TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



. Sinh năm 1944 .
. Tại Thái Bình .
. 1967 tốt nghiệp khoa Sinh, Đại học Tổng hợp Hà Nội.
. 1973 làm việc tại Hội Văn nghệ Thái Bình.
. 1979 làm việc tại Hội Văn nghệ Kiên Giang.
. Từ 1996-2000 phóng viên báo Văn Nghệ Hội Nhà văn Việt Nam.
. Hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

- Bên bờ vịnh Rạch Giá tập truyện
- Thời gian gom nhặt (thơ)
- Trấn Hà Tiên và Tao Đàn Chiêu Anh Các (biên khảo)
- Nguyễn Thị Lộ (tiểu thuyết)
- Thử tìm lại cội nguồn người Việt (biên khảo)
















TÌM LẠI

CỘI NGUỒN

VĂN HOÁ

CỦA NGƯỜI VIỆT

KÍNH DÂNG ĐỒNG BÀO TÔI

KÍNH DÂNG TỔ QUỐC TÔI



Trái với quan niệm trước đây cho rằng, người Việt từ Thiên Sơn theo sông Dương Tử xuống khai phá vùng Hoa Nam, sau đó bị người Hán xua đuổi đã tràn xuống Việt Nam; thành tựu mới nhất của di truyền học cho thấy: Khoảng 70.000 năm trước, người Khôn ngoan Homo sapiens từ Trung Ðông đi qua Ấn Ðộ và Pakistan rồi theo bờ biển Nam Á tới định cư ở miền Trung và Bắc Việt Nam. Khoảng 50.000 năm trước, người Ðông Nam Á tới châu Úc. Khoảng 40.000 năm trước, đi lên khai phá đất nước Trung Hoa và 30.000 năm trước, băng qua Siberia rồi vượt eo Bering sang châu Mỹ. Là chủ nhân ông đầu tiên của đất nước Trung Hoa, người Bách Việt đã tạo dựng tại đây nền văn hóa Việt rực rỡ, là nguồn cội của văn hóa Trung Hoa hiện đại.



TỰA

C on người sinh ra, lớn lên, kiếm ăn, yêu đương, sinh con đẻ cái, chiến tranh giành giật... Ðến một lúc nào đó dừng giữa chừng công việc, anh ta tự hỏi: Ta là ai? Ta từ đâu tới? Chính lúc này, con người sinh học đã trở thành con người triết học.

Hàng vạn năm, từ thế hệ này sang thế hệ khác, con người triết nhân - những chàng hoàng tử Hamlet của mọi thời, khi bộ hành trên đường, lại hỏi mình câu hỏi muôn thuở ấy! Có lẽ đã có nhiều lời giải ngay từ tiền sử nhưng chúng không đến được với ta vì thời đó chưa có ký hiệu ghi chép và cũng có thể ký hiệu bị thời gian xóa nhòa. Vì vậy, câu hỏi về cội nguồn luôn là điều mới mẻ.

Với người Việt, do số phận đặc biệt của dân tộc, vấn đề cội nguồn lại càng nhức nhối hơn. Sự nhức nhối hiện thành câu tục ngữ Chim có tổ, người có tông, một trong những phương ngôn giầu ý nghĩa nhất của văn hóa Việt.

Với người Việt, có lẽ ý thức tìm về nguồn cội trở nên đòi hỏi cấp thiết nhất vào thế kỷ thứ X khi lần đầu tiên sau 1000 năm nô lệ, chủ quyền được giành lại. Hậu thế biết ơn Trần Thế Pháp với cuốn Lĩnh Nam chích quái của ông. Chọn những câu chuyện quê mùa lầm lụi trong bùn đất, lượm lặt từ những trang sách nước ngoài, ông ghi lại cho đời sau biết về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ cùng một bọc trăm trứng. Biết ơn Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên hai vị sử gia dám cả gan ghi những điều hoang đường diệu vợi vào chính sử. Những dòng chữ đó như đám bèo mà nhiều thế hệ Việt bám lấy để quẫy đạp lội ngược dòng lũ thời gian tìm về nguồn cội.

Nhưng, nhiều điều cha ông nâng niu trân trọng thì con cháu không tin. Không thể trách họ. Sự đời là thế, con cháu đã thành con người triết học mà đặc trưng là nghi ngờ tất cả! "Bốn nghìn năm văn hiến ư? Các cụ nhà mình khí đậm máu sô-vanh! Lấy đâu ra, ngay cả thời đại các vua Hùng cũng mù mờ lắm: làm sao 18 đời vua lại kéo dài những hơn 2000 năm?!" Chính ngay Ðại Việt sử ký toàn thư, pho sử lớn và uy tín nhất nước cũng viết: "Tích Quang người quận Hán Trung, khi ở Giao Chỉ lấy lễ nghĩa dạy dân. Lại lấy Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân... Tục người Cửu Chân chỉ làm nghề đánh cá, đi săn, không biết cày cấy. Diên mới dạy dân khai khẩn ruộng đất, hàng năm cấy trồng, trăm họ no đủ... Phong tục văn minh của đất Lĩnh Nam bắt đầu từ hai thái thú ấy."(1) Còn văn hóa Việt ư? "Chính sử chả ghi Sĩ vương là Nam Giao học tổ sao? Té ra thì tới nhà Hán chúng ta mới có việc học! Vậy thì văn hiến cái nỗi gì?"

