TÁC GIẢ
TÁC PHẨM





. Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

. Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái
trong giấy tờ tuỳ thân 1936.

. Khởi sự viết văn cuối 1952.

. Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

. Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

. Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút - báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

. Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… -

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la banlieue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur - Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).





BÚT KÝ & TRUYỆN


THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 1/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E -mail 2/2

CHÀNG VĂN SĨ ĐẤT TỀ

ĐÊM DÀI TÌNH ÁI

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA -Chương 1 Kỳ 1

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 1 Kỳ 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 2/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3 tiếp theo

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 4

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 4

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 5

CON CHÓ LIÊM SỈ

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 6

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 5

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 7

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 8

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 9

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 10 - KẾT





BIÊN KHẢO


LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 1

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 2

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 3

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 4

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 5

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 6

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 7

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 8

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 9

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 10

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 11

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 12

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 13

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 14

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 15

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 16

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 17

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 18

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 19

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 20

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 21

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 22






















THAY LỜI DẪN

Lược Sử Văn Nghệ Việt Nam của nhà văn Thế Phong gồm 4 tập, đã được in 2 tập: Tập 1 NHÀ VĂN TIỀN CHIẾN 1930-1945, bản in ronéo đầu tiên ở Sài Gòn gồm 100 cuốn vào năm 1959. Bản tái bàn cuả NXB Vàng Son in 3000 cuốn ở SàiGòn vào năm 1974. Bià cuả họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi được chụp in lại trên đây , do một trong những NXB vô danh ở Mỹ in lậu ở California sau 1975 và Tập 4 : Tổng Luận đã chuyển ngữ A BRIEF GLIMPSE AT THE VIETNAMESE SCENE (from 1900 to 1956) và 2 tập 2 & 3 nói về văn nghệ kháng chiến, nhà văn hậu chiến 1900 - 1956 (văn nghệ quốc gia hay văn nghệ của VNCH) chưa bao giờ công bố trên văn đàn, mặc dù đã được lưu trữ tại một số thư viện TRONG NƯỚC (Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. HCM, Thư viện Khoa học Xã hội Tp.HCM) và NGOÀI NƯỚC như ở Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, Boston, Ithaca-New York, SIU, IOWA vv..hoặc ở Pháp, Đức, Úc..

Newvietart xin đăng tải lại một vài nhận định báo chí, văn giới về Lược Sử Văn Nghệ khi xuất bản lần đầu vào 1959 :

a) Tạp chí Bách Khoa:" ..Ông TPhong vừa cho ra một loạt phê bình văn học. Đó là ai nấy đều mong đợi, bởi vì sau một thời gian khá lâu chưa ai tiếp tay Vũ Ngọc Phan, chốc đà mười mấy năm trời' đúng một thời gian luân lạc cuả cô Kiều...."( số 56, năm 1959, TRIỀU ĐẨU)

b) Ông TP một văn nghệ sĩ thủ đô vừa viết xong và cho phát hành cuốn" Lược sử Văn Nghệ VN", trong đó tác giả phân tích các tác phẩm của văn nghệ sĩ ra đời từ 1930 đến 1945. Cuốn này được quay ronéo có bầy bán tại các hiệu sách. Sách này tác giả đã tốn nhiều công phu và sưu tầm khá nhiều tài liệu để biên soạn (nhật báo Ngôn Luận ngày 8/9/1959- Saigon).

c) ..." Điều thứ ba, sự phán đoán của anh hợp với ý tôi, phần nhiều các tác phẩm anh khen, thì tôi cũng nhận là có giá trị; những tác phẩm anh chê, thì tôi cũng không thích. các nhận xét cuả anh về Triều Sơn, Hoàng Thu Đông đều đúng cả. Đó là nhận xét của tôi; tôi phải phục sức đọc, sức viết, sức nhớ cuả anh. Cảm ơn anh một lần nữa.." (Nguyễn Hiến Lê, 12/3c Kỳ Đồng, Saigon 3- ngày 17/4/1959)

d) Nguyệt san Sinh Lực (1959, Chủ nhiệm: Võ văn Trưng- Saigon) :"...Hôm nay Thế Phong còn có thể ít nhiều nhầm lẫn-nhưng với khả năng rạt rào của tuổi trẻ, với lòng yêu văn nghệ đến đam mê, anh còn nhiều bước đi ngạc nhiên trên lãnh vực nà để đào xới lại mảnh đất hoang phê bình cảo luận bị bỏ quên trong nhiều năm. Sự cố gắng của Thế Phong là sự cố gắng hoàn toàn văn nghệ, cuả một người văn nghệ biết mỉm cười trong sự nghèo túng bản thân mình để hiến chiều dài cho văn học sử. Cũng có đôi khi ta thấy Thê Phong phê phán có vẻ độc tài và tàn nhẫn nữa; nhưng ta vẫn thấy rằng: đó là sự độc tài và tàn nhẫn không có tính cách tự cao, tự đại; hoặc dao to búa lớn; (trái lại) nhiều tinh thần thẩm mỹ, dĩ nhiên là có chủ quan. Ta quí sự nhận thức ấy- vì anh dám nói- cũng như người khác có dám cãi lại hay không là quyền của họ.." (Lê Công Tâm - Thanh Hữu, nhà văn).

e) Le Journal d'Extrême Orient (Saigon, 3 Décembre 1959)" Lược sử văn nghệ Việt nam-Hisotire de la littérature vietnamienne". Histoire sommaire de la littérature vietnamienne, òu l'auteur passe en revue les écrivains d'avant guerre 1930-1945. Cette oeuvre est tirée sur ronéo avec une tirage limitée. Fruit de minuitieuses recherches et d'une riche documentation donnée une vue d'ensemble des diverses époques et tendances des écrivains, des poètes du Vietnam, de leurs oeuvres, d'une littérature riche de plusieurs millénaires suivant le cours de l'Histoire. C'est une synthèse remarquablement coordonné annotée parle critique éminent qu'est ThếPhong qui l'achevée dans les derniers jours de Juin 1956

(đã in ở cuối sách "LSVNVN-Nhà văn tiền chiến 1930-1945 của ThếPhong, NXB Vàng Son Saigon 1974)...

Từ Vũ và Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những người muốn khách quan sưu tra sử liệu .





VÀI DÒNG TÂM SỰ NGƯỜI VIẾT SÁCH

T rước hết cảm ơn bậc đàn anh bước trước: Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh – Hoài Chân ... (chẳng là gần với tài liệu văn học tham khảo, cũng như so sánh).

Viết sách biên khảo hay phê bình, giá trị nhiều hay kém có thể nằm trong vài ý kiến dưới đây: Lập trường người viết phải có trước khi tìm kiếm tài liệu. Ấy là đã phải kể tới kiến thức, học và đọc; khả năng và tâm hồn văn nghệ nhạy cảm của người viết phê bình.

Lại cần kinh nghiệm, nhỡn quan nhìn, phải được chế biến theo lập luận người viết càng nhuyễn, sách càng phong phú. Không thể coi sách tương tự như cours nhà trường, làm thành gọi là biên khảo, phê bình văn học. Cũng như étude, non-fiction, fascicule, étude critique sur critique phân minh rõ ràng.

Tài liệu dồi dào, nhưng tài liệu nào chưa đọc, không nên bao biện. Người viết không định ý, lập luận; hẳn tài liệu phong phú dồi dào đi nữa; cuối cùng người viết chết theo với tài liệu sưu khảo được. Nhớ tới Nguyễn Hiến Lê trong một sách biên khảo bàn về tài liệu, nhất là tìm tài liệu văn học, sử học Việt Nam khó gấp bội phần khi sưu tập tài liệu tương tự ở nước ngoài. Ý kiến thật xác đáng. Nước ta triền miên khói lửa, và tầm mức thẩm định giá trị tài liệu văn học chưa được sử dụng đúng mức, công bằng.

Cộng đời sống thấp kém, ít thời giờ đọc sách, mua sách, bảo tồn sách, nên tủ sách văn học Việt Nam cần cho người viết sử dụng còn ở tình trạng rất thiếu thốn.

Khi viết bộ sách này, khích lệ tôi nhiều nhất phải kể tới một người: đó là anh Nguyễn Đức Quỳnh. Ông nhắn nhủ tôi rằng: “tài liệu nhiều chưa chắc đã là một yếu tố thành công, còn phải dám làm, dám nhận trách nhiệm”.

Đôi khi, chính kẻ dám làm lại liều lĩnh và dám biết mình ngu. Như vậy, chắc chắn tôi biết trách nhiệm khi viết sách. Cảm ơn một lần nữa nhà văn lão thành Nguyễn Đức Quỳnh, ông bạn văn tiền chiến vong niên. Nữa, cho tôi xin cảm ơn thêm vài tấm áo vải lao động: như anh chị Hai Nụ ở Xóm Chùa (Tân Định) làm nghề thợ thêu. Anh chị nuôi sống tôi hai năm trời: cơm và nhà ở. Nhà thuê vào năm viết bộ sách là một trăm năm mươi đồng. Tiền cơm bốn trăm đồng. Chưa hết, ông già Lịch bán thuốc lá, cũng ở đây; cho tôi chịu khoảng hai ngàn đồng tiền thuốc lá. Thuốc lá Ruby khoảng sáu đồng một bao. Sáu tháng liền, tôi chỉ đi ra tới ngõ; xa hơn là 147B Trần Quang Khải (Sàigòn 1) tới tiệm cho thuê sách Đức Hưng. Nơi này đủ gần hết tác phẩm tiền chiến, giấy dó Hàn Thuyên, mướn đem về đọc để làm tài liệu viết. Một người bạn nữa anh Lung cũng ở Xóm Chùa ngập nước, có một tủ sách khá lớn. Anh cho mượn và tôi sử dụng một cách sở hữu chủ. Anh từ miền Bắc vào Nam lâu, có viết báo tài tử, một người thật chân tình. Phải chăng chân tình này làm tôi cảm động, khi nghe kể đoạn đời anh tham gia kháng chiến ở Nam Bộ bị Pháp cầm tù. Đời tù đầy thêm kinh nghiệm sống, đời quất ngọn roi phũ phàng bao nhiêu, nạn nhân chịu nổi hờn đau sẽ sống lâu hơn; sau thì người ấy sẽ được liệt vào bậc tốt nhất xã hội trên mọi phương diện.Và một bạn học cũ Hà Nội : Tạ Văn Tài đạp xe đạp thăm tôi để khích lệ - trước khi anh đậu hai thủ khoa Văn chương và Luật khoa Sài Gòn rồi sang Mỹ du học.

THẾ PHONG





KỲ THỨ 22

Phần B

NHÀ VĂN MIỀN NAM

1945–1950

Tiểu Sử.

BÌNH DIỆN VĂN NGHỆ MIỀN NAM

1945 – 1950

a) Hoàn Cảnh Chính Trị và Văn Nghệ

Sau ngày 29–12–46 ở Việt Nam có hai mặt trận kháng chiến chống xâm lăng:

Mặt trận thứ nhất kháng chiến chủ lực ở miền Bắc và miền Trung, còn miền Nam coi như kháng chiến bổ sung.

Nói riêng về mặt trận văn nghệ, chúng tôi cũng chia ra làm hai phần như phân tiùch bình diện chính trị. Dù muốn dù không, đành rằng văn nghệ không là chính trị; nhưng mặc nhiên bối cảnh văn nghệ và chính trị có tương quan song hành với nhau.

Trong tập sách này, chúng tôi nói đến các nhà văn miền Nam 1945–1950 hoặc nói một cách khác, nhà văn kháng chiến bổ sung. Nhưng tinh thần đấu tranh phải được coi như một.

Trở lại mặt trận chính trị Nam Bộ, Pháp chiếm Sài Gòn và các thị trấn vào 23 tháng 9 năm 1945. Phong trào kháng chiến bùng nổ khắp mọi nơi.Ở miền Nam, chính phủ tự trị Nguyễn Văn Thinh chỉ là bù nhìn cho Pháp sai khiến. Sau cũng biết vậy là có tội với lịch sử, nên ông tự tử để cứu vãn danh dự phần nào. Hoàn cảnh chính trị như thế; nhưng bối cảnh văn nghệ cứu vãn được một phần lớn thúc đẩy tinh thần yêu nước trên bình diện thật rộng lớn.

Lập trường ủng hộ kháng chiến của các nhà văn miền Nam tạo được một lượng đáng kể. Nhóm Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Dương Tử Giang và Thẩm Thệ Hà nặng về phần sáng tác. Nhóm Tam Ích, Thiên Giang nặng phần lý luận theo hướng Mác xít tự phát.

Các nhà văn độc lập khác như: Hoàng Tấn, Bình Nguyên Lộc, Anh Huy, Việt Quang, Mai Văn Bộ (Bách Việt), Hợp Phố (nữ), Sơn Khanh, Phi Vân, Vũ Xuân Tự, Quốc Ấn, Nguyễn Bảo Hóa, Trúc Khanh, Hồ Hữu Tường vv...

Nhóm văn nghệ có khuynh hướng về lãng mạn cách mạng (romantisme révolutionnaire) như Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Dương Tử Giang, Thẩm Thệ Hà…

Nhóm sáng tác theo duy vật biện chứng (tự phát) như Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc, phê bình và lý luận theo duy vật sử quan là nhóm Chân Trời Mới, hướng về cộng sản khi hoàn cảnh “văn” và “chính” đang trong thời kháng chiến.

Qua các bộ môn, ngành văn phát triển hơn cả. Lối văn nhẹ nhàng lồng trong tác phẩm rung động của Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà, Dương Tử Giang… Về thơ, như Vũ Anh Khanh, Hoàng Tố Nguyên, Ái Lan…. Sau các nhóm đến các nhà văn độc lập.

Một số nhà thơ không nói đến ở đây; vì trong tập này cũng như các tập trong bộ phê bình văn học của chúng tôi, nặng về bộ môn văn. Và bộ môn thơ chỉ nói điển hình, các nhà thơ không nhắc đến xin hiểu thế mà châm chước cho.

Tiết 1

KHÁI QUÁT VỀ NHÓM LÝ VĂN SÂM

Lý Vân Sâm, Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà và Dương Tử Giang thuộc nhóm nặng phần sáng tác. Hai nhà văn sáng tác, điển hình là Lý Văn Sâm và Vũ Anh Khanh.

Tuy nhiên, Thẩm Thệ Hà và Dương Tử Giang có sáng tác và hai nhà văn sau này còn viết lý luận văn nghệ, mà có thể nói là đặt cơ sở sáng tác cho nhóm về nguyên tắc.

Về thơ, Vũ Anh Khanh còn là nhà thơ điển hình trong số hai nhà thơ nổi tiếng nhất của miền Nam giai đoạn 1945 – 50 thêm vào là Hoàng Tố Nguyên. Chúng tôi phân tích tỷ mỷ ba nhà văn điển hình: Thẩm Thệ Hà, Vũ Anh Khanh và Lý Vân Sâm và nhà văn Dương Tử Giang.

Sau 1950, sáng tác của Vũ Anh Khanh (1), Hoàng Tố Nguyên không khác trước. Trên tuần báo Văn Nghệ (Hà Nội) thỉnh thoảng mới thấy một bài thơ của Hoàng Tố Nguyên được đăng; nhưng không có gì đặc sắc như vừa đề cập ở trên.

