kích thích lòng yêu nước để thanh niên khỏi sa vào đường bội phản. Bội phản tổ quốc bao giờ cũng đắc tội hơn hết.
Đầm Ô Rô (1949) tập truyện ngắn gồm những chuyện: Miếng đỉnh chung, Hối tắc, Đầm Ô Rô, Ma Thiên Lãnh, Khổ nhục kế, Tóc Thề...
Trong tập truyện ngắn này, ông chia ra làm hai đề tài: kháng chiến và trong thành. Sự hy sinh ở ngoài chiến địa, sự sa đọa trong thành; tuy hai là một đều lên án một đối tượng và đề cao một đối tượng chính nghĩa.
Miếng đỉnh chung cũng thuộc vào loại đề tài ấy. Gồm ba nhân vật: Thơ, Hoàng và Phổ. Thơ là vợ Hoàng. Phổ là người tình cũ của Thơ đi kháng chiến. Hoàng sống với Thơ ở thành, nhưng Thơ rất khinh miếng đỉnh chung. Nhưng một buổi Hoàng đưa cho vợ xem lá thư của Phổ. Phổ nhờ Hoàng chăm nom Thơ vì chàng sắp chết. Từ đó Thơ cảm động, ngờ oan chồng. Thì ra Hoàng tốt cũng như Phổ.
Truyện trên viết thoát, tuy nhiên một vài chỗ sắp đặt chưa vững (đoạn Thơ nghi chồng chạy theo miếng đỉnh chung hơi lộn xộn). Và chính tiêu đề chuyện cũng không đặt đúng trọng tâm. Cốt truyện không là thế, chắc chắn rằng khi ông viết câu chuyện này mục đích đả kích nhân vật Hoàng. Nhưng cuối cùng ông cho Hoàng thành người yêu nước. Chính thế, câu truyện lủng củng, sắp đặt luộm thuộm.
Hớt tóc, truyện xảy ra trong phòng đánh tài sỉu trong thành. Huyền bị thua bạc rồi ra sa ngã, bán rẻ nhan sắc để có tiền đánh bạc. Tả đoạn Huyền thua bạc, say sưa nhìn người khác đánh thèm thuồng. Quả Vũ Anh Khanh đã vững tay nắm được tâm lý nhân vật. (đoạn nói về những cặp đùi đàn ông láu cá):
“… Trời bức lắm. Mặc đầu trên trần nhà có quạt máy, Huyền vẫn thấy nóng lạ thường. Hơi nóng của những người đàn ông đứng sát vào người Huyền làm nàng khó chịu. Nàng khẽ sửa lại cách đứng cho bớt mỏi chân và sực nhớ một cảm giác lạ tự nhiên làm cho nàng đỏ mặt, nàng áp mình vào bàn để tránh những cặp đùi láu cá vẩn vơ cọ mãi vào đùi nàng.
… Hết tiền nên Huyền không đánh nữa, tuy vậy nàng vẫn đứng yên một chỗ để xem người khác đánh cho đỡ nghiện…”(trang 17).
Thế rồi, một ông khách đứng bên Huyền được bạc. Sau đó ông khách ra về, khiến Huyền nhìn theo. Huyền chạy ra, khi khách hỏi đến. Và hai người cùng đi trên đường khuya. Khách mời Huyền đi ăn cháo, tuy đói nhưng Huyền không dám nhận. Rồi ý nghĩ không đẹp, Huyền giằng tay khách để chạy. Nhưng khách đáp lại rất tâm lý: sẽ hoàn lại số tiền nàng thua. Huyền im lặng. Vũ Anh Khanh nắm vững về tâm lý cũng như về nhân vật của ông lần đầu tiên định bước vào sa ngã:
“… Đường về khuya gần giờ giới nghiêm nên vắng bóng người qua lại. Một cảnh tượng lạnh lẽo, hiu quạnh cho hai kẻ lạ lùng cùng đi sát vào nhau.