Những suy nghĩ trên đã dẫn đến ý tưởng cực đoan vong bản như thế này: "Về văn hóa, ta đã bắt chước người Tàu một cách mê mải và vô điều kiện. Nếu văn hóa của ta còn khác văn hóa Tàu thì cũng chỉ vì ta bắt chước chưa xong mà thôi. Văn hóa ta khác văn hóa Trung Hoa không phải ở chỗ ta thực sự khác mà là ở chỗ ta chưa bằng. Sự khác biệt ở trình độ nhiều hơn ở bản chất!"(2)

Xin nói thực lòng, kẻ viết những dòng này cũng thuộc giống con người tư duy nên biết bao năm băn khoăn khốn khổ chỉ vì một câu ca:

Công cha như núi thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra!

Thái sơn là gì? Hòn núi lớn. Như vậy công cha to như hòn núi lớn! Còn nước trong nguồn thì dễ rồi: nước đầu nguồn, dạt dào mà trong trẻo! Yên chí! Ðến khi nghe mò mẫm biết được Thái Sơn, ngọn Nguồn là hòn núi dòng sông bên Tàu thì lòng bất nhẫn: Sao cha ông ta vong bản đến vậy? Chúng cướp nước ta chưa đủ sao mà còn thương còn nhớ còn ơn ngọn núi dòng sông bên Tàu?! Quá nửa đời buốt đau vì mặc cảm đó!

Ngày nay trong hoàn cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, trước nguy cơ bị xâm lăng văn hóa, thấy trên nhiều phương tiện truyền thông đại chúng và cả những chỉ thị nghị quyết nói nhiều đến cụm từ bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Nhưng không hiểu sao có cảm tưởng là, người ta càng nói nhiều thì sự việc càng rối tung rối mù lên, đến nỗi chẳng ai hiểu văn hóa dân tộc là gì! Từ đó mà biết bao việc làm tùy tiện lộn xộn, cái đáng bỏ thì giữ, cái đáng giữ lại bỏ, cái gì có lợi trước mắt thì đề cao rồi bảo đó là truyền thống, là bản sắc! Ruột bỏ ra da ôm lấy... cười ra nước mắt!

Thiết tưởng sở dĩ có chuyện trống đánh xuôi kèn thổi ngược như vậy chính bởi vì chưa có được sự thống nhất trong hai nhận thức cơ bản: 1/Dân tộc Việt Nam là ai? Và 2/ Văn hóa Việt Nam là gì?

Cho đến nay thật đáng buồn là người Việt chưa hiểu được dân tộc chúng ta là ai, từ đâu tới. Chính vì vậy càng mù mờ hơn về cội nguồn văn hóa dân tộc. Giải đáp hai câu hỏi trên là vấn đề đặc biệt quan trọng và bức xúc hiện nay.

Không phải là nhà nghiên cứu lịch sử nhưng là nhà văn quan tâm tới văn hóa dân tộc, chúng tôi tạm dừng cuốn tiểu thuyết đang viết về Triệu Vũ đế, xin thử bàn về hai vấn đề trọng đại này. Rất mong quý vị cao minh chỉ giáo.

Lời Cảm Ơn : Người viết chân thành cảm ơn các tác giả có sách tham khảo trong chuyên luận này. Ðặc biệt cảm ơn những tác giả người Việt ở nước ngoài: Ts Nguyễn Thị Thanh, Luật sư Cung Ðình Thanh, GsTs Nguyễn Văn Tuấn, các ông Nguyễn Ðức Hiệp, Nguyễn Quang Trọng. Ông Hoài Thanh báo Ðại chúng cung cấp những tài liệu quý. Cảm ơn bạn tôi, Ðỗ Thái Nguyên và Gs Ranjan Deka Ðại học Cicinnati Hoa Kỳ gửi cho những thông tin mới nhất. Chính trí tuệ và thịnh tình của các vị đã soi sáng và động viên chúng tôi hoàn thành cuốn sách. Cảm ơn vợ tôi, người đã vất và nhiều vì tôi. Cuốn sách này cũng là nén nhang tưởng nhớ Cha tôi.

Sài Gòn, Xuân Ất Dậu

HÀ VĂN THÙY




PHẦN HAI

CỘI NGUỒN VĂN HÓA VIỆT NAM

CHƯƠNG VII

MỘT CÁCH ỨNG XỬ

VĂN HÓA MỚI

S   au hàng ngàn năm lội ngược thời gian tìm cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hóa dân tộc, có lẽ hôm nay nhờ thành tựu mới của khoa học nhân loại, chúng ta đã có lời đáp rõ ràng, thuyết phục. Với nhận thức mới về nguồn cội thiết tưởng chúng ta cần có lối ứng xử văn hóa mới :  

1/ Chúng ta có quyền tự hào chính đáng về tổ tiên đã làm nên những nền văn hóa rực rỡ trên đất Việt. Tổ tiên ta cũng là chủ nhân ông thứ nhất khai phá đất nước Trung Hoa và sáng tạo nên văn minh Việt tộc trên vùng đất mênh mông này. Người Việt có chủ quyền chính đáng với nền văn minh gốc Việt ấy.  