Thẩm Thệ Hà thành lập nhà xuất bản LÁ DÂU cùng với Nguyễn Bảo Hóa, nhưng không có tác phẩm nào đặc sắc (tính đến hôm nay). ĐỜI TƯƠI THẮM của Thẩm Thệ Hà tả mối tình văn nghệ, đề cao văn nghệ; nhưng tình tiết sắp đặt lỏng lẻo không rung cảm người đọc và nhất là cốt truyện bố cục chưa vững.

Tiết 2

DƯƠNG TỬ GIANG

(1914 – 1956)

Tên thật Nguyễn Tấn Sĩ, quê Bến Tre. Bạn văn với Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh , Thẩm Thệ Hà thành lập nhóm văn nghệ, dựa trên lập trường dân tộc chống xâm lược 1949.

Tác phẩm TRANH ĐẤU (truyện dài). Có tác phẩm xuất bản trước năm 1945 như Con Gà và Con Chó (tiểu thuyết), MỘT VŨ TRỤ SỤP ĐỔ (truyện ngắn, 1949), CÔ SÁU TÂM THUNG (truyện thơ, 1949) và các bài viết về văn nghệ quốc tế trên báo Thế Giới (tạp chí) cũng như các bài phiếm luận bàn về nhân vật mới trong tiểu thuyết phải có sức khỏe (santé morale danh từ của Dương Tử Giang).

Truyện của ông vì quá say sưa với tinh thần kháng chiến (đôi khi siêu mác xít) nên cực đoan. Chính điểm ấy người đọc tin rằng đó là sáng tác được chỉ huy; chất giả tạo phơi bầy rõ rệt, thiếu chất truyền cảm thực. Hầu hết các nhân vật trong tập truyện ngắn MỘT VŨ TRỤ SỤP ĐỔ xây dựng với kiểu cách như thế. Ở Đồng Sinh Đồng Tử (trang 21), ông muốn người tranh đấu đừng quá tin đàn bà.

Ở Ngày Độc lập, tác giả chưa phân tiùch rõ được tâm tình cởi mở của một tù binh được Pháp trả lại tự do như thế nào là phải là đúng? Và đôi khi ông muốn uốn nắn nhân vật theo chủ quan định hướng của tác giả, thành thiếu nghệ thuật.

Ở Một vũ trụ sụp đổ, tả thái độ một cô gái Bắc vũ nữ tên Nga với cách đối thoại không đúng với miền Bắc, mà tác giả muốn lồng tác phong của họ có địa phương tính, nói về lối sống của một cô gái miền Bắc. Vì thế ngô nghê và giả tạo.

Dương Tử Giang, nhà văn lý luận cơ sở sáng tác cho nhóm và là cây viết cực đoan nhất trong nhóm. Tiểu thuyết của ông không phải là tiểu thuyết có đặc tính truyền cảm độc giả qua nhân vật có cảm quan mà lồng lý luận máy móc vào; nên văn Dương Tử Giang ở TRANH ĐẤU cũng nhữ MỘT VŨ TRỤ SỤP ĐỔ chưa thành công trên địa hạt tiểu thuyết.

Nhưng ông là một cây viết lý luận vững vàng ở hôm qua và tiểu thuyết của ông chỉ là phương tiện văn dĩ tải đạo dẫn đến tiểu thuyết chính trị chưa đạt nghệ thuật cao.

Tiết 3

THẨM THỆ HÀ

(1923 – ....)

Tiểu Sử

Tên thật Tạ Thành Kỉnh. Sinh năm 1923 ở Trảng Bàng (Nam Phần). Sống trong gia đình tiểu tư sản nên chịu nhiều ảnh hưởng giai cấp và sau này phản ánh qua văn thơ. Học hết chương trình ban Trung học, ông để một thời gian nghiên cứu văn học quốc tế trước khi viết văn.

Năm 1942, bắt đầu viết đăng thơ rải rắc trên các báo. Làm thơ ký Thành Kỉnh, ông dùng tên thật ở ban đầu khi làm thơ. Tác phẩm đầu tay của ông là Vó Ngựa Cầu Thu, tiếp đến là Gió Biên Thùy, Người Yêu Nước (tái bản hai lần, Tân Việt Nam, Sài Gòn 1949) vv...

Năm 1953, ông bị động viên, thời gian trong quân ngũ, là chủ bút báo quân đội Quốc gia Phụng Sự. Năm sau, ông được giải ngũ, trở về viết văn và làm giáo sư văn chương các trường Trung học Sài Gòn. Ông còn là tác giả: Việt Nam trên đường cách mệnh tân văn hóa.

Tác phẩm mới xuất bản: Đời Tươi Thắm (Lá Dâu Sài Gòn, 1957).

Khuynh hướng – Đứng trong nhóm Lý Văn Sâm và là cây bút nghị luận, sáng tác trong trường phái lãng mạn cách mệnh. Những tác phẩm có luận đề ấy, Thẩm Thệ Hà phục vụ kháng chiến chống xâm lược ở miền Nam.

Phân tách tác phẩm chính – Nói đến Thẩm Thệ Hà điển hình trong tác phẩm, phải kể đến tác phẩm Người Yêu Nước. Cốt truyện gồm ba nhân vật: Vũ, Bão, Phượng. Vũ là con nhà quan, Bão là người cách mệnh thực thụ, Phượng là người yêu của Vũ. Nhờ Bão, Vũ từ giã triết lý sách vở để đi vào con đường chiến đấu trong hàng ngũ giải phóng dân tộc; khi Pháp đổ bộ vào Việt Nam, 1946 lấy cớ tước khí giới của Nhật. Phượng yêu Vũ, nhờ người yêu nàng cũng lao đầu vào cách mệnh. Qua nhiêu chặng đường chiến đấu, vào tù ra ngục; Phượng bị đi đầy (phát vãng) nhưng thoát khỏi án tử hình nhờ một đại úy Pháp. Kết luận Người Yêu Nước qua lá thư Phượng gửi cho Vũ, dù nàng ở trong trại cải hóa, nhưng không bao giờ cải hóa nổi lòng yêu nước của Phượng và bao giờ tình yêu tổ quốc cũng song hành với tình yêu Vũ đang chiến đấu ở phương trời xa.

Thẩm Thệ Hà hòa đồng tâm hồn người đàn bà bừng tỉnh vào giờ khởi điểm cách mệnh; rồi hướng dẫn họ tranh đấu dành độc lập.

Ông đưa nhân vật Bão làm điển hình cho vai trò lãnh đạo cách mệnh giải phóng ở miền Nam. Tâm trạng chiến sĩ ấy phải biết hy sinh, mặc dầu họ không hẳn là người khác thường, vẫn có tình yêu cá nhân, gia đình, đồng loại, xa quê hương biết vọng tưởng. Đây là một Bão, Bão của Thẩm Thệ Hà diễn tả lòng nhớ thương ấy, qua một đoạn văn linh động:

“… Có những đêm đứng tựa bên sông cửa, lòng tôi tha thiết nhớ quê hương. Chẳng rõ khi hay tin tôi bị bắt gia đình tôi sẽ khổ đến bực nào, những người bạn thân yêu của tôi sẽ lo lắng đến bực nào? Có lẽ họ tưởng tôi đã chết. Có người hẳn đêm đêm cầu nguyện cho tôi. Nhiều khi những ý tưởng rùng rợn đến với tôi, tôi nghĩ biết đâu một khi chết, tôi sẽ không được an nghỉ dưới miếng đất êm đềm của quê nhà, mà tôi phải vùi thây ở một phương trời lạnh lẽo, thân mình dẫy đầy những vết đạn. Tuy nghĩ thế, tôi vẫn không nao núng…” (trang 29, quyển tái bản kỳ 2).

Đoạn văn trên phân tách tâm lý đúng, không phải đã làm cách mệnh là không sợ chết. Sự khác biệt chỉ là biết mình chết nhưng vẫn hy sinh. Tình yêu quê hương của Bão khiến chúng ta nhớ đến một nhà cách mệnh Việt Nam đã từng ca tụng rằng: ở trên đời này tình bạn và tình quê hương là đáng kể nhất. Vũ là bạn Bão. Ảnh hưởng cách mệnh đã đưa tâm hồn Vũ đến xáo trộn. Khởi điểm của thức tỉnh là đọc sách chính trị giai cấp đối lập mà Vũ đang sống trong đó. Vũ là con quan, thì tất nhiên người cha phải bênh vực giai cấp thống trị. Khi thấy con đọc sách tả đối lập; ông Phủ bực rọc và bắt con theo mình bằng cách cho đọc sách chống tả đối lập. Thẩm Thệ Hà ghi lại ở đây một hình ảnh:

“… Ông Phủ, tay cầm một quyển sách thong thả bước vào. Mặt ông không có vẻ giận, cũng không có vẻ vui. Ông kéo ghế ngồi, đặt quyển sách lên bàn bảo Vũ:

– Mẹ con nói độ rày con ham đọc sách, nên cha đã chọn quyển này cho con đọc. Vũ liếc mắt nhìn lên quyển sách thấy hàng tựa MẶT NẠ CÁCH MẠNG...” (trang 34).

Đoạn này, ông đã làm tròn sự kiện nhận xét tâm lý và tận dụng mọi khả năng lột mặt nạ tâm địa ác độc bọn phong kiến.

Một vài đoạn ông viết rất tâm lý như tả tâm trạng một người làm cách mạng (giai cấp tiểu tư sản) phải sống với nhân dân ban đầu bỡ ngỡ, khó chịu:

“… Càng sống chung lộn với hạng bình dân, Vũ cảm thấy cái khó khăn của nhiệm vụ. Họ là những người yên phận, ưa tịnh, nhưng chàng phải kiên nhẫn lắm mới chịu nổi với tánh tình và cách sống của họ. Đừng ai cố bào chữa họ là một người tốt đẹp, đáng ca ngợi. Vũ đã lầm khi bực mình vì những tiếng chửi mắng nhau của họ suốt đêm vì những chuyện nhỏ nhặt như mất một cái quần hay dành nhau một trái ớt. Những chuyện trộm cắp thường xảy ra luôn, những cuộc đánh nhau một cách tàn nhẫn không thương xót. Họ sống như thế, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác. Họ không nhìn lên trời, không nhìn ra xa và không muốn gì khác hơn kéo lê cuộc đời như thế trong tăm tối…”

Điều động triết lý trong sách và ngoài đời (lý thuyết và hành động) Thẩm Thệ Hà nhắc cho người đọc thấy sự tiếp nhận nền triết lý giáo dục học đường cũng như sách vở khác hẳn nhau. Đoạn này khiến chúng ta nhớ đến đoạn kết ở truyện một người bạn đường của Maxime Gorki. Gorki tả cuộc sống đãng tử của ông hòa đồng trong sinh hoạt dân chúng với người bạn đưa đi cùng trong bốn tháng; khác xa hẳn mớ triết lý của bác học, triết nhân trong sách vở (Mon Campagnon– trong tập Vagabonds)(21) (Ed. Albin Michel). Thì đây, ở Thẩm Thệ Hà ghi lại:

“… Sự thật, không có gì là lạ. Nếu một bài học trong cửa ngục giúp cho anh Bão thành vĩ nhân, nếu những sự thật ngoài đời giúp cho anh vượt khỏi chỗ huyền vi của Mặc Tử đi tìm một tôn giáo khoa học, thì sự diệt hết dục vọng cá nhân của em (Phượng) để bước vào lề xã hội cũng là một sự thường” (Thư Phượng gửi cho Vũ).

Bức thư còn là đoạn kết cuốn truyện, Phượng bị đưa đi phát vãng, gửi thư cho Vũ; tạo cho người đọc buồn thấm thía; nhưng không vì thế tiêu cực. Đoạn văn đặc sắc nhất trong tâm thư ấy, khiến chúng ta cảm phục con người cách mệnh từ chối hôm nay nghĩ đến ngày mai và họ hy sinh thân họ đầu tiên:

“… Đêm đó, đời em bắt đầu sa vào tăm tối. Cánh cửa ngục chắn ngang cuộc đời tự do và cuộc đời tù hãm, ngăn cả tiếng gió lộng, ngăn cả ánh trăng xanh. Em còn đợi gì đây? Một ngày mai, người ta sẽ đưa em đến bãi đất hoang vu, lựa cho em một nơi yên nghỉ tốt và gởi cho em một phát đạn. Thế là hết! Em sẽ yên phận em, mặc cho trận cuồng phong dầy xéo trên mảnh đất thân yêu. Có cái gì chua xót động ở lòng em và trào lên mắt em. Em thấy tâm hồn em cũng đau thương như hồn nước. Một buổi em đang ngồi tĩnh tâm ở góc khám để hồn theo dõi những hoạt động của những người bạn xa. Chẳng hiểu anh Vũ hiện đang làm gì? Anh Bão đã rút quân đội về đâu?...” (trang 65).

So ưu và khuyết trong văn Thẩm Thệ Hà không là bao! Có lẽ nhiều khi nhân vật Thẩm Thệ Hà yêu nước quá nồng nhiệt đến nỗi đi đâu cũng vỗ ngực là đang làm cách mạng. Thái độ của Vũ chứng tỏ điều ấy trong Người Yêu Nước.

Văn Người Yêu Nước khô khan, thiếu hấp dẫn, nhưng đi vào chiều sâu con người. Nếu người đọc không nhận định được rằng cần phải theo dõi tác giả; thì có lẽ sẽ buông ngay từ đầu cuốn. Như vậy, chứng tỏ nghệ thuật viết tiểu thuyết Thẩm Thệ Hà chưa cao. Đôi khi nhân vật tiểu thuyết thiếu tự nhiên, có vẻ sắp đặt theo luận đề. Người Yêu Nước không gần gũi với mình thì lẽ tất nhiên thiếu tác động cảm hóa người đọc; mà chính ý định của tác giả là mong cảm hóa độc giả trong đường lối chính trị qua tiểu thuyết. Ông là nhà văn không giầu tình cảm, có lẽ một phần Thẩm Thệ Hà bị ảnh hưởng trước đã từng viết lý luận. Nói thế, không phải là nhà văn biên khảo hay lý luận không viết được tiểu thuyết hay.

Văn Thẩm Thệ Hà khô khan, nhưng ông cho rằng lối tả thực xã hội cần phải thế. Ông bênh vực sự thiếu nghệ thuật viết tiểu thuyết của mình bằng mấy lới thanh minh ở bài tựa: “Người Yêu Nước”.

"Nếu trong có vài đoạn tả tình, đó chỉ là tính cách lãng mạn cách mạng (Rr)(22). Các danh tác như Stribling, Ostrovski, Boris Gorbatov cũng thế...