Chúng mình đi như một cặp vợ chồng.
Nghe khách nói thế Huyền bỗng rùng mình lo sợ. Lần đầu tiên trong đời người con gái, nàng đã đi cặp với một người đàn ông xa lạ lúc đêm khuya, giữa một thành phố lắm điều giả trá này. Một ý nghĩ chua xót đến trong đầu, tự nhiên Huyền chùn chân chậm bước và muốn chạy trở lại. Khách kéo tay nàng kinh ngạc:
– Kìa Huyền tính đi đâu?
Giọng nói ấm áp, dịu dàng, có vẻ tử tế của khách làm cho nàng hơi yên lòng. Nàng trả lời trong hơi thở gấp:
– Em…em sợ…ông buông tay em ra.
Trong bóng tối, Huyền thấy ông khách nhếch mép cười thương hại. Nàng thấy tủi nhục nghẹn ngào:
– Em hiểu ông muốn gì rồi. Nhưng ông lầm vì em không phải làm nghề này? (trang 19).
Mạt sát sự sa đọa con người dân tỉnh thành bị trụy lạc cám dỗ, bị tiền chi phối lương tri; tiếp theo, thắt nút:
“… Hai người đi vào nhà ngủ Tàu. Ánh đèn xanh làm cho Huyền thấy ngượng. Lần đầu tiên, vì tiền nàng bước vào ngưỡng cửa này. Thế là hết. Nàng bẽn lẽn cúi đầu để tránh những cặp mắt tò mò của mấy người bồi phòng cứ chăm bẳm nhìn nàng. Khách nói một thôi tiếng Tàu với bồi, rồi họ mỉm cười ý nhị, đưa hai người vào một căn phòng rộng đẹp.
Huyền bằng lòng gian phòng này không?
Huyền đứng im, khách âu yếm:
– Em cởi áo cho mát.
Một cái gì chặn lên cổ. Huyền thấy nghẹn lời. Nàng nhìn quanh phòng, nhìn khách, nhìn bàn ghế, nhìn bốn vách tường vôi im lặng, nhìn chiếc giường lót nệm trắng (màu trắng của trinh bạch). Một ý nghĩ chua xót mỉa mai chốc nữa mảnh vải trắng sẽ hoen ố, cũng như đời con gái của nàng…sẽ bỗng dưng… Huyền tối sầm mặt lại rồi không cầm được lòng nữa, nàng gục đầu vò vách khóc nức nỡ…(trang 20).
Mối thắt nút ấy có hai tác dụng: một:) hấp dẫn người đọc; hai: làm nổi bật tâm trạng một nhân vật của tác giả người khác thường. Tác giả muốn diễn tả tâm trạng giắt người tình đến đích (rủ được thiếu nữ đến phòng ngủ) thì tất nhiên không thể nào vượt được mục đích (ý nghĩa giao hợp). Nhưng đối với nhân vật có ý thức của Vũ Anh Khanh là chiến sĩ kháng chiến nên đoạn cởi nút của ông lý tưởng, ở chỗ:
“… Giờ tội lỗi. Đèn phòng ngoài đã tắt. Khách với tay sửa lại cái chao đèn bằng lụa xanh cho khỏi chói mắt Huyền. Nàng nằm yên, mở mắt thao láo nhìn khách chờ đợi.
Khách im lặng, chàng đã châm hai điếu thuốc rồi, chàng lấy thêm một điếu nữa, thỉnh thoảng cúi đầu xuống thành giường, mãi mãi chàng mới chậm rãi nói sau tiếng thở dài:
– Anh xin lỗi Huyền tự nãy giờ anh đã đóng kịch với Huyền và đã cố ý dùng những câu không được nhã để cho Huyền phải tủi lòng.