2/ Về mặt huyết thống, từ bản đồ gene con người, chúng ta thấy mình cùng nguồn gene, cùng một gốc gác với các tộc người thiểu số anh em. Không chỉ cùng gốc gác với người Kinh mà các tộc người anh em còn là hậu duệ của ngành bám trụ lâu dài trên đất nước và sáng tạo những nền văn hóa mà hôm nay chúng ta tự hào. Ðối với các tộc người thiểu số anh em, chúng ta cần một thái độ biết ơn và trân trọng. Ðối với người Hán trên lục địa Trung Hoa, ta thấy họ cũng là bà con của ta vì trong mỗi người ít nhiều đều có một phần dòng máu của tổ tiên ta từ thuở xa xưa.   

3/ Hàng ngàn năm nay người Việt giữ cái nhìn kỳ thị dị chủng, dị văn với những nước láng giềng như Lào, Miên, Thái Lan và nhất là những nước hải đảo Ðông Nam Á. Ðấy là sai lầm mang tính lịch sử vì chúng ta chưa nhận ra được cội nguồn gốc gác của mình. Nay, với những phát hiện mới của khoa học, chúng ta nhận lại các dân tộc Ðông Nam Á là anh em bà con cùng nguồn cội với mình. Việc Việt Nam gia nhập gia đình Ðông Nam Á là bước đi đúng hướng để sửa chữa sai lầm trong quá khứ. Từ nay chúng ta có thêm nhận thức mới: Ðông Nam Á với chúng ta không chỉ là khối liên minh chính trị, kinh tế mà còn là cộng đồng có chung nguồn cội sâu xa về di truyền và văn hóa. Việt Nam sẽ phát triển và ổn định trong mối quan hệ bền vững với các nước anh em trong khu vực. Không những thế, người Việt ta cũng đồng bào với người New Guinea, thổ dân châu Úc cùng các tộc người bản địa châu Mỹ. Phải chăng câu tứ hải giai huynh đệ từ xa xưa đã bao hàm nội dung nhân bản này?  

4/ Hàng ngàn năm bên cạnh một cường quốc khổng lồ với nền văn hóa vĩ đại, cha ông ta luôn mang mặc cảm một quốc gia nhược tiểu, một dân tộc không có văn hóa gốc. Với nhận thức mới về nguồn cội, chúng ta tự giải phóng khỏi sự cầm tù của mặc cảm truyền kiếp đó, lấy lại niềm tự hào chính đáng: Dân tộc Lạc Việt là người duy nhất trong hệ Bách Việt còn tồn tại và kế tục sự nghiệp của một cha ông vĩ đại. Chính cha ông ta là người chủ đạo khơi nguồn nền văn hóa rực rỡ mang tên văn minh Trung Hoa. Với nhận thức mới về cội nguồn, chúng ta mạnh dạn nhận lại văn minh cội nguồn Trung Hoa là của mình. Ðấy là của chung mà cha ông ta ít nhất có phần hùn 51%. Việc sử dụng văn minh Trung Hoa trước đây vẫn bị coi là vọng ngoại là vay mượn thì từ nay ta sử dụng với tư cách chủ nhân có tác quyền hợp pháp.   

5/ Từ nhận thức về cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hóa, chúng ta xác định bản sắc văn hóa Việt nam: Nhân chủ, thái hòa, tâm linh. Ðó là truyền thống sống hòa đồng với thiên nhiên, tương thân tương ái với đồng loại, là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín... Có nghĩa là những yếu tố tốt đẹp nhất của Nho giáo - phần tinh hoa của văn hóa Việt tộc được đúc kết trong những kinh điển Nho giáo thời kỳ đầu. Học giả Kim Ðịnh gọi phần văn hóa Việt tộc này là Việt nho. Chúng tôi cho rằng đó là tên gọi xác đáng cần được tiếp thu. Việt nho là văn hóa Việt khi chưa bị tầng lớp thống trị Hán tộc làm cho tha hóa trở thành Hán nho Tống nho - công cụ đàn áp nhân dân, thủ tiêu dân chủ. Trong khi Nho giáo Trung Hoa bị suy đồi thì những yếu tố Việt nho vẫn tồn tại trong cộng đồng người Việt Nam như một truyền thống văn hóa tốt đẹp. Ðáng tiếc là do nhận thức chưa đúng về nguồn cội nên chúng ta ngộ nhận cho tất cả đều là của Tàu nên chối bỏ, thậm chí dùng Hán nho, Tống nho làm chính thống đàn áp văn hóa gốc của mình. Cần khẳng định đó là văn hóa đặc hữu của người Việt và lấy làm tiêu chí để gạn bỏ yếu tố Hán và Tống nho bị xảm vào văn hóa Việt do chủ trương đồng hóa của kẻ xâm lược phương Bắc.   

6/ Cho dù hôm nay đang đối mặt với những khó khăn chồng chất nhưng từ cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hóa chúng ta có lý do để tin tưởng rằng dân tộc ta sẽ có một tương lai sáng lạn. Dự báo về thế kỷ XXI người ta nhắc tới lời sấm Trạng Trình Nhân đào đáo hoàn, xã tắc an lạc. Do đất nước đổi mới, dân chủ hơn nên nhiều kiều bào trở về, hoặc thăm quê, hoặc đầu tư xây dựng đất nước. Về là để đất nước an lạc chứ không phải gây loạn lạc! Và cũng tháng năm này, nhờ thành tựu khoa học thế giới, ta tìm lại cội nguồn tổ tiên và văn hóa dân tộc. Ðó phải chăng là những điềm triệu báo tin về cuộc phục hưng? Việc của chúng ta là mỗi người trong khả năng của mình ngay từ bây giờ góp sức cho cuộc phục hưng đó!  