Trong lúc cao trào cách mạng đang bốc lên, ông cho rằng nếu tả tình thì e lãng mạn, nên ông giải thích mong đừng hiểu lầm chăng? Sự thật thì nào đâu có thế, một La Mère (Người Mẹ) của Maxime Gorki, một Gorbatov viết Tình Bạn của hai người liên lạc với nhau trong điện thoại biết bao nhiêu là tình tiết sâu đượm, mà tình ấy còn thiêng liêng hơn cả tình yêu thanh xuân. Hoặc Constantin Paoustovski đã dùng lối tả tình cảm con người theo giác quan (đã có) và đồng hóa theo mình (diễn tiến hóa chủ quan định hướng) thì từ sự hướng dẫn ấy mới đem lại kết quả, nghĩa là người đọc thấy rằng tâm lý không xa họ bao nhiêu và cái kết thúc trong tương lai của họ phải như hoàn cảnh tương đồng tác giả hướng dẫn thì mới là nghệ thuật cao đồng hóa truyền cảm. Bất tất, ông phải giải thích như trên (Chuyến xe đêm của Constantin Paoustovski do Trúc Đường dịch).

Kết luận – Thẩm Thệ Hà và Dương Tử Giang là, nhà văn khác hẳn Lý Văn Sâm và Vũ Anh Khanh, nghĩa là ở bình diện tiểu thuyết họ chưa có nghệ thuật cao. Sự phân định rõ rệt trong nhóm có hai phe phản ánh sâu sắc trong văn của bốn tác giả trên. Lý Văn Sâm và Vũ Anh Khanh có lối văn của cây viết kháng chiến chỉ biết yêu nước không nhìn xa; viết những gì sống đượm nồng nàn của dân tộc chống xâm lược. Còn Thẩm Thệ Hà, con người lý luận đặt cơ sở sáng tác và sáng tác giải quyết kết thúc theo cương lĩnh đã đặt ra.

Tuy vậy, Người Yêu Nước của ông hòa đồng cách mệnh và hướng dẫn dân Nam Bộ yêu nước chống xâm lăng vào 1946 khi Pháp tái xâm lược Việt Nam.

Ngưới Yêu Nước chưa hẳn là cuốn tiểu thuyết phong phú tình cảm, đặc sắc; nhưng điều ấy không làm lu mờ được ý định có công của tác giả đề cao và hướng dẫn lòng yêu nước qua tiểu thuyết lãng mạn cách mạng.

Năm 1957, ông cho xuất bản cuốn tiểu thuyết Đời Tười Thắm. Cuốn truyện này với bố cục lỏng lẻo, tình tiết nghèo nàn. Một lần nữa minh chứng Thẩm Thệ Hà chỉ là nhà văn có giá trị ở giai đoạn 1945–1950 mà thôi.

Tiết 4

LÝ VĂN SÂM

(1921 – 2000)

Tiểu Sử

Lý Văn Sâm là tên thật dùng trong các tác phẩm văn chương của ông. Sinh năm 1921 ở Tân Uyên vùng Sông Bé, thuộc Biên Hòa (Nam Phần) trong một gia đình trung lưu. Học ở Pétrus Ký (Sài Gòn) sau ở Hồ đắc Hàm (Huế). Thời gian này ông quen biết nhà văn Thanh Tịnh dạy học. Ngay lúc còn trên ghế nhà trường, ông đã tỏ ra là người có khiếu văn chương.

Năm 1947–48, Lý Văn Sâm là một trong hai nhà văn xuất sắc nhất ở miền Nam. Tác phẩm đầu tay của ông là Kòn Trô (Tân Việt). Ông đã có một kỹ thuật riêng biệt và nội dung truyện ngắn chững chạc. Ông viết cho các tuần báo miền Nam và Tiểu Thuyết Thứ Bảy của Vũ Đình Long ở Hà Nội (trước 1945) hoặc Việt Bút ở Sài Gòn. Ông còn viết kịch (VÀNG) diễn trên sân khấu, hoặc những vở khác đặc sắc như Sậu Lệnh, Trùng Dương, Đường Vào Xứ Phật... đăng trên báo Tiếng Chuông. Sau này ông cho xuất bản những truyện ngắn: Nắng Bên Kia Làng, Sương Gió Biên Thùy, Ngoài Mưa Lạnh... và nhiều truyện ngắn như Đời Tàn Trong Ngõ Hẹp đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy (truyện ngắn 1950), Một Con Chó Sủa Hóng Chiều Ba Mươi Tết (Giai phẩm Canh Dần), Một Cốt Truyện Mới (Xuân Vĩnh viễn, 1950).

Chúng tôi có trích đăng Tôi Viết Văn của ông đăng trên báo Xuân Sống Mới (1950, Sài Gòn) để hiểu thêm cuộc đời và văn nghiệp của ông:

"... Tôi vốn có khiếu văn chương từ năm tôi ngồi lớp nhất trường Biên Hòa. Tôi giỏi Việt văn là lẽ cố nhiên, nhưng tôi không có mộng trở nên văn sĩ sau này. Hồi ấy, tôi rất thích quyển Lời Hoa của Trí đức văn đoàn Đông Hồ tiên sinh ở Hà Tiên xuất bản. Tôi thích quyển ấy vì những ngọn gió quê, của những đồng lúa Tân Ba Biên Hòa thổi vào lòng tôi một cảm giác thơm ngọt ngọt và khởi cho tôi hồn văn của tôi một hứng thú mới. Lạ có một điều khi tôi lên học năm thứ nhất trường Lê Bá Cang, tôi không viết văn nữa. Có lẽ vì ông giáo Việt văn Trần Văn Hoàng (không phải là ông Nam-Vân) hồi ấy đã khiến cho giờ học chúng tôi thành ra buồn tẻ nên chúng tôi chán là phải.

Rồi cuộc xung đột giữa ông giáo Vĩ (trường Pétrus Ký) và tôi đã đưa đời học sinh tôi xa Sài Gòn. Tôi định ra Hà Nội học, nhưng rồi tôi dừng chân ở Huế, đặng vào trường Hồ Đắc Hàm.

Từ ấy, cảnh nắng vàng trên sông Hương và sương xanh trên núi Ngự đã đưa cái hồn lãng mạn tôi lên tuyệt vời. Tôi đâm ra yêu làm thơ vì tôi đã lấy nguồn thơ của anh Xuân Lữ (Nguyễn Khắc Lữ hiện ở Xiêm) tác giả tập thơ Tiếng Trống Trường.

Năm sau tôi qua trường Phú Xuân và chỉ thích đá banh ở sân S.E.P.H hơn là học hành. Là vì hồi ấy tôi sợ giờ toán như ngán thuốc bắc. Hồi ấy tôi ao ước học quốc văn với ông Hoài Thanh nhưng ông này lại dạy Pháp văn nên tôi bỏ học.

Một hôm anh Lê Mẫn, giới thiệu tôi với một người đàn ông còm lưng, trong bộ đồ nỉ xám hường và bảo rằng: “Đây là giáo sư Thanh Tịnh”.

Tôi biết Trần Thanh Tịnh từ đó.

(Nếu đến ngày nay có người bảo tôi rằng tôi viết văn có phần giống tác giả “Quê Mẹ” tôi xin nhận là đúng). Nhưng tôi lại không phải là học trò của Thanh Tịnh mà lại là bạn đồng mâm đồng chiếu. Người yêu Thanh Tịnh nhất không phải là tôi mà là anh Lê Mẫn. Trái lại, người mà Thanh Tịnh thương (xin hiểu nghĩa khác) không phải là Lê Mẫn mà lại là tôi. Là vì Thanh Tịnh thường nói: “Cái giỏi không phải là ở chỗ chăm học quốc văn mà ở cái thiên tài của anh. Rồi anh sẽ đi xa…” Chính hồi này tôi bắt đầu nghe lời Thanh Tịnh học viết đúng luật hỏi ngã.

Nhưng tôi vẫn không làm vừa lòng Thanh Tịnh vì tôi rất lười biếng. Qua năm sau, một thiên tài được nhiều người biết ở Huế lại là anh Trương văn Hai (Khổng Dương) tự lực xuất vốn in quyển thơ Ly Tao ở Huế và viết nhiều truyện ngắn cho các báo ở Hà Nội.

Tôi về Nam ít lâu, ham đọc sách hơn là viết. Cái thú bỏ nhà của tôi rất hợp với anh Lê Văn Đức (Huyền Đức) mà không hợp với tiếng gọi trở về gia đình của Thống chế Pétain.

Mãi đến lúc tôi thấy ba tôi cai quản lò than “Cái Thác Nước” ở Trị An, tôi rất thiếu bạn bè. Quanh tôi chỉ có rừng và thác. Trước mặt tôi, bút giấy là bạn. Tự nhiên tôi cần phải viết để quên buồn, chứ không phải để gởi đăng báo. Truyện thứ nhất hồi ấy là truyện Kòn Trô trong ấy tôi tả nỗi xa đời của một nhân vật bị đời xa. Viết rồi cất đó, để đọc chơi. Một hôm tôi cao hứng liền gởi bài ấy lại, nhưng không gởi đi báo nào cả. Bài thứ nhất nhắc tôi gởi đi Tiểu Thuyết Thứ Bẩy là bài Cây Nhị Sông Phố và bài thứ hai là Cái Ống Tiền. Đến khi nhận được một số báo, tôi mới biết rằng bài ấy sẽ được đăng. Tôi liền gởi tiếp bài Kòn Trô.

Tuần lễ sau tôi nhận được thư khuyến khích của anh Vũ Bằng. Không bao lâu chúng tôi trở nên đôi bạn thân , chỉ yêu quí nhau bằng thơ chứ không gặp mặt nhau lần nào hết.

Từ ấy, tôi ham viết, viết chơi chứ không bị sanh kế thúc bách như bây giờ”.

Tác phẩm chính – Kòn Trô (Tân Việt), Ngoài Mưa Lạnh (Sống Chung 1950), Sương Gió Biên Thùy (Tân Việt), Sau dẫy Trường Sơn (truyện dài), Lắng bên kia làng (truyện ngắn), Nga và Thuần (truyện dài – Phạm Văn Sơn Sài Gòn 1950) vv...

Hoàn cảnh xã hội ảnh hưởng đến tác phẩm –Cũng như Vũ Anh Khanh , Lý Văn Sâm đặt bối cảnh nhân vật trong một khung cảnh chính trị tương tự ở miền Nam Bộ. Vào giữa giai đoạn ấy đang bột phát tinh thần chống Pháp, bổ sung sự kiện tranh thủ độc lập cùng với Bắc bộ và Trung bộ.

Hầu hết các văn phẩm của ông mang đề tài kháng chiến chống Pháp, Nhật; bằng cách lôi cái xấu xa bỉ ổi của mặt trái đô thị (bas–fonds) và gián tiếp đề cao Giải phóng quân.

Ông viết nhiều truyện ngắn hơn truyện dài. Có thể nói rằng ông có hai truyện dài độc nhất đã ấn hành. Sau Dẫy Trường Sơn và Nga và Thuần. Truyện ngắn của ông đi sâu vào tâm lý hơn của Vũ Anh Khanh. Đánh địch, ông còn đánh vào tâm não con người qua nhát cuốc tâm lý thật sâu để rồi người đọc tác phẩm của ông nhìn thấy rõ hình tượng của con người khói lửa Nam bộ trong giai đoạn ấy.

Phân tách tác phẩm chính – Lý Văn Sâm thiên về ngành văn, những truyện ngắn của ông có sắc thái riệng biệt, một hình ảnh nhẹ nhàng bao trùm. Nếu so sánh truyện dài, truyện ngắn của Lý Văn Sâm SAU DẪY TRƯỜNG SƠN với NẮNG BÊN KIA LÀNG thì KÒN TRÔ, truyện ngắn đặc sắc hơn.

Chúng ta bắt đầu phân tách tập truyện ngắn đầu tay của ông : Kòn Trô (1949). Kòn Trô gồm những truyện ngắn: Thâm U và Cao cả (Thay lời tựa), Kòn Trô, Thần Ngư động, Xác Mu Mi trên núi đá, Răng Sa Mát, Voi đội đèn, Ngăn rạch bắt sấu, Mũi Tổ. Hai truyện đặc sắc nhất là Kòn Trô và Mũi Tổ. Sau Lan Khai, nhà văn thiên về truyện đường rừng, Thế Lữ với Vàng Và Máu; bây giờ chúng ta thấy có Lý Văn Sâm đi sâu vào việc khai thác tâm lý hình tượng sống người miền rừng Nam Bộ.

Kòn Trô là một truyện đường rừng, tác giả viết trong khi lên cộng tác với ông cụ thân sinh ở lò than Trị An. Tác giả chịu ảnh hưởng của núi rừng, hiu quạnh không bạn bè, nên viết lại cuộc đời của một tướng cướp bị đời quên lãng. Tác giả muốn nhấn mạnh : tình yêu rất dễ phá sự nghiệp. Một Từ Hải của Nguyễn Du vì cô Kiều mà bó tay về với triều đình, một Kòn Trô của Lý Văn Sâm bị một nàng thiếu nữ đẹp nghiêng sắc nghiêng thành đạp đổ sự nghiệp oai hùng vào một buổi hẹn hò năm sau: Tâm lý cô Kiều nào muốn giết Từ Hải, thì tâm lý Phụng có nỡ giết Kòn Trô đâu ? Phụng đi qua thác Mu Mi bị lạc. Gặp một tướng cướp ở khu rừng này, nàng bị sa tay vào đất đai của họ. Tướng cướp đối đãi với Phụng rất tử tế. Phụng định tâm giết tướng cướp, nhưng không thành. Tướng cướp hỏi tại sau nàng lại muốn giết Kòn Trô thì nàng giải thích tự muốn thoát vòng vây. Rồi tướng cướp thả người đàn bà đẹp ấy. Tình đầu chớm nở hẹn nhau đến mùa xuân năm sau. Ba năm sau Phụng có chồng lại đi qua thác ấy. Chồng nàng kể cho nàng nghe, Kòn Trô không còn ở đây nữa bị bắt vì một cô gái đẹp. Kòn Trô hứa với nàng gặp lại vào năm sau, vô tình cô ấy kể cho bạn nghe và hai cô bạn báo tin cho ông đồn Châu Mạ. Kòn Trô sa lưới.

Chúng ta nghe Lý Văn Sâm tả đoạn Phụng sa vào trại Kòn Trô và hình dung của một tướng cướp trẻ tuổi hiên ngang của một góc trời :

“… Nàng vừa hỏi vừa đưa mắt nhìn người đàn ông từ đầu đến chân. Gã còn trẻ lắm. Mặt tròn, mắt sáng, đôi môi lúc nào cũng dành sẵn một nụ cười. Màu da ngăm ngăm đen, láng như đồng tỏ rằng gã có nhiều sức mạnh. Gã mặt theo kiểu những người đi săn: đầu đội nón vành lớn, chân đi ủng da đen. Trông gã oai nghi hùng dũng lắm..." ( trang 18 – 19).

Đoạn tả cảnh về xử thế của tay tướng cướp trẻ tuổi, thông minh; Lý Văn Sâm cho độc giả phải suy nghĩ, tỏ thái độ sau khi đọc “như thế mới là tướng cướp:”

"...Phụng xem Kòn Trô không dữ tợn như người ta tưởng, nên lòng cũng bớt lo. Lại nghe chàng nói năng lịch thiệp thì nàng không tin rằng con người ấy là một kẻ đã là tướng cướp của, giết người.