Khách uống một ngụm nước, buồn rầu nói tiếp:
– Đêm đêm, anh đã gặp, từ những sòng bạc công khai đi ra những chàng trai điếm đàng và những con gái trẻ đẹp. Và đêm đêm, trong những gian phòng kín đáo giữa châu thành có những người con gái sượng sùng neo thuyền đậu lại một bến Tầm Dương cùng kẻ đàn ông xa lạ đánh bản đàn lỗi nhịp, xót xa đau.
Những người con gái trẻ, dại khờ sau khi thua, bạc đã liều lĩnh nghĩ rằng: “Mình bậy bạ một đêm ai mà biết được! Ấy thế rồi một lần, rồi hai lần họ thành ra một bầy đĩ thập thành, để cho đời mình lăn mãi xuống dốc trụy lạc, không bao giờ trở lại được nữa! Trong số ấy có những bà phong lưu, đài các, những người trẻ tuổi cao sang, những cô gái quê mùa, nhưng chị bán hàng rong chợ búa…? (trang 21–22)”.
Kết thúc câu chuyện, anh chàng đó không ngủ với Huyền, vì lẽ chàng là một trong những kẻ mới về thành, lại sắp nhận công tác (kháng chiến). Trình bầy cảnh sa đọa của thành thị như vậy, Vũ Anh Khanh đã thành công: lột mặt nạ bỉ ổi bọn thực dân đọa lạc tinh thần người dân thành thị bằng tiền, tổ chức sòng bạc, khuyến khích mãi dâm. Có như thế thì người dân mới không bao giờ nghĩ đến chống đối chúng. Nhưng kết luận:
“… Nàng nghiêng mình âu yếm nhìn khách đang ngáy ròn đều trên bốn chiếc ghế lỏng chỏng ở một góc phòng…”(trang 24)
Đoạn này có nhược điểm; đành rằng người lính kháng chiến lý kia tưởng đã cứu vớt một người ra khỏi trụy lạc, nhưng tác dụng vẫn chỉ là cứu một người; còn bao nhiêu người khác vẫn sa vào vòng trụy lạc. Chữa nhà cháy chỉ cần mang một đồ vật ra khỏi nhà lửa, thì hẳn là tác dụng không đáng kể là bao! Và tác dụng một người giác ngộ hẳn không phải là không hay; nhưng ý định của Vũ Anh Khanh là trình bày một xã hội đi xuống; chẳng cần phải tạo ra một nhân vật kịch cỡm như vị khách đó, vì thiết tưởng rằng cách cấu kết nhân vật lý tưởng, hóa ra một nhân vật lý tưởng đứt giây trên trời rơi xuống. Giá mà khách không được bạc thì liệu tư tưởng cứu Huyền có hay không?
Đầm Ô Rô tiêu đề một truyện ngắn đặt cho cuốn truyện. Nhân vật chính: Hai chị em Quý và Nhân và hai thanh niên chống đế quốc. Trong khi họ đi tìm con gà mái bị lạc, Quý và Nhân bắt gặp hai chiến sĩ có một người bị thương. Một chiến sĩ nhận rằng họ đã chót bắt gà mái của gia đình Quý mổ làm thịt cho bạn ăn. Quý cảm động thương xót. Cả hai về nhà nói dối mẹ không tìm thấy gà, dấu diếm giúp đỡ chiến sĩ nồng hậu. Một chiến sĩ bị thương quá nặng chết, một chiến sĩ khác lưu lại trong giây lát để nhận sự tiễn đưa của một thiếu nữ ràng buộc với quê hương. Và tình yêu của họ bộc phát quá sớm; và phút lên đường chiến sĩ không thể nán dừng. Vũ Anh Khanh tả truyện này rất cảm động và thành công trong việc phân tích tâm lý nhân vật cũng như kết cấu:
“… Quê hương này còn ly loạn, biết bao giờ tôi, và cô, em Nhân lại gặp nhau? Bây giờ tôi phải lên đường lo cho trong sứ mạng. Ngày mai, ngày mốt, dù hay, hay là dở, dù có thế nào tôi vẫn nhớ buổi tiễn đưa não lòng này;
Quý cố cầm nước mắt gượng cười:
– Chúc đầu năm nay may mắn.