Chúng tôi hình dung ra, có thể cái tương lai phía trước chúng ta chính là thời Nghiêu Thuấn: con người thân thiện với thiên nhiên, sống với nhau hòa đồng thân ái, dân chủ, trên cơ sở nhân, nghĩa, lễ, trí, tín... Phải chăng chính đó là lý tưởng phương Ðông mà phương Tây đương tìm đến?  

Ðấy không phải dự cảm mơ hồ mà là nhận thức rút ra từ kinh nghiệm lịch sử. Trong quá khứ, đã có lúc minh triết phương Ðông từng cứu phương Tây. Ðó là vào thế kỷ XVII, dưới ách thống trị của chính quyền quân chủ chuyên chế, giai cấp quý tộc thế tập và tăng lữ, dân chủ tự do của Tây Âu bị bóp nghẹt dẫn đến khủng hoảng sâu sắc về chính trị, kinh tế, xã hội. Nạn nghèo đói tràn lan, dân số suy giảm đến mức báo động. Năm 1650, nước Pháp trụ cột của châu Âu có 19 triệu người, Anh cùng Irlande chỉ có 6 triệu, Tây Ban Nha 5 triệu, Ðức và Ý chưa thành quốc gia, mỗi nước có đến 350 tiểu bang (Sédillot trong cuốn Survol de l’histoire tr.240. Dẫn theo Kim Ðịnh: Cửa Khổng tr.235 CaDao Sai Gon 1974). Trong khi đó, nhìn sang phương Ðông, thấy lừng lững một đế chế Trung Hoa 200 triệu dân sống sung túc, quân đội hùng mạnh với những ông vua tài năng như Khang Hy, Ung Chính, Càn Long, phương Tây nghiêng mình bái phục. Ðiều khiến phương Tây ngưỡng vọng nhất là cơ chế thi cử đảm bảo cơ hội bình đẳng cho mọi tài năng và triều đình có quan gián nghị giúp điều chỉnh những việc làm thái quá của vua, những biểu hiện của nền dân chủ mà phương Tây nằm mơ cũng không thấy! Trí thức phương Tây hiểu đấy là kết quả của nền triết học và đạo đức Nho giáo.  

Voltaire từng ca ngợi: "Nếu bao giờ có một thời kỳ hạnh phúc nhất và đáng kính nhất trên trái đất này thì đó là thời kỳ người ta theo luật cai trị của Khổng Tử." Và "Hiến pháp của Trung Hoa thật ra là hoàn hảo nhất trên thế giới... là một nước duy nhất khi mà quan cai trị tỉnh phải thuyên chuyển (quy chế luân quan-HVT), nếu không được dân hoan hô thì bị phạt... Ngay tự bốn ngàn năm trước đây khi chúng ta chưa biết đọc biết viết thì họ đã biết mọi điều căn bản hữu ích về những cái mà ngày nay chúng ta lấy làm tự hào." (Dict. Philosophique tr. 108- KÐ Cửa Khổng tr.245) Voltaire cũng cho rằng, sự khám phá ra nền văn hóa Viễn Ðông đã đưa mắt người Âu châu nhìn lên một thế giới mới lạ, khác hẳn cả về tinh thần lẫn vật chất, theo 3 nguyên tắc sau:  

     Nguyên tắc đầu tiên là xã hội Viễn Ðông đặt nền trên sự theo đuổi hạnh phúc trần gian, trái với xã hội Tây Âu Trung cổ coi hạnh phúc trần gian là không đáng mong ước và cũng chẳng thể tìm trong cái " thung lũng đầy nước mắt." 

      Nguyên tắc thứ hai trái ngược hẳn với nguyên tắc phục tùng tuyệt đối bên Tây Âu lúc đó, bên Trung Hoa dân có quyền làm loạn chống nhà vua khi vua đi sai đạo. Ðiều này mặc nhiên có trong Luận ngữ và rõ hơn trong Mạnh tử. 

    Nguyên tắc thứ ba được các triết gia chú trọng hơn cả là nền luân lý độc lập, không dựa vào tôn giáo mà dựa trên nhân bản. (Dẫn theo Kim Ðịnh. Cửa Khổng tr.256).  

Từ trung tâm châu Âu là nước Pháp, ảnh hưởng của Khổng giáo lan sang Anh, Ðức. Ở Mỹ, người tiếp thu trước hết là Franklin khi ông sang vận động sự ủng hộ của người Pháp. Từ Voltaire, Jefferson cũng học được tư tưởng bình quyền của Khổng. Chính tư tưởng dân chủ nhân văn Nho giáo trở thành ngọn đuốc soi đường cho những cuộc cách mạng xã hội bên Âu Mỹ thế kỷ XVIII.  

Người ta có thể thấy tinh thần minh triết phương Ðông trong bản Tuyên ngôn nhân quyền nước Pháp năm 1789 mà dòng đầu tiên là: "Con người sinh ra tự do và tiếp tục là tự do, bình đẳng trong quyền lợi..." Tư tưởng nhân văn đó ta cũng gặp trong Tuyên ngôn Ðộc lập của nước Mỹ. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa dòng đầu tiên của Tuyên ngôn độc lập nuớc Mỹ vào giấy khai sinh nước Việt Nam mới cũng là lúc Người đem tư tưởng nhân bản của tổ tiên trở lại đất nước mình.  