Thấy Phụng ra chìu tư lự , Kòn Trô nói với nàng:

– Bà hãy yên lòng đừng nghĩ xa xuôi gì hết. Tùy bà muốn đi lúc nào cũng được, hay bà ở đây tôi xin sẵn sàng tiếp đãi bà như một quý khách. Bây giờ xin mời bà ra trại ngoài dùng bữa sáng với tôi rồi tôi sẽ đưa bà đi viếng những vùng quanh đây. Trong trại tôi có rất nhiều ngựa tốt.

Phụng nghe ruột đói như cào, liền mạnh dạn bước theo Kòn Trô ra trại ngoài " (trang 20).

Tả đoạn một chàng trai trẻ dẫn một nàng đang tuổi thanh xuân dạo quanh vùng rừng, và chàng kể cho nàng nghe cảnh hùng vĩ bản doanh. Nàng lắng tai nghe say đắm. Lý Văn Sâm tỏ ra rất thành thạo tả một tay tướng cướp lý tưởng trong giao đoạn tranh tối tranh sáng ấy :

“… Hai người xuống ngựa, trèo lên đồi. Lên tới đỉnh Phụng mệt ngất tựa mình vào một thân cây. Kòn Trô lấy nón quạt mát cho Phụng.

Ve sầu ra rả trên các ngọn cây cao. Tiếng chim chóc vui ca trong nắng hạ, Phụng chóa mắt dòm khắp bốn phía. Hơn sau chục cái nhà sàn giống nhau vây tròn lấy trái núi.

Kòn Trô nói với Phụng:

– Bọn thủ hạ của tôi hơn một trăm người đều sống chung với nhau trong những căn trại ấy. Họ toàn là giống mọi Châu Mạ (Tcau Mạ) gan dạ và đanh thép.

Tôi dùng họ rất được việc mà bọ rất trung thành với tôi. Tôi bảo chết, họ chết. Tôi bảo sống, họ sống. Họ thương tôi và kính thương như cha.

Bà nghĩ lòng khắng khít hơn lòng thương của những kẻ vô gia cư, không cha, không mẹ, thân thích và cuộc đời gần giống in như nhau. Không cần phải cắt máu ăn thề mà họ ăn ở với nhau niềm chung thủy. Ấy cũng bởi sự chung đụng trường niên nó gây cho cái giây đoàn thể bền bỉ, không ai có thể cắt được. Ở đây, không có sự phản bội, không có sự man trá, không có sự ghen tị nó làm cho người ta phải cực lòng lo nghĩ vì nhau. Tâm hồn họ đã hòa hợp cùng cây cỏ hoang dại… ( trang 21).

Chúng ta cảm thông một sự kiện của thái độ bọn cướp. Không phải là bọn cướp vô lương tri, mà là bọn cướp tổ chức có hệ thống, nội quy, hành động thống nhất. Giữa giai đoạn nước bị thống trị, đã có kẻ bất mãn ra đi, bỏ làng mạc, bỏ phố phường, bỏ quê hương, để mưu tính cuộc đảo chính chống cường quyền thực dân. Nhưng đâu phải chăng thành công cả, được làm vua, thua làm giặc, hùng cứ một phương thì đã là kẻ bất đắc chí trong một hạn định nào đó của cao độ:

“… Bà coi. Bọn chúng tôi trồng khoai, cấy lúa, gieo bắp, gây riêng một thế giới phóng khoáng, xa hẳn gió bụi chốn kinh kỳ. Chỉ vì một năm gạo thừa lúa kém, chúng tôi phải ép lòng đón giật của và cướp kho lương của ông đồn tại đây. Từ đó, tôi chỉ bạo động trong một năm ấy thôi, rồi thì, cái ác tùng thiện, trở về chốn cũ, cầm lại cái cầy, quơ lại cái cuốc, sống một cuộc đời lương thiện như những kẻ nông dân. Thỉnh thoảng, chúng tôi lại bị bao vây, nhưng vì không thuộc đường lối nên trăm người vào đây, khó mà trở về cho đủ. Cuộc đời tôi, từ đó càng ngày càng nặng tội, càng lem luốc, càng ngày càng xa nhân loại. Người đời cho bọn tôi là một lũ quỉ sống, uống máu người không tanh…(trang 22–23).

Qua ít ngày đôi trẻ thân mật, giai đoạn chớm yêu nẩy nở, thì phút ra đi lại là phút khiến lòng người buồn thảm. Lý Văn Sâm tả cuộc biệt ly ấy rất đẹp:

“… Có cuộc tống biệt nào mà không làm bằng nước mắt và có cảnh chia rẽ nào lại không có ly bôi. Cô uống chén rượu này gọi là chén rượu kỷ niệm buồn chia tay này vậy… (trang 25).

Và chính giây phút tình yêu của Kòn Trô đã tiết lộ sự chết đến sau một cách vô tình bởi lời hứa hẹn. Giây phút Kòn Trô buồn, giây phút Phụng sầu man mác; thì vẫn là pha cuối cùng của xen từ biệt:

“… Phụng làm thinh. Lòng nàng hiu hiu một cảm hoài nhè nhẹ. Nàng thấy mình chỉ thương hại Kòn Trô thôi. Tuy nhiên nàng cũng an ủi chàng:

– Mùa hè năm sau, em sẽ tìm về đây thăm anh. Một năm có là bao…

... Kòn Trô cảm giác như mình ngồi trên ngựa không vững nữa. Trời sáng mau quá. Kòn Trô không giữ được cảm động, ngùi ngùi ngâm lên, như một người say rượu..."

Và còn đó một cử chỉ âu yếm nhất của đôi trẻ yêu nhau. Tình yêu ấy đẹp như bài thơ hay. Lý Văn Sâm u hoài tặng thêm người đọc một cảm giác nữa, vẫn muôn vàn sầu nhớ:

“… Phụng vẫn cúi mặt, im lặng. Những loạt lá trổ đổ xuống ào ào phá tan sự im lặng giữa hai người.

Bỗng Phụng ngẩng mặt lên chăm chú nhìn Kòn Trô. Thiếu niên (23) cảm giác như trái tim mình ngưng đập. Rút một chiếc khăn tay ở túi ra, rồi hái một đóa trang rừng gói vào trong, Phụng mỉm cười nhét vào tay Kòn Trô để làm trọn một cử chỉ xã giao.

– Đây. Em chỉ có cái này làm kỷ niệm. Anh hãy giữ lấy nó đừng làm mất, em bắt thường đó.

Kòn Trô đưa hoa lên mũi. Nước hoa tẩm trong chiếc khăn tay thoảng một mùi hương nhè nhẹ, thơm như mái tóc của một giai nhân. Lúc ấy đúng vào mùa hoa chai nở. Những cánh hoa li ti điểm trắng rừng xanh, lờ mờ như có một lớp tuyết phủ. Mặt trời đỏ chói, trồi lên sau ngọn Bạch hổ sơn, rực rỡ như một vừng hào quang tỏa quanh đầu đức Phật.

Phụng ngước mặt nhìn trái núi. Ngọn Bạch hổ sơn hình như cũng đang nhìn nàng. Phụng nói:

“Suốt đường về, mắt em sẽ không rời ngọn núi tri kỷ này…”

Đoạn kết đưa người đọc đến với thái độ rút kinh nghiệm; mà từ cổ đến kim vẫn chẳng khác nhau là bao! Là tướng cướp còn có khi mềm lòng, vô tình thổ lộ yêu đương, quên cả mục đích, để rồi sa vào lưới kẻ thù. Lý Văn Sâm còn cho người đọc thưởng thức một cảm giác đẹp nữa, trước khi dẫn đến sầu thảm.

Đoạn tả tình cảm dĩ vãng sống động khi Thể Phụng qua thác Mu Mi với chồng:

“… Rồi chợt nhớ ra điều gì, nàng giật mình chớp lia đôi mắt ướt. Lờ mờ trong dĩ vãng xa xăm, nàng mang máng sống lại cảnh một đêm sương của mùa hạ cũ. Hình ảnh một chàng trai trẻ đã đưa nàng qua những tấm rừng dày về thác Mu Mi, bỗng hiện về trong trí nhớ. Niềm cảm xúc reo động trong quả tim non, sâu sa và thấm thía vô cùng. Có ai ngược về lối cũ của thời gian mà không thấy lòng mình bối rối rung động, khi dòng tư tưởng ngưng lại ở một quá vãng quá khứ đầy kỷ niệm…”.

Kỷ niệm là vật vô hình, linh thiêng vô biên hóa. Dù xã hội đổi thay, hoàn vũ thay đổi: nếu con người còn mang kỷ niệm thì kỷ niệm còn sống sâu đượm mãi trong thâm tâm theo năm tháng, kỷ niệm còn tồn lại theo tháng năm dài. Đoạn kỷ niệm của Kòn Trô khi chết còn úp tấm khăn của người đàn bà tặng (Thể Phụng) lên mặt trước khi chết, Lý-Văn-Sâm đã không bỏ quên:

“... Kòn Trô quả thật không thẹn với tên. Thật là một người anh hùng dũng mãnh. Tuy khắp người bị thương, nó cũng còn sức ngồi trở mặt ra phía đuôi ngựa, thúc chân một cái, con tuấn mã nhảy khỏi vòng vây. Con ngựa phi nước lớn. Nó ngồi trên mình con thú tinh khôn nhắm bắn ngã luôn mấy người lính đồn rồi kiệt sức, rơi nhào xuống ngựa. Người ta xúm lại quanh nó. Nó nằm ngửa trên mặt lá ủ, mắt mở trừng trừng. Lúc người ta sắp khiêng nó đi thì nó xin nán lại vài phút. Đến khi nghe tiếng kèn xe hơi của ai vọng lên ở xa xa, nó mỉm cười mấp máy đôi môi. Nó đưa một chiếc khăn tay đàn bà cho ông đồn và ra biểu hiệu đắp dùm mặt nó. Đem “Kòn Trô” về đến đồn thì nó chết...”(trang 33).

Kết quả của cái chết là do ở truy nguyên lụy tình ái. Nhớ một Hồ Tôn Hiến và Kiều; một Từ Hải của Lý Văn Sâm là nhớ một Thể Phụng, con một quan Châu:

“… Vì quá nặng lòng trìu mến nàng, nó còn hẹn với nàng rằng nó sẽ theo và tiễn chân nàng một lần chót trên đoạn đường về. Cũng bởi mạng nó đã cùng nên mới khiến cô nữ sinh kia đem khoe chuyện ấy với hai bạn học cùng lớp. Hai người kia lên báo tin cho ông đồn Châu Mạ hay…” (trang 37).

Nữ sinh bảo với bạn và người bạn đó là vợ của người đang kể chuyện bây giờ. Chồng nàng không biết nữ sinh đó chính là Thể Phụng. Và chính cách diễn tả tâm lý của Lý Văn Sâm vững, bố cục chặt chẽ đem lại cho người đọc một xen hồi hộp. Đoạn kết về cô nữ sinh kia nghĩ thế nào về chuyện ngày xưa ấy:

“… Thiếu phụ ngước mắt lên. Núi Bạch Hổ đứng cũng trong một cõi mịt mù của khói ngàn xanh xám. Một miếng mấy trắng quấn qua đầu đỉnh non xa như một bức khăn tang. Hình ảnh trái núi kia, trải bao nhiêu năm cách biệt, vẫn còn nguyên vẹn như tấm lòng không thay đổi của một người tri kỷ.

Thiếu phụ chùi mắt nói với chồng:

Nắng hạ gay gắt quá làm em chói mắt, khó chịu. Mình coi đây. Nước mắt em cứ ràn rụa mãi thế này …”(trang 34).

Nghệ thuật viết của Lý Văn Sâm ở chỗ tả cảnh thiếu phụ khóc mối tình xa xưa bằng giọng văn vô vàn thiết tha và tinh tế. Người chồng làm thế nào mà hiểu được vì nắng hạ mà vợ đã khóc một đời chồng lý tưởng của tuổi thanh xuân. Hầu hết tập truyện KÒN TRÔ là chuyện đường rừng, điển hình nhất là KÒN TRÔ. Bây giờ phân tiùch tập truyện ngắn nhiều mầu sắc xã hội, rất sâu tâm lý. Đó là tập NGOÀI MƯA LẠNH.

Ngoài Mưa Lạnh (1950) gồm những truyện: Ngoài mưa lạnh, Vực thẳm, Tàn một mùa ve, Ngàn sau sông Địch, Nửa mảnh ngân tiền, Đờn Chìn Kha La, Một cốt truyện mới, Thèm một ngọn đèn, Oan Gia, Mưa Sài Gòn, Ngày ra đì. Truyện hay nhất tập cuốn là truyện tiêu đề cuốn sách (Ngoài Mưa Lạnh), đến Ngàn sau sông Dịch và Thèm một ngọn đèn.

Ngoài Mưa Lạnh, tác giả tả một đôi vợ chồng làm văn nghệ. Chồng ngâm thơ, đọc báo cho vợ nghe tin một người chết ở Đường Hai Mươi(24). Lâm, nhà văn bảo vợ: Thố tử hồ bi thì vợ cho là những chuyện không đâu, việc gì hoài nước mắt khóc người dửng dưng.

Hai vợ chồng đem đề mục đó thảo luận mãi. Khi đêm khuya có tiếng người đi qua. Lâm và vợ lắng tai nghe. Người gọi cửa là một kẻ bị đạn lạc gõ cửa nhà hàng xóm. Và người bị đạn ấy cũng chẳng gõ cửa nhà Lâm. Nhưng chính sự kiện ấy, đưa đến ý nghĩ buồn trong thâm tâm Lâm. Lâm thức suốt đêm trước trang giấy trắng. Cốt truyện rất giản dị. Nhưng ông đưa ra được nhiều ý mới. Là kẻ ăn cắp, nếu đối với những kẻ học mọt sách luật thì sẽ khép án bị tù theo điều khoản nào? (luật cứng dắn–constitution rigide). Nhưng đối với thẩm phán có tâm hồn là thẩm phán có tư tưởng tiến bộ, cách mệnh linh động hóa vấn đề, xét việc không bị đóng trong khung nhất định, tránh được chỉ biết mình, không quan liêu tính – (bureaucratie) thì lại khép án khác (có thể là luật mềm dẻo–constitution souple). Chúng ta cùng đọc: “… Nếu kẻ khốn nạn ấy là một kẻ trộm thì cũng không có gì đáng ghét. Giữa lúc ta no cơm ấm áo ngồi đây, ta rất lấy làm yên ổn. Ngày mai ta thức dậy, ta đã có gạo rồi. Nếu ta không có gạo ta sẽ vay hàng xóm hoặc ta sẽ bán đi một cái áo, một cái quần để qua cơn túng ngặt. Còn kẻ bạc mạng kia biết đâu đã nhịn đói trong bao nhiêu ngày giữa một cơn kịch bệnh không người săn sóc thuốc thang. Đêm ấy giữa lúc đồng bào gã yên việc sau khi đã no cơm, no cháo, no sắc đẹp, và kim tiền thì gã vì sự đòi hỏi thúc bách của dạ dầy đến nỗi phải trả nợ đời trong tiếng súng…(trang 11).