– Chúc cô và em Nhân đầu năm nay may mắn.
Ông khách cúi đầu nhìn nấm hở bùi ngùi
– Chưa chắc tôi trở lại đây lần thứ hai thăm cô và em Nhân, thăm mộ bạn tôi nhờ cô, em Nhân.
Chàng nghẹn lời, bóp chặt tay Quý một lần nữa rồi vội vã đi mau như muốn tránh một lần làm yếu chí người đi.
Bóng ông khách đã khuất mờ trong sương, Quý có cảm tưởng rằng người ấy một ra đi còn có bao giờ trở lại.
Nàng hắt hiu nhìn vào trong xóm vắng và thẫn thờ nghĩ đến ngày mai tang tóc lạnh lùng.
Rồi không thể cầm được lòng, Quý ngồi bịch xuống đất, gục đầu khóc…(trang 36)
Bên kia sông gồm những truyện ngắn: Ly bôi, Ngày xưa, Đèn Sài Gòn. Một đêm Trăng, Tráng khách, Cười mưa tan, Bát canh rau má, Người khách viễn phương, Chiều hôm qua, Thư của mẹ tôi...Những truyện ngắn này đều khai thác bối cảnh đề cao kháng chiến.
Đọc Ly bôi, nhân vật chính Năm Đen làm chúng ta nhớ lại truyện anh chàng Cai Xanh với hộp thuốc lào của Nguyễn Tuân trong Vang Bóng Một Thời. Vũ Anh Khanh chịu ảnh hưởng Nguyễn Tuân rất sâu sắc.
Ngũ Tử Tư, gồm những truyện ngắn: Con trâu giấy, Theo khói nhang rằm, Nhạc Thần, Phổ Xiếu Hùng lìn xì, Qua sông, Thần vòng. Một truyện đặc sắc là Theo khói nhang rằm. Tác giả tả mâu thuẫn giữa anh vợ và em rể, để rồi vì lập trường chính trị em rể bị giết. Thuận là em rể, một chiến sĩ vào tù ra tù vì chiến đấu cho độc lập. Nhưng hai người anh là tay sai cho phe thống trị nên lừa đem giết người em rể. Và mỗi lần có nhang khói là bóng ma lẻng về thăm vợ. Tác giả tả rất tế nhị, không siêu thực như Liêu trai hoặc mê hoặc đồng bào qua bóng dáng ma mãnh. Tác giả phải dùng một hình thức: nửa thực, nửa mộng; diễn tả để che mắt bọn đại diện thống trị kiểm duyệt. Chúng tôi cho trích dẫn đoạn văn vô cùng đặc sắc mà Vũ Anh Khanh tả hồn ma nói chuyện với nhau, một hồn sắp được về thăm gia đình:
“… Tiếng gà gáy bắt đầu đua nhau gáy điểm canh. Hồn Thuận nói với bạn:
Gần sáng rồi, ta phải về. Anh chịu khó tạt qua nhà vợ tôi để xem mặt cháu.
Dọc đường trăng sáng, hai bóng ma thẫn thờ nhìn những đưa bé ăn mày nằm ngủ cạnh vỉa hè, dưới manh chiếu rách, hồn vẩn vơ buồn nhẹ.
Gió khuya hiu hắt lạnh hơi sương. Trên từng cao giữa vời, con chim đêm hấp háy bay đi tìm mồi. Hồn Thuận đi sát vào bạn thủ thỉ:
– Cháu dễ thương lắm anh ạ. Tôi mong nó sau này nó giống tôi. Trong lá tâm thư viết bằng máu tôi dặn vợ tôi sau này ráng dạy con làm sao để nó đừng ham tiền tài, danh vọng. Những thứ ấy chỉ hạ thấp nhân cách con người xuống thôi.
– Chị ấy hiện giờ làm gì?