Ngày nay lịch sử lặp lại. Chủ nghĩa tư bản đang thống trị thế giới. Và nói như M. Gorki, cả thế giới là thành phố con quỷ vàng khổng lổ với những bánh xe quay điên cuồng biến mọi thứ thành vàng. Sự phát triển công nghiệp mù quáng, sự tiêu hao quá mức nguồn năng lượng hữu hạn của Trái đất, sự tàn phá môi sinh không kìm hãm nổi, sự tha hóa của con người... khiến ta có cảm giác, con người khôn ngoan Homo Sapiens mất trí đang trong điệu vũ cuồng loạn cuốn vào xoáy lốc hủy diệt!  

Ðiều gì có thể cứu loài người khỏi thảm họa này? Không phải các nhà khai sáng kiểu Voltaire, Rousseau, Montesquieu. Cũng không phải những triết gia như Kant, Nietzsche, và ngay cả Tư bản luận của Carl Marx! Có lẽ, cái có thể cứu thế giới khỏi thảm họa là nền minh triết phương Ðông. Ðó chính là cửa tam quan rộng mở với nhân chủ, thái hòa, tâm linh. Qua cửa đó con người đến cuộc sống nhân bản, tốt đẹp hơn nên bền vững hơn!   

* * *   

Khi bắt tay vào viết tiểu thuyết Triệu Vũ Đế, chúng tôi cũng như hầu hết người Việt Nam khác rất mù mờ về nguồn cội. Dù đã đọc đã nghe hết thuyết này đến thuyết khác về cội nguồn dân tộc, nhưng không hiểu sao, chúng tôi không tin vì không muốn tin vào những điều khiến mình đau lòng. Chúng tôi hy vọng một cái gì hơn thế!  

Nhưng khi vì tìm chất liệu cho tiểu thuyết mà phải lạc vào thế giới của những nhà Việt học, chúng tôi bỗng buồn rầu nhận ra: những tư liệu về tiền sử người Việt thật mênh mông bể sở lại tản mạn và mâu thuẫn. Còn các nhà Việt học của chúng ta thì không khác gì những ông thày bói xem voi trong ngụ ngôn xưa. Mỗi người vừa sờ được cái tai, cái vòi con voi đã vội vã lập ngôn, dựng thuyết. Và dù không thiếu tâm, không thiếu trí đã tự biến mình thành dân Babel: càng nhiều giả thuyết thì càng xa cái mục tiêu ban đầu là tìm lại cội nguồn! Biết bao thời gian, tâm huyết cùng trí tuệ uổng hoài!  

Rồi một lúc nào đó tình cờ may mắn chúng tôi đọc được những dòng này từ báo Đại Chúng xuất bản bên Mỹ: "Khoảng 200.000 năm trước, người tiền sử từ Trung Ðông theo con đường Nam Á, qua Pakixtan, Ấn Ðộ rồi men bờ biển Ấn Ðộ Dương tới Việt Nam khoảng 60-70.000 năm trước. Nghỉ lại ở đây 10.000 năm, lai giống với nhau, tới khoảng 50.000 năm trước họ chia tay ..." Những dòng chữ ngắn ngủi của bài báo nhỏ làm đầu óc chúng tôi bừng sáng. Một điều gì cực kỳ quan trọng vừa xuất hiện. Nếu đúng vậy thì đây là chiếc chìa khóa thần mở cửa đi vào tiền sử dân tộc... Tiếc rằng bài báo không hề cho biết xuất xứ của những thông tin trên. Dù vậy, bằng trực quan, chúng tôi hoàn toàn tin những gì bài báo nói. Quả thật, cảm giác chúng tôi lúc đó rất lạ, lâng lâng như người say, tim đập nhanh, run rẩy như người bắt được báu vật... Và chúng tôi bỏ công sức truy tìm bằng chứng những gì vừa nhận được. Nhiều thông tin đã đến với chúng tôi, từ tác giả của bài báo trên, từ bạn bè, từ chính Gs Najan Ranka, người được nhắc đến trong bài báo... Và may mắn, chúng tôi được đọc bài của Gs Nguyễn Văn Tuấn từ nước Úc, một bài viết giới thiệu khá đầy đủ về cội nguồn dân tộc qua di truyền học.  

Chúng tôi đành tạm chia tay với Triệu Vũ đế, mạo muội viết tiểu luận Tìm lại cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hóa. Trong đó, kết nối những kiến thức khảo cổ học, nhân chủng học, sử học, xã hội học lĩnh hội được từ người đi trước, chúng tôi hình dung ra tiến trình lịch sử của người Việt với hai giai đoạn bắt đầu khoảng 4 vạn năm trước, người Việt từ sông Mã sông Hồng đi lên mở mang khai phá đất nước Trung Hoa với hai trung tâm Thái Sơn và Ngũ Lĩnh. Giai đoạn thứ hai là bước trở về: Từ 2600 TCN, do bị người Hán chiếm đất, người Việt rời bỏ vùng Thái Sơn xuống quần tụ tại Lĩnh Nam. Cũng lúc này, một bộ phận đi xa hơn, trở về Việt Nam để cùng với người Việt tại chỗ dựng nhà nước Văn Lang....  