Ở Lý Văn Sâm, nói riêng bao giờ cũng kết tội cá nhân cho xã hội trách nhiệm. Điều ấy là thái độ tiến bộ của nhà văn. Đành rằng không thể ngồi không mà đi ăn cắp rồi đổ tội cho xã hội – đi làm mà không có việc – đi làm mà không đủ ăn – bị bóc lột thặng dư – trong lúc thúc bách đòi hỏi – nói chung – mà mình không được hoặc bị được giải quyết theo hoàn cảnh cấp thời. Cho nên nếu cứ áp dụng luật A là thế này, B là thế kia; không tùy hoàn cảnh biến hóa thì sự kiện, hậu quả lịch sử tiến bộ sẽ lạc hậu dần đi. Thí dụ, một cái cửa bao giờ cũng phải là hình chữ nhật ngắn 1 thước 5, dài 2 thước thì chẳng bao giờ có khuôn cửa hình cánh cung (arche), hoặc hình tròn hình vuông cả. Một cái nhà bao giờ cũng phải theo khuôn khổ nhất định có mái dốc mới là nhà thì làm gì có mái bằng. Tất cả sự chống lại hoặc thắng lại sự kiện cũ là cải tiến. Với kiến trúc sư dựng nhà không mái là có óc tiến bộ. Và bây giờ trở về với vai trò thẩm phán xử án cũng phải tùy thời cải biến luật là có tư tưởng tiến bộ. Và như vậy sống để còn có nghĩa phục vụ cái đẹp (Nhân sinh phục vụ nghệ thuật–Vie pour Art).

Ngoài Mưa Lạnh, truyện ngắn nhiều mầu sắc tiến bộ linh động hóa vấn đề cần phải thay đổi.

Đến Ngàn sau sông Dịch, Lý Văn Sâm tả một gia đình nghèo túng tiếp bạn đồng hành thất cơ lỡ vận. Trọng và vợ con thường thường hay giở tập ảnh có chân dung một người bạn rồi hỏi “ Đây bác Cương của bây đây…”. Không những Trọng, vợ Trọng mà các con Trọng không thể quên chân dung người bạn ấy. Thế rồi một buổi Cương đến nhà Trọng ở. Ban đầu còn đằm thắm, tình bạn tha thiết, nhưng từ nửa tháng về sau, vì quá nghèo; nên Trọng phải cho vợ đưa tiễn người bạn bằng bài diễn văn mà Cương cho là hỗn láo. Buổi trưa hôm ấy, Trọng đi làm về nhưng không dám về nhà, đứng bên bờ lau chờ bóng bạn khuất nẻo sau bãi lau thưa.

Sự diễn tiến tâm lý, tình cảm theo đúng giác quan đi đôi với thực tế, nghĩa là cuộc sống eo hẹp nên xử sự với nhau thêm nhẹ bớt phần thân, rồi đi đến táng tận lương tâm. Lý Văn Sâm nhận xét tỉ mỷ, diễn đạt sâu sắc, ông rất thành công trong loại tân truyện tả chân mới (néo–réalisme). Nhập đề, ông tả sự mong chờ của người bạn (Trọng) đối với người bạn tri âm (Cương):

“…Trong những buổi mát trời sau bữa cơm chiều, Trọng thường giở cuốn sách dán nhiều hình chỉ cho các con thấy chân dung của một người đàn ông rồi bảo :

– Đây, bác Cương của bây đây.

Ba đứa trẻ không biết bác Cương là người thế nào đối với chúng, nhưng chúng cứ nghe ba chúng nhắc nhở tới hoài thì cũng đâm yêu người đàn ông có đôi mắt sáng trong cuốn sách dán nhiều hình của ba chúng…”(trang 43).

Đến những phút vợ Trọng phát cáu vì lẽ lúc nào chồng và con cũng nhắc đến bác Cương, cũng có phút vợ Trọng phải thừa nhận con người trong ảnh có một dung mạo hiên ngang. Chúng ta đọc:

“…Tay này không phải vừa, đôi mắt trông sáng quắc như ông tướng hát bội. Và chồng sung sướng về vợ mình thừa nhận có một người bạn khác thường. Trọng cao hứng liên tưởng đến quá vãng :

“…Mình nói đúng. Cương quả là tay chọc trời khuấy nước, lại có tài đóng những vai anh hùng nghĩa khí trong những vở kịch.

Tôi còn nhớ trong một vai Kinh Kha. Tôi lãnh vai Thái Tử Đan. Sân khấu bầy một cảnh sông nước mênh mông. Ấy là bến Dịch Giang. Tôi đứng giữa một đám tân khách, ráng hết gân cổ ngâm:

“Nước sông Dịch cho dù không lạnh

Cũng rét lòng ta đến não nùng…” (Trúc Khanh)

Đám tân khách và tôi đều mặc toàn áo trắng. Trong vai Kinh Kha, anh Cương đã làm cho khán giả cảm động. Người tráng sĩ hắt chén rượu xuống sông Dịch sang Tần… (Trang 46–47).

Và người chồng bao giờ cũng mong mỏi người bạn ấy sẽ về ở với mình. Tâm lý rất đúng, vọng một người bạn ở xa thì có thể chia ngọt sẻ bùi, thề nguyện sống chết có nhau:

“… Mình ơi! Giá bây giờ anh Cương có về thăm tôi và ở luôn đây thì vui biết mấy. Chúng ta sẽ diễn lại cho mình xem cảnh Thái tử Đan tiễn Kinh Kha qua sông Dịch Thuỷ…” (trang 48).

Và cuối cùng, tiếng vọng của Trọng đã đưa đến ý muốn từng mong đợi trong tiềm thức. Có người gõ cửa:

“… Đêm ấy là một đêm cuối mùa mưa. Trọng đang cắn bút để tìm một tứ mới cho bài thơ sắp thành hình bỗng nghe có tiếng đập cửa cấp bách. Trọng vội vàng đứng lên, che bớt ánh đèn rồi cẩn thận hỏi:

– Ai đó?

Tiếng bên ngoài:

– Tôi đây, Trọng.

Nghe tiếng kêu đúng tên mình, Trọng toan mở cửa thì thấy vợ chàng khoát tay ra hiệu bảo đừng. Trọng đang lưỡng lự thì tiếng nói bên ngoài lại tiếp:

– Trọng ơi! Cương đây, mở cửa mau lên…(trang 50)”.

Kết quả của một sự mơ ước đã toại nguyện thì tình cảm con người đối xử với nhau không còn tốt đẹp nữa. Mặt trái của tình thương yêu ấy, khi đã chung đụng rồi thì:

“…Vợ Trọng bắt đầu thấy khó chịu. Chị đã nói cảnh khổ của mình cho hàng xóm nghe. Và sau cùng, nhân một đêm tâm sự, vợ Trọng thỏ thẻ bên tai chồng:

– Mình ơi. Em không phải là con đàn bà kém lịch sự. Nhưng anh nghĩ mà coi, nhà không đủ ăn, lại chật hẹp… (trang 51)”

Khi người đàn bà tức bực thì rất ít chịu đựng. Thường thường đàn bà nông nổi được phán xét qua ca dao có câu: Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu. Khi đã không nói được uất ức của mình cho chồng con nghe và chưa hả thì sang nhà hàng xóm giãi bày. Ông đã nhận xét rất tế nhị. Rồi đi đến kết quả cuối cùng của sự yêu mến bạn là Trọng đành lánh mặt:

"Không biết vợ chàng đã dàn xếp ra sao mà hồi gần trưa Trọng đứng rình ở bên sông, thấy bóng Cương lủi thủi xuống đò...".

Và tâm trạng đau khổ của Cương:

“… Anh Trọng. Cương muốn nán lại chờ Trọng nói ít lời từ biệt. Nhưng Cương liệu không thể nào ở lại được nên đành mang lỗi với Trọng vậy. Vợ Trọng hỗn quá…”.

Nhưng Cương chỉ sống vì Trọng thôi. Đàn bà kể gì (trang 52).

Cương còn dành lại phong thư cho con Trọng: những người cháu quý mến Cương. Cương ra đi vì lệnh ông không bằng công bà. Lá thư để lại vô cùng cảm động:

“… Cháu Nhân, Chú rất đau lòng khi phải từ giã cháu, Đây chú hiết tất cả gia tài của chú dành cho cháu ăn bánh.

Trưa nay, khi Nhân về thì chú đã đi xa rồi. Quả đất tròn thì rồi chú cháu mình rồi sẽ gặp nhau…

Cháu Nghĩa và cháu Tín,

Đây chú biếu hai cháu quyển vần quốc ngữ. Hai cháu rán qua vần ngược nhé. Sợ khi chú đi rồi, hai cháu sẽ bỏ học, nên chú phải mua cho hai cháu cuốn vần. Thôi chú đìa chú đìa (trang 53).

Lý Văn Sâm đưa người đọc cùng thưởng thức đoạn buồn như ngắm chiều xuống trên bến sông cô liêu. Chẳng qua tất cả cũng chỉ vì nghèo:

“… Chiều nào Trọng cũng dẫn bầy con ra đứng bờ sông để chờ mong một người. Nhưng khách bến đò toàn khách lạ. Trọng nhìn mây khói cất lên ở chân trời thở dài…”(trang 53).

Thèm một ngọn đèn, cũng là cảnh sống bi đát của người văn nghệ mà xưa kia Nguyễn Vỹ đã ta thán: Thi sĩ Việt Nam khổ như chó. Lời thơ không quá đáng, người văn nghệ xây đắp một phần lớn cho xã hội tiến bộ, cho cách mệnh, cho hòa bình, cho độc lập, tự do nhưng là người chịu đau khổ riêng nhiều nhất. Thậm chí sốt sắng bênh vực quyền lợi cho giai cấp khác; nhưng chính giai tầng mình bị bóc lột, rẻ rúng thì để mặc hoành hành…

Trong các nhà văn miền Nam, Vũ Anh Khanh thường tả lý tưởng vô vàn tốt đẹp của nhà văn nghệ, nghĩa là cái đẹp ở văn nghệ là lẽ dĩ nhiên rồi (thượng tầng kiến thiết). Còn Lý Văn Sâm thiên về cảnh khổ não, chật vật của văn nghệ (hạ tầng cơ sở).

Trong Đời tàn trong ngõ hẹp, Lý Văn Sâm nêu lên một thực trạng của kiếp tơ tằm như thế nào? Chết vì không có tiền mua thuốc khi ốm đau, tiền bài có, nhưng chủ báo chưa chịu thanh toán. Thì đến Thèm một ngọn đèn Lý Văn Sâm giãi bày hoàn cảnh đời sống văn nghệ qua nhiều khia cạnh sống thực người văn nghệ.

Huyền, từ giã khám đường vì lý tưởng độc lập chiến đấu khi được giải phóng lại lo nghĩ về hoàn cảnh trắng tay bản thân. Nghèo khổ để rồi phải gạt nước mắt cho vợ về quê sống, còn Huyền lang thang trên trên vỉa hè đô thị. Huyền hứa với vợ con trong một thời gian ngắn đi làm sẽ cố gắng thuê một gian nhà lá ở ngoại ô; sau đó đón vợ con lên. Mười bốn tháng trời sống nhà bạn, không đủ tiền để mua lấy một ngọn đèn (cả nghĩa bóng và nghĩa đen).

Chúng ta đọc đoạn kết của truyện. Đây là trong muôn vàn kiếp sống người văn nghệ; như Maxime Gorki, đại văn hào Nga, cho rằng họ đã hoàn thành một nửa cuộc cách mệnh thành công:

“… Trong một bức thư gần đây, vợ chàng đã viết: “Mình ơi! Mình ráng kiếm một cái nhà riêng cho mẹ con xuống ở. Mỗi lần đi thăm mình, tốn kém tiền xe lắm mà có được ở lại đêm nào để nói tâm sự với mình đâu! Chợ búa bây giờ ế lắm. Em bán buôn một ngày một thua lỗ. Thằng Hùng đau yếu phải chạy thuốc từng ngày. Ngực em bây giờ đau lắm. Em sợ tránh không khỏi chứng ho như chị em độ trước.

Mình tệ quá! Làm gì mình không sắm nổi một ngọn đèn. Em đã mua cho mình một cây đèn nhỏ, thắp ít hao dầu, đỡ tốn cho mình. Chừng em xuống em sẽ đem xuống cho.

Huyền nghe lòng đau buốt. Vợ chàng không hiểu nghĩa bóng của câu “anh ao ước một ngọn đèn” trong thư chồng đã viết cho vợ.

Chồng thương thân, lẩm nhẩm một mình:

– Mười bốn tháng rồi, mình chưa sắm nổi một ngọn đèn…” (trang 91).

Sau dẫy Trường sơn truyện dài, một truyện dài độc nhất ở hôm qua và hôm nay của Lý Văn Sâm không chừng? Giai đoạn 1945–1950, Lý Văn Sâm viết truyện dài không xuất sắc bằng truyện ngắn, hãy cùng tóm lược cốt truyện để hiểu bố cục, đạo diễn tâm lý nhân vật của tác giả.

Hai vợ chồng có đứa con trai 16 tuổi là Quý. Sống trong giai đoạn trước đại chiến thứ hai ở lãnh thổ Việt, Nhật và Đồng Minh giao tranh; nên hai vợ chồng Phú có ý định rời sang Lào, miền Paksé (Sau dẫy Trường Sơn). Từ Sài Gòn đến Kratie, Cao Miên rồi đến Paksé. Quí có người bạn gái Ánh Mai (người Lào ở Việt) cùng tuổi rất tương đồng.

Phú có người bạn là Tùy ở Paksé nên lên đó nhờ và đồng thời cũng là có phương tiện tuyển mộ nhân công (Phú làm cho Nhật) , Quý luôn luôn viết thư cho Ánh Mai.

Sống ở Paksé ít lâu, Phú có một người khách trú đến ngủ nhờ rồi chết ở đó. Theo tiếng đồn đại, Tùy biết là Phú được người xấu số trao cho một bản đồ giấu vàng. Tùy rủ Phú đến một nơi nguy hiểm và đẩy Phú xuống hố sâu. Mẹ Quý buồn vì con qua đời và cũng qua đời. Một hôm, Quý nhận được thư, Quý phải về Paksé vì Nhật sắp tiêu diệt bọn cùng cánh với họ để tránh tiết lộ bí mật. Trong thư dặn đến nơi trú ẩn thì sẽ bắt gặp người thân. Quý gặp Phú bất ngờ. Sau bố Phú kể cho nghe tại sao Phú không chết và Tùy đã nhầm tưởng bản đồ kia là kho vàng nên trốn biệt tích. Kho ấy chỉ là kho súng của một người mua khí giới chôn dấu, trước khi ông chết cho Phú ý muốn cảnh tỉnh Phú vào con đường tranh đấu chống đế quốc. Sau Tùy chết. Quý nhận được thư của Mai báo tin. Và cả tin cha mẹ Quý qua đời, hiện nay nàng đang ở trong một cơ quan cứu thương, mong một ngày kia người yêu sẽ là chiến sĩ, để chính nàng được săn sóc. Cốt truyện bố cục không lỏng lẻo và có mục đích chống đế quốc; nhưng tình tiết sắp đặt không ăn khớp với nhau. Tỷ dụ những lá thư của Quý (16 tuổi) ở Paksé gửi cho Mai viết như một chính trị gia lỗi lạc, tài ba, hay một sử gia thuộc lịch sử thế giới viết. Chúng ta nghe:

“… Giống người Thái vào đất Thục, sanh sản nhiều thêm rồi xuôi giòng sông Mé–nam tràn xuống cõi bình nguyên lập nên nước Syam, đóng đô ở Ayuthia, sau rời Bangkok.

