TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




. Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

. Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái
trong giấy tờ tuỳ thân 1936.

. Khởi sự viết văn cuối 1952.

. Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

. Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

. Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút - báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

. Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… -

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la banlieue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur - Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).





BÚT KÝ & TRUYỆN


THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 1/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E -mail 2/2

CHÀNG VĂN SĨ ĐẤT TỀ

ĐÊM DÀI TÌNH ÁI

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA -Chương 1 Kỳ 1

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 1 Kỳ 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 2/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3 tiếp theo

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 4

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 4

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 5

CON CHÓ LIÊM SỈ

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 6

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 5

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 7

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 8

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 9

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 10 - KẾT





BIÊN KHẢO


LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 1

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 2

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 3

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 4

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 5

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 6

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 7

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 8

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 9

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 10

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 11

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 12

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 13

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 14

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 15

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 16

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 17

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 18

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 19

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 20

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 21






















THAY LỜI DẪN

Lược Sử Văn Nghệ Việt Nam của nhà văn Thế Phong gồm 4 tập, đã được in 2 tập: Tập 1 NHÀ VĂN TIỀN CHIẾN 1930-1945, bản in ronéo đầu tiên ở Sài Gòn gồm 100 cuốn vào năm 1959. Bản tái bàn cuả NXB Vàng Son in 3000 cuốn ở SàiGòn vào năm 1974. Bià cuả họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi được chụp in lại trên đây , do một trong những NXB vô danh ở Mỹ in lậu ở California sau 1975 và Tập 4 : Tổng Luận đã chuyển ngữ A BRIEF GLIMPSE AT THE VIETNAMESE SCENE (from 1900 to 1956) và 2 tập 2 & 3 nói về văn nghệ kháng chiến, nhà văn hậu chiến 1900 - 1956 (văn nghệ quốc gia hay văn nghệ của VNCH) chưa bao giờ công bố trên văn đàn, mặc dù đã được lưu trữ tại một số thư viện TRONG NƯỚC (Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. HCM, Thư viện Khoa học Xã hội Tp.HCM) và NGOÀI NƯỚC như ở Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, Boston, Ithaca-New York, SIU, IOWA vv..hoặc ở Pháp, Đức, Úc..

Newvietart xin đăng tải lại một vài nhận định báo chí, văn giới về Lược Sử Văn Nghệ khi xuất bản lần đầu vào 1959 :

a) Tạp chí Bách Khoa:" ..Ông TPhong vừa cho ra một loạt phê bình văn học. Đó là ai nấy đều mong đợi, bởi vì sau một thời gian khá lâu chưa ai tiếp tay Vũ Ngọc Phan, chốc đà mười mấy năm trời' đúng một thời gian luân lạc cuả cô Kiều...."( số 56, năm 1959, TRIỀU ĐẨU)

b) Ông TP một văn nghệ sĩ thủ đô vừa viết xong và cho phát hành cuốn" Lược sử Văn Nghệ VN", trong đó tác giả phân tích các tác phẩm của văn nghệ sĩ ra đời từ 1930 đến 1945. Cuốn này được quay ronéo có bầy bán tại các hiệu sách. Sách này tác giả đã tốn nhiều công phu và sưu tầm khá nhiều tài liệu để biên soạn (nhật báo Ngôn Luận ngày 8/9/1959- Saigon).

c) ..." Điều thứ ba, sự phán đoán của anh hợp với ý tôi, phần nhiều các tác phẩm anh khen, thì tôi cũng nhận là có giá trị; những tác phẩm anh chê, thì tôi cũng không thích. các nhận xét cuả anh về Triều Sơn, Hoàng Thu Đông đều đúng cả. Đó là nhận xét của tôi; tôi phải phục sức đọc, sức viết, sức nhớ cuả anh. Cảm ơn anh một lần nữa.." (Nguyễn Hiến Lê, 12/3c Kỳ Đồng, Saigon 3- ngày 17/4/1959)