Nghe bạn hỏi, Thuận bỗng dưng thấy xót xa:
– Vợ tôi lâm vào cảnh túng. Giá nói đi làm công nhật cho một hãng nào đây cũng được. Nhưng nhà tôi nó sợ, nó ngại.
Vả lại thiên hạ thấy thế làm sao chẳng đồn rằng vợ tôi là gái nạ dòng không này thì nọ. Hai anh vợ tôi thì ruồng rẫy đứa em gái chót làm vợ một người thù, hơn nữa họ ghét thằng con tôi. Đối với cử chỉ hai anh mình, lòng tự ái của bà mẹ biết thương con tôi như vợ tôi, nó không bao giờ nhờ vả, thăm viết dầu là anh ruột.
Trước cảnh gà cùng chuồng thù nhau, mẹ vợ tôi khóc mãi, người thương con gái cháu ngoại, nhưng lại nể hai con trai. Làm thế nào?
Hồn Thuận reo lên, đưa tay chỉ một gian nhà lá leo lét ánh đèn vui vẻ.
– Nhà vợ tôi đấy, mời anh vào chơi.
Dừng chân trên nhịp cầu tre chân khỉ bắc ngang lạch con đầy bèo tím, hồn Thuận thở dài nhìn lại cảnh xưa.
Bởi đây đìu hiu, nghèo nàn quá! Cách vài trăm thước, đám nhà lá bị đốt còn đang lên mùi lá khét như mùi đất ẩm gặp cơn mưa ngày. Những con ễnh ương kêu dưới ruộng nghe vừa buồn vừa lạnh.
Vào nhà, hồn Thuận rón rén lại hôn lên tay vợ, đưa tay xoa trán con. Thằng bé kháu khỉnh nằm nghiêng rút đầu vào vú mẹ.
Hồn ma thứ hai tằn mằn đứng nhìn tấm ảnh bán thân của mình để trên bàn thờ. Qua làng khói nhang ngun ngút, hồn ma mỉm cười với ảnh bạn.
Vợ Thuận trở mình, chiếc giường tre cót két rung. Giọng nàng ảo não vang giữa bầu trời khuya vắng. Thằng bé nín, nàng ẵm con lại bàn thờ chồng thay lại tuần nhang rồi nức nở khóc một mình” ( trang 49).
Đọc truyện trên của Vũ Anh Khanh, cảm động vì hồn một nhà văn về thăm nhà; trước cảnh đói kém thiếu thốn của vợ U Linh(28). Và Vũ Anh Khanh không bao giờ quên cứu cánh của tổ quốc là độc lập, nên chẳng bao giờ quên phương tiện chính: đề cao cách mệnh, chiến sĩ.
Sự rung động sâu sa như tác giả kể chuyện lại (truyện thực) căm thù thương xót cho hai đối tượng, tác dụng sâu rộng được Vũ Anh Khanh khai thác triệt để, đề cao chính nghĩa dân tộc kháng chiến 1945.
Chiến Sĩ Hành, tập thơ trường thiên của Vũ Anh Khanh, đề cao người chiến yêu nước, tương tự đề tài viết trong tiểu thuyết. Kỹ thuật thơ Vũ Anh Khanh cao, nội dung truyền cảm, chính nghĩa sẵn có; cho nên Vũ Anh Khanh và Hoàng Tố Nguyên là nhà thơ điển hình bậc nhất ở miền Nam thời đó.
Tuy nhiên Chiến Sĩ Hành chưa hẳn làm Vũ Anh Khanh nổi bật, mà khả năng thơ Vũ Anh Khanh nổi bật lại là Tha La (Thơ Mùa Giải Phóng, 1949).
Đường ra biên ải kém xa so với Tha La (một thi bản đẹp gần như toàn diện).
Lời thơ bình dị trong một nội dung phong phú: rừng xanh, xóm đạo, già trẻ gái trai bừng bừng khuyến khích kẻ lên đường trả nợ núi sông.
Kết Luận.