Sở dĩ trước đây chưa ai nghĩ tới điều này vì khoa học chưa biết tới con đường phương Nam của người tiền sử mà chỉ đoán định về con đường Bắc tiến từ Trung Ðông lên cao nguyên Thiên Sơn. Vì thế giả thuyết của E. Aymonier: người Việt từ Tây Tạng xuống theo ngọn sông Dương Tử tỏ ra thuyết phục. Tuy nhiên, giả thuyết đó cũng có những bất cập: nó phủ định nguồn gốc bản địa của người Việt đồng thời về mặt lịch sử, nó vu cho người Việt cái "tội tổ tông" không hề có là chiếm đất, diệt chủng những tộc người bản địa. Mặt khác, nó không giải thích được nguồn gốc của những văn hóa cổ rực rỡ ở Việt Nam...  

Như vậy, với tiến trình như trên cho ta thấy người Việt có một lịch sử lâu dài và nhất quán: từ Việt Nam ra đi, tổ tiên chúng ta lại trở về Việt Nam cùng với đồng bào của mình xây dựng đất nước. Một tiến trình như vậy là rõ ràng và thuyết phục.  

Nếu việc nghiên cứu tiền sử đạt được thành tựu cơ bản thì trước mắt chúng ta còn nhiệm vụ nặng nề khác: Tìm lại văn hóa cội nguồn của người Việt.  

Trước đây chúng ta bị cầm tù bởi nếp nghĩ quen thuộc: người Việt không có văn hóa gốc mà tất cả hay hầu hết là học của Tàu. Nhưng vào những năm 70 thế kỷ trước, lần đầu tiên học giả Kim Ðịnh đưa ra ý kiến kinh Dịch, kinh Thi, Thư... là của người Việt và cũng của người Việt nhiều yếu tố văn hóa phi vật thể khác mà trước đây vẫn cho là của người Trung Quốc. Ý kiến táo bạo đó bị nhiều người phản đối nhưng cũng không phải không có người đồng tình. Nay chúng tôi thấy rằng phần nhiều trong đề xuất của ông là hữu lý. Có cái chứng minh được và nhiều điều chưa thể chứng minh nhưng đó là những dự cảm sáng suốt. Do thời của ông chưa biết có con đường di dân phương Nam của người tiền sử nên một số chứng cứ ông đưa ra chưa thuyết phục. Nhưng nay nhờ phát hiện được cội nguồn cùng tiến trình lịch sử của người Việt, nhiều ý kiến đề xuất của ông trở thành hiển nhiên. Ông cũng có công sáng tạo ra thuật ngữ Việt Nho để chỉ văn hóa cội nguồn của người Việt từng phổ biến bên bờ Hoàng Hà, Dương Tử cũng như sông Mã sông Hồng. Văn hóa ấy người Việt đã góp vào với văn hóa du mục của Mông tộc để làm nên thời đại hoàng kim trong lịch sử Trung Hoa. Chúng ta cần tiếp thu thuật ngữ này để làm rõ, định danh phần văn hóa cội nguồn của tổ tiên ta.  

Từ 2600 năm trước Công nguyên đến nay, cả ở Trung Hoa, cả trên đất Việt, Việt Nho đã bị biến đổi. Phần bị biến thành Hán nho, Tống, Minh, Thanh nho trở nên bác tạp, phần rơi rụng mất mát... Ngày nay tìm lại văn hóa cội nguồn của dân tộc là việc cực kỳ khó khăn không khác gì giải câu đố Êdôp: tách nước sông ra khỏi nước biển. Tuy nhiên đó là việc quan trọng sống còn với dân tộc nên không thể không ráng tìm. Bởi lẽ chính văn hóa quyết định vận mệnh của dân tộc. Chúng tôi thiển nghĩ, người Nhật, Hàn Quốc tỏ ra đúng hướng trong khi đó người Trung Hoa đang liều lĩnh thực thi chiến lược nguy hiểm: bán được hàng hóa với bất kỳ giá nào! Con đường người Trung Hoa đang đi không khác con đường Liên xô từng thất bại: tiêu tốn quá nhiều tài nguyên và đẩy nhanh ô nhiễm môi trường. Việt Nam phải khôn khéo tìm ra con đường riêng của mình đồng thời cảnh giác trước tình huống bất lợi từ phương Bắc. Con đường Trung Hoa đang đi hiện nay là sản phẩm của văn hóa Hán nho, Tống nho. Việt Nam phải đi theo con đường Việt Nho. Nhưng tìm ra con đường này không dễ. Người Việt phải chung lưng đấu cật tìm lại văn hóa tận nguồn của dân tộc để từ đó định hướng con đường tới tương lai.  

Chúng tôi xin đề nghị, nên lập một diễn đàn để người Việt trong, ngoài nước cùng bạn bè thế giới bàn thảo về vấn đề này. Chủ trì diễn đàn là một số vị có uy tín về học thuật để có thể điều hành hữu hiệu. Khoảng 2 năm một lần nên tổ chức hội thảo ở một địa điểm nào đó để cùng nhau gặp gỡ trao đổi. Sau hội thảo nên in kỷ yếu bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Hoa để công bố rộng với cộng đồng thế giới. Khoảng 5 năm sẽ tổ chức hội nghị khoa học thảo luận và giải quyết những vấn đề còn tranh cãi. Theo thiển ý, cách làm việc dân chủ và cẩn trọng như vậy sẽ hiệu quả hơn. Rất mong các bậc cao minh chỉ giáo.   