Một số người Thái khác lại theo những giòng sống Mã, sông Gấm, sông Thao, sông Bờ đem nhau vào sau lưng dẫy Trường sơn lập quốc và đặt hiệu là La Xang tức là Vạn Tượng (Vientaine) ngày nay.

Tới thế kỷ XVII trong nước bị nội loạn kế nước Xiêm bị tiêu diệt.

Kinh đô Lan Xang bị người Xiêm tàn phá. Hoàng thành tàn đổ. Gần mười ngày nóc nhà bị đốt cháy. Dân chúng lầm than. Nhưng kẻ ái quốc bị gông cùm đày ải. Đàn bà thì bị làm món đồ chơi cho kẻ thắng trận…”(trang 44).

Cho đến hết trang 45 (bàn về chính trị quốc tế Đồng minh) khối Đại đông Á qua đến trang 46; vẫn một giọng của người lão luyện về chính trị và thuộc sử, khảo cổ và lịch sử thế giới. Ở tuổi của Quí không thể thế được, và xét rộng ra; nếu là trường hợp Quí vượt khỏi cuộc đời thường, liệt vào ngoại hạng, sao tác giả không giới thiệu từ đầu. Đó là khuyết điểm. Khuyết điểm kế tiếp là Quí (một đứa trẻ bình thường) viết thư cho người yêu không bao giờ làm như vậy, ít bộc lộ sử tính, chính trị tính; mà chỉ nói tâm tình thì mới đúng. Hầu hết những lá thư có tính cách khoe kiến trúc trong lá thư tình của cậu bé 16 tuổi ở những trang 37, 38, 39, 40, 41, 42…

Khuyết điểm nữa còn là một cố tật khó tránh trong truyện dài. Không phải riêng Lý Văn Sâm mắc lỗi; đến cả nhà văn sáng giá về truyện dài như Khái Hưng ở Đẹp cũng mắc tật cho Lan vô tư hiểu đời như một triết nhân sâu sắc (25). Cốt truyện này mang tính cách mở rộng kiến thức cho người đọc; nhưng không đúng chỗ cho sự phát ngôn qua nhân vật Quí. Ở Lý Văn Sâm truyện dài không phân tích tâm lý vững và truyền cảm như truyện ngắn, có lẽ rằng hơi truyện ngắn mới là sở trường của ông chăng?

Kết luận – Sở dĩ qua phân tích Lý Văn Sâm và Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà vào chi tiết hơn trong nhóm; vì họ là nhà văn điển hình.

Lý Văn Sâm, nhà văn của truyện ngắn xã hội và tâm tình vô cùng đặc sắc. Ông còn tiến bộ rất nhiều trong thể truyện ngắn tâm lý, là nhà văn có tài, phong phú tình cảm, văn chau chuốt, hào hoa phong nhã qua diễn tả ở Kòn Trô và xã hội tính bộc lộ trong Ngoài Mưa Lạnh và trang nhã, buồn nhè nhẹ trong Nắng bên kia làng.

Sở trường Lý Văn Sâm không là truyện dài. Truyện dài hay, đòi hỏi nhiều công phu và chính những người viết truyện dài hay là ở tiền chiến như Khái Hưng, Nhất Linh, Nguyễn Đức Quỳnh, Nguyễn Đình Lạp… còn mắc nhiều khuyết điểm không nhỏ (26).

Tiết 5

VŨ ANH KHANH

(1926 – 1956)

Tiểu Sử và Tác Phẩm.

Vũ Anh Khanh tên thật là Vũ Văn Khánh (26) sinh năm 1926 ở Phan Thiết. Vào Nam hoạt động văn nghệ với Lý Văn Sâm, Thẩm Thệ Hà và Dương Tử Giang.

Tác phẩm chính đã xuất bản: Bên Kia Sông (truyện ngắn), Đầm Ô Rô (truyện ngắn), Chiến sĩ Hành (thơ trường thiên), Sông Máu (truyện ngắn 1946), Ngũ Tử Tư (truyện ngắn 1950), Nửa Bồ Xương Khô (truyện dài tập I và II, 1950)v.v…Cuốn này bị cấm lưu hành.

Hoàn Cảnh Xã Hội Ảnh Hưởng Đến Tác Phẩm.

Tình trạng chính trị miền Nam, khác hẳn miền Bắc và Trung. Chính phủ trị tự trị Nguyễn văn Thinh chỉ là bù nhìn ở thành. Còn hoạt động kháng chiến rất tự do ở thành, ở thôn quê, rừng núi. Bảo vệ lấy tính mệnh để cùng chiến đấu chống xâm lược. Cho nên tất cả đề tài viết đều hướng về kháng chiến.

Những tác phẩm của Vũ Anh Khanh phần nhiều (có thể là hầu hết) là truyện ngắn; mà bất cứ truyện ngắn nào cũng bắt nguồn ở đề tài kháng chiến và lột mặt trái xấu xa đô hội bị ngoại bang chiếm đóng. Vũ Anh Khanh khác Quốc Ấn ở điểm: đề tài của Vũ Anh Khanh thoát, còn đề tài của Quốc Ấn đôi khi giả tạo và nghệ thuật non tay. Đọc truyện của Quốc Ấn truyền cảm ít, trái với Vũ Anh Khanh, dồi dào.

Truyện dài Nửa Bồ Xương Khô (2 tập) của Vũ Anh Khanh có nhiều tác dụng trong quần chúng, khiến chính quyền lúc ấy phải hạ lệnh cấm. Cũng như Nguyễn Bảo Hóa bị cấm quyển sử Nam Bộ Chiến Sử hay Thiếu Sơn bị cấm lưu hành tàng trữ cuốn Hai Cuộc cách mệnh 1789 và 1945 (Pháp và Việt Nam) Nhìn vào tác dụng Nửa Bồ Xương Khô, chúng ta nhận thấy nghệ thuật văn không có gì đáng kể so với truyện ngắn. Tác dụng chính trị ở truyện dài tất nhiên có ảnh hưởng lớn.

Vũ Anh Khanh còn là nhà thơ. Trường thiên thơ CHIẾN SĨ HÀNH hoặc một THA LA đăng trong tuyển tập thi ca THƠ MÙA GIẢI PHÓNG (1949) xác nhận thêm vai trò thơ rất quan trọng trong đời văn Vũ Anh Khanh. Còn là thi sĩ có bút pháp vững vàng, tứ thơ mới, nội dung mang nhiều hình tượng; có thể nói rằng hai nhà thơ đáng kể nhất của miền Nam lúc bấy giờ là Vũ Anh Khanh và Hoàng Tố Nguyên… Trong khi ấy, các thi sĩ khác như: Trúc Khanh, Bân Bân, Tố Phong, Thẩm Thệ Hà, Khổng Dương... có làm thơ; nhưng thích dùng từ sáo mòn, cổ; dùng rượu tiễn, gươm chuốt, trong cuộc tiễn đưa nào mà chả có ly bôi – Không hợp với hoàn cảnh hiện tại bom đạn chiến tranh là hình tượng mới.

Phân Tách Tác Phẩm Chính.

Trước hết, chúng tôi mở xẻ tập SÔNG MÁU (1950). Sông Máu gồm: Sông Máu, Trên Thái Bình Dương, Sài Gòn ơi, Tiếng Dịch Sông Ô, Cây đàn câm, Hai lá thư chưa gửi, Mai Phi, Cầu chìm. Trong tập này chuyện đặc sắc nhất Sông Máu, Cầu chìm và Trên Thái Bình Dương. Tập truyện ngắn này nói chung về nghệ thuật, giữa các truyện không chênh lệch là bao, tác giả viết đều tay.

Trong Sông Máu, nhân vật chính cô lái đò và khách qua giang. Huyền, cô lái xinh tươi có mẹ già. Gặp khách trẻ tuổi vào một buổi chiều trên bến đò Phố Phủ. Khách ưa ngâm thơ và khách còn là chiến sĩ. Gặp duyên trên bến đò, cô lái yêu thơ, còn chiến sĩ yêu cô lái. Thế rồi hai người yêu nhau. Chàng trai còn vương thêm bệnh yêu tổ quốc nên bắt buộc dẹp tình yêu nhỏ bé để lên đường. Có một đêm, mẹ của cô lái âu yếm nhìn con mình, nhìn khách thắm đượm duyên, cất tiếng hỏi:

“… Ở khoang trước, mẹ Huyền trở mình bà còn thấy ánh đèn leo lét sáng bà bảo:

– Hai con chưa đi ngủ ư? Khuya rồi đấy nhỉ?

Huyền dạ một tiếng rồi tắt đèn. Trong bóng tối lờ mờ, hai mái đầu xanh son trẻ dựa vào nhau im lặng.

– Anh ngâm thơ Huyền nghe nhé.

Huyền gật đầu, ông khách giọng trầm ngâm:

Phong tiêu tiêu hề, dịch thủy hàn

Tráng sĩ nhất hề, bất phục hoàn.

– Buồn lắm anh ơi! Anh ngâm làm gì những vần thơ ấy cho lòng em đau đớn”.

Tả cảnh trao duyên rất đẹp, nhưng có một điều các nhà văn miền Nam trong thời kỳ đó mắc phải bệnh hay dùng điển cố và khuyết điểm này khiến độc giả mất phần hứng thú, với chuyện nửa cổ, nửa kim.

Tả đoạn chia ly. Một buổi mai còn sương sớm, khách lên đường, cô lái đò ở lại bến sông. Ông viết với giọng say sưa, quyến rũ:

“… Sáng hôm sau, trời còn lờ mờ sương, Huyền đã vội nhổ sào, chống đò sang ngang tiễn đưa ông khách về phố Phủ. Đến bến, Huyền bịn rịn cầm tay khách, mắt mờ lệ trắng nhìn trời, lâm râm khấn:

– Lạy Giời cho chóng bình yên mà trở về với thiếp.

Ông khách vội quay đi, quả quyết giựt tay lại rồi bước nhanh lên như trốn chạy.

Huyền nghẹn ngào đứng im nhìn theo. Mẹ Huyền lẩy bẩy đi lại gần Huyền để tay lên vai Huyền, hỏi nhỏ:

– Nó đi bao giờ thì nó về?

Huyền chùi nước mắt nhìn mẹ.

– Không về nữa mẹ ơi!

Nói xong thì Huyền khóc, những giọt nước mắt làm xao xuyến luôn tấm lòng già. Mẹ Huyền chợt hiểu càng sụt sùi…”

Khách bị xử tử, Vũ Anh Khanh đưa tới kết luận sầu thảm để kích thích lòng yêu nước của đồng bào đang chống lại ách thống trị. Vũ Anh Khanh nhấn mạnh "Vì hôm nay có cả cụ lớn Tuần Vũ và qua Công sứ đại thần về chủ tọa". Vũ Anh Khanh không đưa chủ quan của ông vào, nhưng chính sự khách quan trong chủ quan định hướng cũng đủ kích thích độc giả yêu nước. Vũ Anh Khanh như chịu ảnh hưởng Nguyễn Tuân, một Nguyễn Tuân tiền chiến trong tập truyện Vang bóng một thời (27) có hề nguyền rủa bọn thống trị đâu? Vẫn khách quan nhận định, nhưng lối viết tế nhị châm biếm, mai mỉa ấy thì người đọc hiểu tác giả khích động bằng giọng văn căm hờn đưa đến lật đổ chế độ.

Người khách yêu nước bị xử tử. Cô lái đò buồn man mác. Huyền vẫn đưa khách sang sông. Rồi một đêm Huyền mơ thấy khách về gọi Huyền để sang đò. Thì bên kia phố Phủ, gần bãi pháp trường có bóng một người xách đầu mình tới bến. Huyền giợn người… Đoạn văn này Vũ Anh Khanh đã truyền cảm độc giả:

“… Một đêm mưa lớn, Huyền ra cột lại sợi giây neo cho chắc thuyền. Bỗng Huyền giật mình, giữa một đêm mưa khuya bão mà có người gọi đò:

– Huyền ơi, cho anh sang đò.

Bên kia bờ phố Phủ, ngày ở bãi pháp trường thấy lờ mờ một bóng người mặc áo chàm xanh, một tay xách đầu mình, một tay ngoắc nàng.

Huyền giợn cả người, đứng bơ vơ nhìn giòng sông cuộn sóng, tự nhiên Huyền đưa tay lên giụi mắt. Lạ quá! Nước sông khi không đổi sắc đỏ hồng như máu một sắc máu quen thuộc của một người…”

Đoạn kết, cô lái đò bỏ khoang thuyền, bỏ khách sang sông, đi mất. Không biết cô lái đi đâu? Đi trả thù cho người yêu đã bị bọn thống trị xử tử hay bỏ trốn để quên cảnh xưa? Kết luận ở thể hoài nghi, một Vũ Anh Khanh có lập ý cao viết truyện như Anatole France, Hoffmann, Edgar Poë, Khái Hưng…:

“… Thời gian qua…

Ba năm rồi, ly loạn, con thuyền đưa khách vẫn neo chỗ cũ nhưng không ai biết Huyền bỏ đi đâu?

Huyền hẳn không về phố Phủ mà chắc là đi qua phía cánh đồng dâu tằm, tìm đường về bến Ké lần vào dẫy núi Tà–Khoun chằng chịt rễ cây già.

Con sông tỉnh Quảng giờ hết trong mà lúc nào dòng nước cũng đỏ ngàu ngàu. Người Phố Phủ đó ngẩn ngơ không hiểu vì sao?...”

Đến truyện Trên Thái Bình Dương lối viết theo dự tượng, đoán ở hậu bán thế kỷ hai mươi (1960) sẽ có trận thế giới chiến tranh thứ Ba. Khói lửa bao trùm từ Âu sang Á; Tây Âu đến Đông Âu, Bắc đến Nam Cực. Phía bên Pháp có những dũng sĩ Việt, bên Việt có những dũng sĩ Pháp.

Truyện kể dưới đây xảy ra trên Thái Bình Dương. Cottier và Vương Dung được lệnh lái thủy phi đoàn ĐOÀN KẾT thám thính tàu nghịch. Cottier lái chiếc phi cơ đậu trên tiềm thủy đỉnh, sau khi đã giao tranh với địch.

Cottier và Vương Dung ôm nhau nhìn bờ cõi Việt Nam chờ tàu tiếp viện lương thực. Nhưng tới khi họ gần chết đói, Cottier nhớ đến Catherine, Vương Dung nghĩ đến người tình của anh. Đoạn tả mối tình giữa Dung và Tấn, Dung kể cho bạn nghe:

“… Khi còn đi học, tôi đã yêu thương một cô gái nhỏ hiền lành làm thư ký cho mẹ tôi để biên sổ sách và bán hàng. Nàng mồ côi cha mẹ, tôi con nhà giàu, nàng ngây thơ tin tưởng ở nơi tôi bởi những lời hò hẹn vu vơ không có gì đảm bảo.