Vũ Anh Khanh còn là nhà thơ có tài. Nhưng về văn thì Vũ Anh Khanh không trội bằng Lý Văn Sâm. Bình diện văn miền Nam trong giai đoạn ấy, Vũ Anh Khanh cũng là nhà văn có tài, sau Lý Văn Sâm. Vũ Anh Khanh gây được một âm hưởng rộng lớn, thức tỉnh lòng yêu nước người dân Việt sau trăm năm bị Tây thống trị. Về thơ, Vũ Anh Khanh có phần trội hơn (nói chung). Thơ mang một hình tượng mới, lồng trong kỹ thuật vững vàng, không sao chép, không dùng điển cố như các nhà thơ cùng thời.
THA LA
– Đây Tha La xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo
Giữa mùa nắng vàng hanh
Ngậm ngùi Tha La bảo:
– Đây rừng xanh, rừng xanh
Bụi đùn quanh ngõ vắng
Khói đùn quanh nóc tranh
Gió đùn quanh mây trắng
Và lửa loạn xây thành.
Viễn khách ơi! Hãy ngừng chân cho hỏi
Nắng hạ vàng hoa gạo rưng rưng
Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng
Có trái ngọt, cây lành im bóng lá
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ
Ngày êm đềm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây, khách hỡi, có ai chờ?
Ai đưa đón?
– Xin thưa,
Tôi lạc bước.
Không là duyên, không là bèo kiếp trước
Không có ai chờ, đưa đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu
Nghìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng
Nhìn hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng
Tha La hỏi: – Khách buồn nơi đây vắng!
– Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng
– Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn
Khách nhẹ cười nghe gió nổi từng cơn
Gió vun vút, gió rợn rùng, gió rít
Bỗng đâu đây vắng véo von tiếng địch
– Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán
Buồn trưa trưa, ngây ngất buồn xưa xưa
Lòng viễn khách bỗng tê tái lạnh
Khách rùng mình, ngẩn ngơ người hiu quạnh
– Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Đây mênh mông xóm đạo với rừng già
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch
Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng
Đang đón mây xa, khách bỗng ngại ngần
– Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rinh râu trắng
Nhẹ bảo chàng: Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù
Người nước Việt ra đi vì nước Việt
Tha La vắng vì Tha La đã biết
Thương giống nòi, au đất lầm than
Trời xa xanh, mây trắng nghẹn ngàn hàng
Ngày hiu quạnh. Ờ…Ơ… Hơ… tiếng hát
Buồn như gió lướt, lành đài đôi khúc nhạc
Tiếng hát rằng: Tha La giận mùa thu
Tha La hận quốc thù
Tha la hờn quốc biến
Tha La buồn tiếng kiếm
Não nùng chưa! Tha La nguyện hy sinh.
Ờ… Ơ… Hơ. Có một đám chiên lành
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy
Quỳ cạnh Chúa đám chiên lành run rẩy
– Lạy Đức Thánh Cha
Lạy Đức Thánh Mẹ
Lạy Đức Thánh Thần
Chúng con xin về cõi tục để làm dân
Rồi. . . cởi áo trả tu
Rồi. . . xếp kinh cầu nguyện
Rồi. . . nhẹ bước trở về trần
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy ngừng chân
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ
Trời Tha La vân vũ đám mây tang
Vui gì đâu mà tâm sự
Buồn làm chi cho bẽ bàng
Ờ… ơ… hơ… ơ…hơ…tiếng hát
Rung lành lạnh, ngân trầm đôi khúc nhạc
Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha La thương người viễn khách đi thôi!
Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đó
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ
Lá rừng cao vàng rụng lá rừng bay
Giờ khách đi! Tha La nhắn câu này:
Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé
Hãy về thăm xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tha La dưng ngàn hoa gạo
Và suối mát rừng xanh
Xem đám chiên hiền thương áo trắng
Nghe trời đổi gió nhớ quanh quanh
Trích Thơ Mùa Giải Phóng
VŨ ANH KHANH