TÀI LIỆU THAM KHẢO:  

1.Ðại Việt sử ký toàn thư Nxb KHXH. Tr 20 (bản điện tử Lê Bắc).  

2. Nguyễn Gia Kiểng, Tổ quốc ăn năn, Paris 2000.  

3.Ðại Việt sử ký toàn thư tr.5  

4. Việt sử tiêu án tr.3. Bản điện tử Lê Bắc 2001  

5. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược. Bộ Giáo dục, Trung tâm học liệu xuất bản, tr. 9, Bản đt Lê Bắc  

6. Phạm Văn Sơn. Việt sử toàn thư. Nam nghệ xã Nhật Bản tái bản năm 1983.  

7. Kim Ðịnh. Việt lý tố nguyên An tiêm. Sài Gòn 1970 tr 62-63  

8. Kim Ðịnh. Cơ cấu Việt Nho. Nguồn Sáng S.1972 Tr 244-245  

9. Nguyễn Ðình Khoa. Nhân chủng học Ðông Nam Á. ÐH&THCN. H.1983  

10. J.Y. Chu & đồng nghiệp: Genetic relationship of population in China. Proc. Natl. Acad. Sci.USA 1998 số 95 tr. 11763-11768.  

11. Bing Su & đồng nghiệp: Y-chromosome evidence for a northward migration of modern human into Eastern Asia during the last Ice Age. American Jurnal of Human Genetics 1999; 65; 1718-1724. Nhiễm sắc thể Y chỉ có ở con đực, bền vững và chứa nhiều thông tin di truyền hơn mtDNA. Qua Y-chromosome có thể truy tìm "dấu vết di cư" của nhóm dân, từ đó ước đoán được tuổi của tổ tiên. Mức độ biến thiên đa hình thái (polymorphic variation) là chỉ tiêu di truyền quan trọng đánh giá độ đa dạng sinh học của nhóm dân: tổ tiên có mức đa dạng sinh học lớn hơn con cháu. (Dẫn theo Nguyễn Văn Tuấn: Tìm về nguồn gốc dân tộc Việt Nam qua di truyền học. Giaodiem.com)  

12. W. Kim & đồng nghiệp : Y-chromosomal DNA variation in East Asia populations and its potential for inferring the peopling of Korea. Jurnal of Human Genetic.2000. số 45 Tr. 76-83.  

13. S.W. Ballinger&đồng nghiệp: Human mitochondrial DNAs (mtDNAs) from 153 independent samples encompassing seven Asian populations were surveyed for sequence variation. The greatest mtDNA diversity and the highest frequency of mtDNAs with HpaI/HincII morph 1 were observed in the Vietnamese suggesting a Southern Mongoloid origin of Asians. (Southeast Asian mitochondrial DNA Analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migration. Genetic 1992 số 130 Tr.139-45)  

14. Jin Li: Ngày 29.9.1998 Li Jin thông báo một tin chấn động giới khoa học tại Washington: "Công trình của chúng tôi cho thấy con người hiện đại trước hết đã đến Ðông Nam Á sau đó đi lên Bắc Trung Hoa." "Từ Trung Ðông men theo bờ Ấn Ðộ⠄ương, ngang qua Ấn Ðộ đến Ðông Nam Á. Sau đó họ đi lên Bắc Trung Hoa, Siberia và cuối cùng là châu Mỹ." ["Our work shows that modern humans first came to Southeast Asia and then move late to Northern China." "...from Middle East, following the Indian Ocean coatline across India to Southeast Asia. Later, they moved northern China, Siberia and eventually the Americas"(Los Angeles Times 29.9.1998)].  

15 Peter Savolainen, Ya ping Zhang... Genetic Evidence for an East Asia origin of Dometic Dogs. Science Nov 22 2002;  

- Jenifer A. leonard, Robert k. Wayne... Ancient DNA Eviden for old world origin of new world Dogs. Science Nov 22 2002.(Dẫn theo Nguyễn Văn Tuấn: Năm Mùi nói chuyện dê. Giao Ðiểm Xuân 2003)  

16. Stephen Oppenheimer: Eden in the East : the Drowned Continent of Southeast Asia- Nxb Phoenix London 1998.(Dẫn theo Nguyễn Quang Trọng: Về nguồn gốc dân tộc Việt Nam và Ðịa đàng phương Ðông.Giaodiem.com)  

17. Nguyễn Quang Trọng. Về văn minh cổ và nguồn gốc dân tộc Việt Nam-trả lời nhóm Tư tưởng. Giaodiem.com, dẫn Etler D.A: Gallery sọ tìm được ở Trung Hoa: www. Cheneseprehistory.org/pics6.htm.  