Khi ra trường, sẵn có khiếu văn chương, tôi đeo đuổi nghề văn. Tiếng tăm tôi lừng lẫy trong nước một thời. Tôi lén lút đem nàng về ở tại tại một gian nhà ngoại ô. Nàng khuyến khích tôi viết, nàng chăm nom sức khỏe cho tôi để đến một ngày, tôi nghe cha mẹ mà phản nàng.

Người vợ mới của tôi đẹp hơn nàng, học giỏi hơn nàng về nhất là giàu hơn nàng nhưng lại thua nàng ở chỗ không phải yêu tôi mà lấy tôi.

Hôm tôi nói thật tất cả cho nàng hay và tặng nàng một số tiền lớn, nàng im lặng ngồi nghe và im lặng đem sách vở, quần áo tôi mà xếp vào va ly tiễn tôi đi lấy vợ.

Nàng có một vẻ lạnh lùng gần như không cần gì cả, nhưng tôi biết nàng đau khổ vô cùng. Chúng tôi xa nhau, một hôm tôi nhận được do nhà giây thép, số tiền của tôi tặng nàng và một lá thư vỏn vẹn mấy chữ: “Tình yêu của người con gái này không thể trả bằng tiền. Tôi xin gởi trả lại cho ông để ông tặng lại người khác”.

Thế rồi năm 1945 trận chiến tranh huynh đệ, giữa hai nước Việt– Pháp bùng nổ. Tôi bỏ văn theo võ, sống với anh em chiến sĩ trong những ngày liều lĩnh nhất của quê hương. Vợ tôi đi lấy chồng khác, còn nàng, tôi không biết nàng sống ở phương trời nào?

Cottier bỗng rú mừng:

– Dung ơi có tàu đằng xa kìa.

Hai người chăm chú nhìn Dung hốt hoảng:

– Tàu địch đúng rồi tàu địch! Chúng mình chết mất! Một loạt súng bắn tới, chiếc thủy phi đoàn trúng đạn chìm xuống từ từ. Dung và Cottier nhẩy xuống biển bập bềnh theo lượng sóng.

– Cottier liệu có lội được không?

– Yếu sức quá! Vĩnh biệt Catherine!

Chàng ngay chân mặc dòng nước cuốn đi, Dung trườn tới kéo bạn nhưng mắt chàng cũng hoa lên. Một viên đạn trúng ngay vào đùi. Dung hét to..."(trang 22,23).

Diễn tả sự trung thành một người đàn bà Việt Nam giàu lòng hy sinh. Chính điều đó nói lên đặc tính người đàn bà ta để thế giới nhận định về luân lý cổ truyền và nếp sống trầm mặc của người Á Đông sẵn căn bản đạo đức vững vàng, bao giờ cũng sẵn lòng tha thứ kẻ không biết giác ngộ hôm nay; sau chính nghĩa sẽ cải tà vi thiện ở mai hậu.

Còn Dung tưởng mình đã chết. Nhưng Dung đã gặp lại Tần, người vợ ngày xưa ấy nay trở thành y tá. Sau khi được mổ xong, Dung tưởng gặp Tần trong ảo mộng. Dung hỏi Tần để tang ai, người thiếu phụ trả lời để tang Dung bằng mắt. Bồi hồi cảm động:

“… Em có giận anh không?

Tần không trả lời, nàng nhìn ra ngoài cửa sổ. Trời cao và xanh, gió dịu hiền thổi rung rinh những cành hoa lựu đỏ tươi như màu máu thắm. Đôi chim sẻ miùa đang mớm mồi cho nhau trên cành bàng.

Im lặng.

Bỗng xa xa một điệu khúc tuyệt vời….”

Đến Cầu Chìm, trình bày cuộc đấu tranh giữa tình yêu cá nhân và tình yêu đất nước. Chế Cầu, người Chàm là họa sĩ. Khi nhà Trần đem quân vào đánh phá thành Đồ Bàn giết vua Chàm và bắt nàng Mỹ Ê về đất Việt thì Chế Cầu được lệnh nhận nhiệm vụ hạ sát vua nhà Trần.

Ra đến Thăng Long sống bằng nghề vẽ. Họ yêu nhau. Chế Cầu quên tình đất nước mà say đắm nguyệt hoa. Bỗng một phút tỉnh ngộ, nhờ lời thề. Chế Cầu sách gươm vào để giết vua Trần, nhưng khi vừa giết được võ quan hầu vua thì sa lưới: Và đây là đoạn kết:

“… Những ngày cuối cùng trong ngục, Chế Cầu được phép tự trích máu của mình pha màu để vẽ một bức tranh. Chàng dùng hết tài lực, đem hết tâm trí tạo một tác phẩm cuối cùng của mình để gửi lại người yêu tạ tội chàng đã giết cha nàng…”

Ông muốn cảnh tỉnh thanh niên Việt giữa thời loạn khi tổ quốc lâm nguy, giặc cướp nước mình thì chớ bao giờ quên bổn phận. Đó cũng là hình thức kích thích lòng yêu nước để thanh niên khỏi sa vào đường bội phản. Bội phản tổ quốc bao giờ cũng đắc tội hơn hết.

Đầm Ô Rô (1949) tập truyện ngắn gồm những chuyện: Miếng đỉnh chung, Hối tắc, Đầm Ô Rô, Ma Thiên Lãnh, Khổ nhục kế, Tóc Thề...

Trong tập truyện ngắn này, ông chia ra làm hai đề tài: kháng chiến và trong thành. Sự hy sinh ở ngoài chiến địa, sự sa đọa trong thành; tuy hai là một đều lên án một đối tượng và đề cao một đối tượng chính nghĩa.

Miếng đỉnh chung cũng thuộc vào loại đề tài ấy. Gồm ba nhân vật: Thơ, Hoàng và Phổ. Thơ là vợ Hoàng. Phổ là người tình cũ của Thơ đi kháng chiến. Hoàng sống với Thơ ở thành, nhưng Thơ rất khinh miếng đỉnh chung. Nhưng một buổi Hoàng đưa cho vợ xem lá thư của Phổ. Phổ nhờ Hoàng chăm nom Thơ vì chàng sắp chết. Từ đó Thơ cảm động, ngờ oan chồng. Thì ra Hoàng tốt cũng như Phổ.

Truyện trên viết thoát, tuy nhiên một vài chỗ sắp đặt chưa vững (đoạn Thơ nghi chồng chạy theo miếng đỉnh chung hơi lộn xộn). Và chính tiêu đề chuyện cũng không đặt đúng trọng tâm. Cốt truyện không là thế, chắc chắn rằng khi ông viết câu chuyện này mục đích đả kích nhân vật Hoàng. Nhưng cuối cùng ông cho Hoàng thành người yêu nước. Chính thế, câu truyện lủng củng, sắp đặt luộm thuộm.

Hớt tóc, truyện xảy ra trong phòng đánh tài sỉu trong thành. Huyền bị thua bạc rồi ra sa ngã, bán rẻ nhan sắc để có tiền đánh bạc. Tả đoạn Huyền thua bạc, say sưa nhìn người khác đánh thèm thuồng. Quả Vũ Anh Khanh đã vững tay nắm được tâm lý nhân vật. (đoạn nói về những cặp đùi đàn ông láu cá):

“… Trời bức lắm. Mặc đầu trên trần nhà có quạt máy, Huyền vẫn thấy nóng lạ thường. Hơi nóng của những người đàn ông đứng sát vào người Huyền làm nàng khó chịu. Nàng khẽ sửa lại cách đứng cho bớt mỏi chân và sực nhớ một cảm giác lạ tự nhiên làm cho nàng đỏ mặt, nàng áp mình vào bàn để tránh những cặp đùi láu cá vẩn vơ cọ mãi vào đùi nàng.

… Hết tiền nên Huyền không đánh nữa, tuy vậy nàng vẫn đứng yên một chỗ để xem người khác đánh cho đỡ nghiện…”(trang 17).

Thế rồi, một ông khách đứng bên Huyền được bạc. Sau đó ông khách ra về, khiến Huyền nhìn theo. Huyền chạy ra, khi khách hỏi đến. Và hai người cùng đi trên đường khuya. Khách mời Huyền đi ăn cháo, tuy đói nhưng Huyền không dám nhận. Rồi ý nghĩ không đẹp, Huyền giằng tay khách để chạy. Nhưng khách đáp lại rất tâm lý: sẽ hoàn lại số tiền nàng thua. Huyền im lặng. Vũ Anh Khanh nắm vững về tâm lý cũng như về nhân vật của ông lần đầu tiên định bước vào sa ngã:

“… Đường về khuya gần giờ giới nghiêm nên vắng bóng người qua lại. Một cảnh tượng lạnh lẽo, hiu quạnh cho hai kẻ lạ lùng cùng đi sát vào nhau.

Chúng mình đi như một cặp vợ chồng.

Nghe khách nói thế Huyền bỗng rùng mình lo sợ. Lần đầu tiên trong đời người con gái, nàng đã đi cặp với một người đàn ông xa lạ lúc đêm khuya, giữa một thành phố lắm điều giả trá này. Một ý nghĩ chua xót đến trong đầu, tự nhiên Huyền chùn chân chậm bước và muốn chạy trở lại. Khách kéo tay nàng kinh ngạc:

– Kìa Huyền tính đi đâu?

Giọng nói ấm áp, dịu dàng, có vẻ tử tế của khách làm cho nàng hơi yên lòng. Nàng trả lời trong hơi thở gấp:

– Em…em sợ…ông buông tay em ra.

Trong bóng tối, Huyền thấy ông khách nhếch mép cười thương hại. Nàng thấy tủi nhục nghẹn ngào:

– Em hiểu ông muốn gì rồi. Nhưng ông lầm vì em không phải làm nghề này? (trang 19).

Mạt sát sự sa đọa con người dân tỉnh thành bị trụy lạc cám dỗ, bị tiền chi phối lương tri; tiếp theo, thắt nút:

“… Hai người đi vào nhà ngủ Tàu. Ánh đèn xanh làm cho Huyền thấy ngượng. Lần đầu tiên, vì tiền nàng bước vào ngưỡng cửa này. Thế là hết. Nàng bẽn lẽn cúi đầu để tránh những cặp mắt tò mò của mấy người bồi phòng cứ chăm bẳm nhìn nàng. Khách nói một thôi tiếng Tàu với bồi, rồi họ mỉm cười ý nhị, đưa hai người vào một căn phòng rộng đẹp.

Huyền bằng lòng gian phòng này không?

Huyền đứng im, khách âu yếm:

– Em cởi áo cho mát.

Một cái gì chặn lên cổ. Huyền thấy nghẹn lời. Nàng nhìn quanh phòng, nhìn khách, nhìn bàn ghế, nhìn bốn vách tường vôi im lặng, nhìn chiếc giường lót nệm trắng (màu trắng của trinh bạch). Một ý nghĩ chua xót mỉa mai chốc nữa mảnh vải trắng sẽ hoen ố, cũng như đời con gái của nàng…sẽ bỗng dưng… Huyền tối sầm mặt lại rồi không cầm được lòng nữa, nàng gục đầu vò vách khóc nức nỡ…(trang 20).

Mối thắt nút ấy có hai tác dụng: một:) hấp dẫn người đọc; hai: làm nổi bật tâm trạng một nhân vật của tác giả người khác thường. Tác giả muốn diễn tả tâm trạng giắt người tình đến đích (rủ được thiếu nữ đến phòng ngủ) thì tất nhiên không thể nào vượt được mục đích (ý nghĩa giao hợp). Nhưng đối với nhân vật có ý thức của Vũ Anh Khanh là chiến sĩ kháng chiến nên đoạn cởi nút của ông lý tưởng, ở chỗ:

“… Giờ tội lỗi. Đèn phòng ngoài đã tắt. Khách với tay sửa lại cái chao đèn bằng lụa xanh cho khỏi chói mắt Huyền. Nàng nằm yên, mở mắt thao láo nhìn khách chờ đợi.

Khách im lặng, chàng đã châm hai điếu thuốc rồi, chàng lấy thêm một điếu nữa, thỉnh thoảng cúi đầu xuống thành giường, mãi mãi chàng mới chậm rãi nói sau tiếng thở dài:

– Anh xin lỗi Huyền tự nãy giờ anh đã đóng kịch với Huyền và đã cố ý dùng những câu không được nhã để cho Huyền phải tủi lòng.

Khách uống một ngụm nước, buồn rầu nói tiếp:

– Đêm đêm, anh đã gặp, từ những sòng bạc công khai đi ra những chàng trai điếm đàng và những con gái trẻ đẹp. Và đêm đêm, trong những gian phòng kín đáo giữa châu thành có những người con gái sượng sùng neo thuyền đậu lại một bến Tầm Dương cùng kẻ đàn ông xa lạ đánh bản đàn lỗi nhịp, xót xa đau. Những người con gái trẻ, dại khờ sau khi thua, bạc đã liều lĩnh nghĩ rằng: “Mình bậy bạ một đêm ai mà biết được! Ấy thế rồi một lần, rồi hai lần họ thành ra một bầy đĩ thập thành, để cho đời mình lăn mãi xuống dốc trụy lạc, không bao giờ trở lại được nữa! Trong số ấy có những bà phong lưu, đài các, những người trẻ tuổi cao sang, những cô gái quê mùa, nhưng chị bán hàng rong chợ búa…? (trang 21–22)”.

Kết thúc câu chuyện, anh chàng đó không ngủ với Huyền, vì lẽ chàng là một trong những kẻ mới về thành, lại sắp nhận công tác (kháng chiến). Trình bầy cảnh sa đọa của thành thị như vậy, Vũ Anh Khanh đã thành công: lột mặt nạ bỉ ổi bọn thực dân đọa lạc tinh thần người dân thành thị bằng tiền, tổ chức sòng bạc, khuyến khích mãi dâm. Có như thế thì người dân mới không bao giờ nghĩ đến chống đối chúng. Nhưng kết luận:

“… Nàng nghiêng mình âu yếm nhìn khách đang ngáy ròn đều trên bốn chiếc ghế lỏng chỏng ở một góc phòng…”(trang 24)

Đoạn này có nhược điểm; đành rằng người lính kháng chiến lý kia tưởng đã cứu vớt một người ra khỏi trụy lạc, nhưng tác dụng vẫn chỉ là cứu một người; còn bao nhiêu người khác vẫn sa vào vòng trụy lạc. Chữa nhà cháy chỉ cần mang một đồ vật ra khỏi nhà lửa, thì hẳn là tác dụng không đáng kể là bao! Và tác dụng một người giác ngộ hẳn không phải là không hay; nhưng ý định của Vũ Anh Khanh là trình bày một xã hội đi xuống; chẳng cần phải tạo ra một nhân vật kịch cỡm như vị khách đó, vì thiết tưởng rằng cách cấu kết nhân vật lý tưởng, hóa ra một nhân vật lý tưởng đứt giây trên trời rơi xuống. Giá mà khách không được bạc thì liệu tư tưởng cứu Huyền có hay không?