d) Nguyệt san Sinh Lực (1959, Chủ nhiệm: Võ văn Trưng- Saigon) :"...Hôm nay Thế Phong còn có thể ít nhiều nhầm lẫn-nhưng với khả năng rạt rào của tuổi trẻ, với lòng yêu văn nghệ đến đam mê, anh còn nhiều bước đi ngạc nhiên trên lãnh vực nà để đào xới lại mảnh đất hoang phê bình cảo luận bị bỏ quên trong nhiều năm. Sự cố gắng của Thế Phong là sự cố gắng hoàn toàn văn nghệ, cuả một người văn nghệ biết mỉm cười trong sự nghèo túng bản thân mình để hiến chiều dài cho văn học sử. Cũng có đôi khi ta thấy Thê Phong phê phán có vẻ độc tài và tàn nhẫn nữa; nhưng ta vẫn thấy rằng: đó là sự độc tài và tàn nhẫn không có tính cách tự cao, tự đại; hoặc dao to búa lớn; (trái lại) nhiều tinh thần thẩm mỹ, dĩ nhiên là có chủ quan. Ta quí sự nhận thức ấy- vì anh dám nói- cũng như người khác có dám cãi lại hay không là quyền của họ.." (Lê Công Tâm - Thanh Hữu, nhà văn).

e) Le Journal d'Extrême Orient (Saigon, 3 Décembre 1959)" Lược sử văn nghệ Việt nam-Hisotire de la littérature vietnamienne". Histoire sommaire de la littérature vietnamienne, òu l'auteur passe en revue les écrivains d'avant guerre 1930-1945. Cette oeuvre est tirée sur ronéo avec une tirage limitée. Fruit de minuitieuses recherches et d'une riche documentation donnée une vue d'ensemble des diverses époques et tendances des écrivains, des poètes du Vietnam, de leurs oeuvres, d'une littérature riche de plusieurs millénaires suivant le cours de l'Histoire. C'est une synthèse remarquablement coordonné annotée parle critique éminent qu'est ThếPhong qui l'achevée dans les derniers jours de Juin 1956

(đã in ở cuối sách "LSVNVN-Nhà văn tiền chiến 1930-1945 của ThếPhong, NXB Vàng Son Saigon 1974)...

Từ Vũ và Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những người muốn khách quan sưu tra sử liệu .





VÀI DÒNG TÂM SỰ NGƯỜI VIẾT SÁCH

T rước hết cảm ơn bậc đàn anh bước trước: Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh – Hoài Chân ... (chẳng là gần với tài liệu văn học tham khảo, cũng như so sánh).

Viết sách biên khảo hay phê bình, giá trị nhiều hay kém có thể nằm trong vài ý kiến dưới đây: Lập trường người viết phải có trước khi tìm kiếm tài liệu. Ấy là đã phải kể tới kiến thức, học và đọc; khả năng và tâm hồn văn nghệ nhạy cảm của người viết phê bình.

Lại cần kinh nghiệm, nhỡn quan nhìn, phải được chế biến theo lập luận người viết càng nhuyễn, sách càng phong phú. Không thể coi sách tương tự như cours nhà trường, làm thành gọi là biên khảo, phê bình văn học. Cũng như étude, non-fiction, fascicule, étude critique sur critique phân minh rõ ràng.

Tài liệu dồi dào, nhưng tài liệu nào chưa đọc, không nên bao biện. Người viết không định ý, lập luận; hẳn tài liệu phong phú dồi dào đi nữa; cuối cùng người viết chết theo với tài liệu sưu khảo được. Nhớ tới Nguyễn Hiến Lê trong một sách biên khảo bàn về tài liệu, nhất là tìm tài liệu văn học, sử học Việt Nam khó gấp bội phần khi sưu tập tài liệu tương tự ở nước ngoài. Ý kiến thật xác đáng. Nước ta triền miên khói lửa, và tầm mức thẩm định giá trị tài liệu văn học chưa được sử dụng đúng mức, công bằng.

Cộng đời sống thấp kém, ít thời giờ đọc sách, mua sách, bảo tồn sách, nên tủ sách văn học Việt Nam cần cho người viết sử dụng còn ở tình trạng rất thiếu thốn.

Khi viết bộ sách này, khích lệ tôi nhiều nhất phải kể tới một người: đó là anh Nguyễn Đức Quỳnh. Ông nhắn nhủ tôi rằng: “tài liệu nhiều chưa chắc đã là một yếu tố thành công, còn phải dám làm, dám nhận trách nhiệm”.