18. The Canberra Times, 10 Feb. 2005, by Rosslyn Beeby Research, Conservation and Science Reporter: http://www.iol.co.za/index.php?set_id=1&click_id=588&art_id=qw1108019521878B213  

19. Bowen, Hui li: Genetic evidence supports demic diffusion of Han culture. Nature /vol 431/16 September 2004.  

20. An Nam chí lược. Lê Tắc. Bản diện tử Lê Bắc.  

21. Ngô Thì Sỹ. Việt sử tiêu án. Văn sử tái bản năm 1991. Bản điện tử Lê Bắc tr.10.  

22. Sử ký Tư Mã Thiên Nxb Văn học H.1988 tr.743.  

23. Phủ Biên tạp lục Nxb KHXH. H. 1977 tr. 31  

24. Nguyễn Ðăng Thục: 4000 năm văn hiến. Hoadam.net  

25, 26. Nguyễn Thị Thanh- Việt Nam trung tâm nông nghiệp lúa nước và công nghiệp đá xưa nhất thế giới- VietCatholic 30.9.2001  

27. C. Sauer: Agricultural Origins and Dispersals. Newyork 1952.  

28. W.G. Solheim II: Southeast Asia and the West-Ðông Nam Á và phương Tây- Science 157- dẫn theo Nguyễn Thị Thanh bđd)  

29. W. G. Solheim II. Ph. D: New light on Forgotten Past. National Geographic Vol 1339 n 3 tháng 3 năm 1971. Theo bản dịch của Hoàng Hoa Nhân Kiệt. Giaodiem.com.  

30. Ðoàn Nam Sinh. Về Ðông Sơn-Hùng Vương. NXB Thành phố HCM 2002 tr 55  

31. Cung Ðình Thanh "Gốm cổ tại Việt Nam và vai trò của nó trong văn hóa tiền sử." Tập san Tư tưởng số 12 tháng 2/2001.  

32. Kim Ðịnh. Việt lý tố nguyên tr.53  

33. Lévi Strauss -Tristes tropicques tr. 196 và 267. Dẫn theo Kim Ðịnh - Cơ cấu Việt Nho SG 1972 tr. 22.  

34. Nguyễn Quang Trọng. http://www.nhanvan.com/magazines/hopluu/64nguyenquangtrongvenguongoc.htm  

35. Cung Ðình Thanh http://tutuong.hypermart.net/htmlfiles/vanhoadongson.htm  

36. Dẫn theo Việt lý tố nguyên, tr. 58-59  

37. Vũ Hữu San Vịnh Bắc Việt tái bản 2004. Tripod.com.  

38.’Earliest writing’found in China. News.bbc.co.uk/1/hi/sci/tech/454594.stm  

39.’The bone age flute’. News.bbc.co.uk/2/hi/science/nature/2956925.stm  

40 Archaeology of Writing .www.geocities.com/cvas.geo/china.html  

41 Trương Thái Du: Những con chữ khởi thuỷ và một áng văn rất sớm của loài người. vannghesongcuulong.org ngày 3.5.06  

42. Năm 1986 người ta tìm được ở Sanxingdui tỉnh Tứ Xuyên hơn 800 hiện vật trong đó có nhiều đầu người và mặt nạ tuyệt xảo bằng đồng, nổi bật là bức tượng đồng to bằng người thật, cao 1,72 m. Tượng có mắt to và xếch, mũi lớn, lông mày rậm, miệng thật rộng, không thuộc chân dung điển hình của người Hán. Giới khảo cổ Trung Quốc gọi là cổ vật thuộc nhóm dân Ba Thục và xếp chúng vào thời kỳ cuối đời Thương. Tuy nhiên người ta biết rằng nước Thục có từ khoảng 4700 năm trước, sớm hơn nhà Thương 1000 năm, chỉ bị nhà Tần diệt vào thế kỷ III TCN. Đấy chính là sản phẩm của Bách Việt.  

43.Joseph Needham & Edwin George Pulleyblank trong The Origins 1983 - Dẫn theo Cung Ðình Thanh: Tiếng nói và chữ viết của người Việt cổ. Dactrung. Net.  

44.Cadière R. P. Leopold (1877-1948). Souvenirs d’un vieil annamitisant, Indochine, Hanoi, No 143, 8 Juillet 1943. Theo Cao Xuân Hạo: Sự tích bốn chữ “CHÍNH TRƯỚC PHỤ SAU” trong Việt ngữ học (tài liệu riêng)  

45.Kinh Dịch. Phan Bội Châu, NXB Văn hoá Thông tin 1996  

46.Lê Mạnh Thát. Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam tập I. Quangduc.com47  

47. Kinh Thi. NXB thành phố Hồ Chí Minh. 1992 

48. Du Diễm: Ðộc Dịch cử yếu. Tứ khố toàn thư trân bản. Thương vụ ấn thư quán Thượng Hải, Quyển III, trang 11. Dẫn theo Kinh Dịch với vũ trụ quan phương Ðông. Nguyễn Hữu Lương. Sài Gòn 1971.  

49. Từ nguyên chính tục biên hợp đính bản- Thương vụ ấn thư quán, Thượng Hải, 1939 tập Tị trang 24- Dẫn theo NHL.  

50. Du Diễm: Ðộc Dịch cử yếu; Tứ khố toàn thư trân bản. Thượng Hải Q.3 tr 13-14. Theo NHL.  

51. Nguyễn Hữu Lương, sđd  

52. Ðoàn Nam Sinh, sđd tr. 152-153  

53. Nguyễn Vũ Tuấn Anh: Tìm về cội nguồn kinh Dịch. tuvilyso.com  

54. Kinh Thư. Nghiêu điển, câu 3 

55. Nhật Hoa Khanh- Phỏng vấn Tố Hữu. talawas.com.    

. Tìm Đọc : Tìm Lại Cội Nguồn và Văn Hoá của Người Việt của Hà Văn Thùy - NXB Văn Học 2007






© TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN .



TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ TRUYỆN NGẮN NHẬN ĐỊNH