Đầm Ô Rô tiêu đề một truyện ngắn đặt cho cuốn truyện. Nhân vật chính: Hai chị em Quý và Nhân và hai thanh niên chống đế quốc. Trong khi họ đi tìm con gà mái bị lạc, Quý và Nhân bắt gặp hai chiến sĩ có một người bị thương. Một chiến sĩ nhận rằng họ đã chót bắt gà mái của gia đình Quý mổ làm thịt cho bạn ăn. Quý cảm động thương xót. Cả hai về nhà nói dối mẹ không tìm thấy gà, dấu diếm giúp đỡ chiến sĩ nồng hậu. Một chiến sĩ bị thương quá nặng chết, một chiến sĩ khác lưu lại trong giây lát để nhận sự tiễn đưa của một thiếu nữ ràng buộc với quê hương. Và tình yêu của họ bộc phát quá sớm; và phút lên đường chiến sĩ không thể nán dừng. Vũ Anh Khanh tả truyện này rất cảm động và thành công trong việc phân tích tâm lý nhân vật cũng như kết cấu:

“… Quê hương này còn ly loạn, biết bao giờ tôi, và cô, em Nhân lại gặp nhau? Bây giờ tôi phải lên đường lo cho trong sứ mạng. Ngày mai, ngày mốt, dù hay, hay là dở, dù có thế nào tôi vẫn nhớ buổi tiễn đưa não lòng này;

Quý cố cầm nước mắt gượng cười:

– Chúc đầu năm nay may mắn.

– Chúc cô và em Nhân đầu năm nay may mắn.

Ông khách cúi đầu nhìn nấm hở bùi ngùi

– Chưa chắc tôi trở lại đây lần thứ hai thăm cô và em Nhân, thăm mộ bạn tôi nhờ cô, em Nhân.

Chàng nghẹn lời, bóp chặt tay Quý một lần nữa rồi vội vã đi mau như muốn tránh một lần làm yếu chí người đi.

Bóng ông khách đã khuất mờ trong sương, Quý có cảm tưởng rằng người ấy một ra đi còn có bao giờ trở lại.

Nàng hắt hiu nhìn vào trong xóm vắng và thẫn thờ nghĩ đến ngày mai tang tóc lạnh lùng.

Rồi không thể cầm được lòng, Quý ngồi bịch xuống đất, gục đầu khóc…(trang 36)

Bên kia sông gồm những truyện ngắn: Ly bôi, Ngày xưa, Đèn Sài Gòn. Một đêm Trăng, Tráng khách, Cười mưa tan, Bát canh rau má, Người khách viễn phương, Chiều hôm qua, Thư của mẹ tôi...Những truyện ngắn này đều khai thác bối cảnh đề cao kháng chiến.

Đọc Ly bôi, nhân vật chính Năm Đen làm chúng ta nhớ lại truyện anh chàng Cai Xanh với hộp thuốc lào của Nguyễn Tuân trong Vang Bóng Một Thời. Vũ Anh Khanh chịu ảnh hưởng Nguyễn Tuân rất sâu sắc. Ngũ Tử Tư, gồm những truyện ngắn: Con trâu giấy, Theo khói nhang rằm, Nhạc Thần, Phổ Xiếu Hùng lìn xì, Qua sông, Thần vòng. Một truyện đặc sắc là Theo khói nhang rằm. Tác giả tả mâu thuẫn giữa anh vợ và em rể, để rồi vì lập trường chính trị em rể bị giết. Thuận là em rể, một chiến sĩ vào tù ra tù vì chiến đấu cho độc lập. Nhưng hai người anh là tay sai cho phe thống trị nên lừa đem giết người em rể. Và mỗi lần có nhang khói là bóng ma lẻng về thăm vợ. Tác giả tả rất tế nhị, không siêu thực như Liêu trai hoặc mê hoặc đồng bào qua bóng dáng ma mãnh. Tác giả phải dùng một hình thức: nửa thực, nửa mộng; diễn tả để che mắt bọn đại diện thống trị kiểm duyệt. Chúng tôi cho trích dẫn đoạn văn vô cùng đặc sắc mà Vũ Anh Khanh tả hồn ma nói chuyện với nhau, một hồn sắp được về thăm gia đình:

“… Tiếng gà gáy bắt đầu đua nhau gáy điểm canh. Hồn Thuận nói với bạn:

Gần sáng rồi, ta phải về. Anh chịu khó tạt qua nhà vợ tôi để xem mặt cháu.

Dọc đường trăng sáng, hai bóng ma thẫn thờ nhìn những đưa bé ăn mày nằm ngủ cạnh vỉa hè, dưới manh chiếu rách, hồn vẩn vơ buồn nhẹ.

Gió khuya hiu hắt lạnh hơi sương. Trên từng cao giữa vời, con chim đêm hấp háy bay đi tìm mồi. Hồn Thuận đi sát vào bạn thủ thỉ:

– Cháu dễ thương lắm anh ạ. Tôi mong nó sau này nó giống tôi. Trong lá tâm thư viết bằng máu tôi dặn vợ tôi sau này ráng dạy con làm sao để nó đừng ham tiền tài, danh vọng. Những thứ ấy chỉ hạ thấp nhân cách con người xuống thôi.

– Chị ấy hiện giờ làm gì?

Nghe bạn hỏi, Thuận bỗng dưng thấy xót xa:

– Vợ tôi lâm vào cảnh túng. Giá nói đi làm công nhật cho một hãng nào đây cũng được. Nhưng nhà tôi nó sợ, nó ngại.

Vả lại thiên hạ thấy thế làm sao chẳng đồn rằng vợ tôi là gái nạ dòng không này thì nọ. Hai anh vợ tôi thì ruồng rẫy đứa em gái chót làm vợ một người thù, hơn nữa họ ghét thằng con tôi. Đối với cử chỉ hai anh mình, lòng tự ái của bà mẹ biết thương con tôi như vợ tôi, nó không bao giờ nhờ vả, thăm viết dầu là anh ruột.

Trước cảnh gà cùng chuồng thù nhau, mẹ vợ tôi khóc mãi, người thương con gái cháu ngoại, nhưng lại nể hai con trai. Làm thế nào?

Hồn Thuận reo lên, đưa tay chỉ một gian nhà lá leo lét ánh đèn vui vẻ.

– Nhà vợ tôi đấy, mời anh vào chơi.

Dừng chân trên nhịp cầu tre chân khỉ bắc ngang lạch con đầy bèo tím, hồn Thuận thở dài nhìn lại cảnh xưa.

Bởi đây đìu hiu, nghèo nàn quá! Cách vài trăm thước, đám nhà lá bị đốt còn đang lên mùi lá khét như mùi đất ẩm gặp cơn mưa ngày. Những con ễnh ương kêu dưới ruộng nghe vừa buồn vừa lạnh.

Vào nhà, hồn Thuận rón rén lại hôn lên tay vợ, đưa tay xoa trán con. Thằng bé kháu khỉnh nằm nghiêng rút đầu vào vú mẹ.

Hồn ma thứ hai tằn mằn đứng nhìn tấm ảnh bán thân của mình để trên bàn thờ. Qua làng khói nhang ngun ngút, hồn ma mỉm cười với ảnh bạn.

Vợ Thuận trở mình, chiếc giường tre cót két rung. Giọng nàng ảo não vang giữa bầu trời khuya vắng. Thằng bé nín, nàng ẵm con lại bàn thờ chồng thay lại tuần nhang rồi nức nở khóc một mình” ( trang 49).

Đọc truyện trên của Vũ Anh Khanh, cảm động vì hồn một nhà văn về thăm nhà; trước cảnh đói kém thiếu thốn của vợ U Linh(28). Và Vũ Anh Khanh không bao giờ quên cứu cánh của tổ quốc là độc lập, nên chẳng bao giờ quên phương tiện chính: đề cao cách mệnh, chiến sĩ.

Sự rung động sâu sa như tác giả kể chuyện lại (truyện thực) căm thù thương xót cho hai đối tượng, tác dụng sâu rộng được Vũ Anh Khanh khai thác triệt để, đề cao chính nghĩa dân tộc kháng chiến 1945. Chiến Sĩ Hành, tập thơ trường thiên của Vũ Anh Khanh, đề cao người chiến yêu nước, tương tự đề tài viết trong tiểu thuyết. Kỹ thuật thơ Vũ Anh Khanh cao, nội dung truyền cảm, chính nghĩa sẵn có; cho nên Vũ Anh Khanh và Hoàng Tố Nguyên là nhà thơ điển hình bậc nhất ở miền Nam thời đó.

Tuy nhiên Chiến Sĩ Hành chưa hẳn làm Vũ Anh Khanh nổi bật, mà khả năng thơ Vũ Anh Khanh nổi bật lại là Tha La (Thơ Mùa Giải Phóng, 1949).

Đường ra biên ải kém xa so với Tha La (một thi bản đẹp gần như toàn diện).

Lời thơ bình dị trong một nội dung phong phú: rừng xanh, xóm đạo, già trẻ gái trai bừng bừng khuyến khích kẻ lên đường trả nợ núi sông.

Kết Luận.

Vũ Anh Khanh còn là nhà thơ có tài. Nhưng về văn thì Vũ Anh Khanh không trội bằng Lý Văn Sâm. Bình diện văn miền Nam trong giai đoạn ấy, Vũ Anh Khanh cũng là nhà văn có tài, sau Lý Văn Sâm. Vũ Anh Khanh gây được một âm hưởng rộng lớn, thức tỉnh lòng yêu nước người dân Việt sau trăm năm bị Tây thống trị. Về thơ, Vũ Anh Khanh có phần trội hơn (nói chung). Thơ mang một hình tượng mới, lồng trong kỹ thuật vững vàng, không sao chép, không dùng điển cố như các nhà thơ cùng thời.

THA LA

– Đây Tha La xóm đạo

Có trái ngọt cây lành

Tôi về thăm một dạo

Giữa mùa nắng vàng hanh

Ngậm ngùi Tha La bảo:

– Đây rừng xanh, rừng xanh

Bụi đùn quanh ngõ vắng

Khói đùn quanh nóc tranh

Gió đùn quanh mây trắng

Và lửa loạn xây thành.

Viễn khách ơi! Hãy ngừng chân cho hỏi

Nắng hạ vàng hoa gạo rưng rưng

Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng

Có trái ngọt, cây lành im bóng lá

Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ

Ngày êm đềm lòng viễn khách bơ vơ!

Về chi đây, khách hỡi, có ai chờ?

Ai đưa đón?

– Xin thưa,

Tôi lạc bước.

Không là duyên, không là bèo kiếp trước

Không có ai chờ, đưa đón tôi đâu!

Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu

Nghìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió

Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng

Nhìn hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng

Tha La hỏi: – Khách buồn nơi đây vắng!

– Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng

– Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn

Khách nhẹ cười nghe gió nổi từng cơn

Gió vun vút, gió rợn rùng, gió rít

Bỗng đâu đây vắng véo von tiếng địch

– Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!

Bao người đi thề chẳng trở lại nhà

Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn

Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán

Buồn trưa trưa, ngây ngất buồn xưa xưa

Lòng viễn khách bỗng tê tái lạnh

Khách rùng mình, ngẩn ngơ người hiu quạnh

– Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!

Đây mênh mông xóm đạo với rừng già

Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách

Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch

Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng

Đang đón mây xa, khách bỗng ngại ngần

– Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?

Cụ ngạo nghễ cười rung rinh râu trắng

Nhẹ bảo chàng: Em chẳng biết gì ư?

Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù

Người nước Việt ra đi vì nước Việt

Tha La vắng vì Tha La đã biết

Thương giống nòi, au đất lầm than

Trời xa xanh, mây trắng nghẹn ngàn hàng

Ngày hiu quạnh. Ờ…Ơ… Hơ… tiếng hát

Buồn như gió lướt, lành đài đôi khúc nhạc

Tiếng hát rằng: Tha La giận mùa thu

Tha La hận quốc thù

Tha la hờn quốc biến

Tha La buồn tiếng kiếm

Não nùng chưa! Tha La nguyện hy sinh.

Ờ… Ơ… Hơ. Có một đám chiên lành

Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy

Quỳ cạnh Chúa đám chiên lành run rẩy

– Lạy Đức Thánh Cha

Lạy Đức Thánh Mẹ

Lạy Đức Thánh Thần

Chúng con xin về cõi tục để làm dân

Rồi. . . cởi áo trả tu

Rồi. . . xếp kinh cầu nguyện

Rồi. . . nhẹ bước trở về trần

Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!

Người hãy ngừng chân

Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé

Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ

Trời Tha La vân vũ đám mây tang

Vui gì đâu mà tâm sự

Buồn làm chi cho bẽ bàng

Ờ… ơ… hơ… ơ…hơ…tiếng hát

Rung lành lạnh, ngân trầm đôi khúc nhạc

Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!

Tha La thương người viễn khách đi thôi!

Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đó

Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ

Lá rừng cao vàng rụng lá rừng bay

Giờ khách đi! Tha La nhắn câu này:

Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé

Hãy về thăm xóm đạo

Có trái ngọt cây lành

Tha La dưng ngàn hoa gạo

Và suối mát rừng xanh

Xem đám chiên hiền thương áo trắng

Nghe trời đổi gió nhớ quanh quanh

Trích Thơ Mùa Giải Phóng

VŨ ANH KHANH

Tiết 6

KẾT LUẬN VỀ NHÓM LÝ VĂN SÂM

Trước khi kết luận về nhóm Lý Văn Sâm, xin nhắc lại một lần nữa, sở dĩ viết Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà kỹ lưỡng hơn cả, vì những nhà văn này điển hình cho nhóm. Cũng như Tự Lực văn đoàn, nói về văn điển hình là Nhất Linh, Khái Hưng. Về thơ: Thế Lữ, Xuân Diệu… hoặc Hàn Thuyên; văn là: Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Đức Quỳnh, Trương-Tửu-Nguyễn-Bách Khoa. Chúng tôi không thể phê bình tất cả các nhà văn kỹ lưỡng trong cùng một lúc. Và như thế, theo chúng tôi, khó mà tóm tổng quát vấn đề nhìn viễn cảnh đâu là chính yếu nhất. Nói thế, không có nghĩa đả kích lối viết phê bình của ông Vũ Ngọc Phan (Nhà văn học hiện đại).

Nhóm Lý Văn Sâm, gây được tiếng vang trong giai đoạn kháng chiến bổ sung khi Pháp định tâm cướp đất miền Nam, làm bàn đạp phủ lên xứ sở Việt Nam chúng ta thêm lần Tây thuộc thứ hai.

Hình tượng thời thế trong văn chương, tâm trạng người yêu nước trong giai đoạn ấy, điển hình về văn là: Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Dương Tử Giang, Thẩm Thệ Hà. Và các nhà văn độc lập khác cũng tạo được độ cao cực thịnh (kể theo miền) trong lịch sử văn nghệ Nam Bộ nói riêng của văn nghệ Việt Nam, nói chung.



CÒN TIẾP ...

Trở lại: LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 21






© TÁC GIẢ VÀ NEWVIETART GIỮ BẢN QUYỀN .

tải đăng ngày 27.12.2007.



TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ TRUYỆN NGẮN NHẬN ĐỊNH