Đôi khi, chính kẻ dám làm lại liều lĩnh và dám biết mình ngu. Như vậy, chắc chắn tôi biết trách nhiệm khi viết sách. Cảm ơn một lần nữa nhà văn lão thành Nguyễn Đức Quỳnh, ông bạn văn tiền chiến vong niên. Nữa, cho tôi xin cảm ơn thêm vài tấm áo vải lao động: như anh chị Hai Nụ ở Xóm Chùa (Tân Định) làm nghề thợ thêu. Anh chị nuôi sống tôi hai năm trời: cơm và nhà ở. Nhà thuê vào năm viết bộ sách là một trăm năm mươi đồng. Tiền cơm bốn trăm đồng. Chưa hết, ông già Lịch bán thuốc lá, cũng ở đây; cho tôi chịu khoảng hai ngàn đồng tiền thuốc lá. Thuốc lá Ruby khoảng sáu đồng một bao. Sáu tháng liền, tôi chỉ đi ra tới ngõ; xa hơn là 147B Trần Quang Khải (Sàigòn 1) tới tiệm cho thuê sách Đức Hưng. Nơi này đủ gần hết tác phẩm tiền chiến, giấy dó Hàn Thuyên, mướn đem về đọc để làm tài liệu viết. Một người bạn nữa anh Lung cũng ở Xóm Chùa ngập nước, có một tủ sách khá lớn. Anh cho mượn và tôi sử dụng một cách sở hữu chủ. Anh từ miền Bắc vào Nam lâu, có viết báo tài tử, một người thật chân tình. Phải chăng chân tình này làm tôi cảm động, khi nghe kể đoạn đời anh tham gia kháng chiến ở Nam Bộ bị Pháp cầm tù. Đời tù đầy thêm kinh nghiệm sống, đời quất ngọn roi phũ phàng bao nhiêu, nạn nhân chịu nổi hờn đau sẽ sống lâu hơn; sau thì người ấy sẽ được liệt vào bậc tốt nhất xã hội trên mọi phương diện.Và một bạn học cũ Hà Nội : Tạ Văn Tài đạp xe đạp thăm tôi để khích lệ - trước khi anh đậu hai thủ khoa Văn chương và Luật khoa Sài Gòn rồi sang Mỹ du học.

THẾ PHONG





KỲ THỨ 21

Tiết 9

QUỐC CHÍNH

Tiểu Sử.

Sinh trưởng ở Thủ Đô và là một chiến sĩ văn nghệ sống trong đại đội 212 đóng ở ven đô Yên Duyên, đang sửa soạn được đưa lên Tây Bắc. Ông tả lại tâm trạng buổi sắp lên đường, như Hà Minh Tuân với Lên mặt trận. Tác phẩm nhỏ bé ấy bắt nguồn từ con đường miền xuôi lên rừng núi Sơn La. Đoạn văn dưới đây, tả tâm trạng anh em chiến sĩ sắp rời miền đồng bằng quen thuộc. Sự ngại ngần của phút lên đường ấy, nhất là mặt trận Tây Bắc là một điều dễ làm nản chí, rừng hiểm trở vô vàn khó khăn với chiến sĩ miền trung châu. Nhưng nhờ tinh thần cao để thắng trở ngại. Tản văn này diễn đạt chưa khéo, ở đoạn đầu tả hoang mang của chiến sĩ chưa xếp vào hệ thống suy cảm tiệm tiến, đoạn cuối điều động được chủ quan định tâm viết thoát và có một kết thúc lập ý cao.

LÊN SƠN LA

Ngày 30–1–47 , Ông tiểu đoàn trưởng Tuần Sơn vừa đổi tới tiểu đoàn 212 đông nam thành phố Hà Nội, hạ lệnh cho toàn thể cán bộ Đại và Trung đến Tiểu đoàn bộ khai hội giới thiệu và ấn định công tác mới. Trưa hôm đó toàn thể đã có mặt tại nhà trong làng Yên Duyên. Đại đội 15 với ông Xuân râu xồm, mặt đen, đeo Chiêu Hòa và mặc áo vét tông tô-pi-can. Đại K với ông Quốc Đảm ngổ ngáo. Đại 16 với ông Trang cao một thước tám mươi, bờ lu dông da và bát Mỹ, các cán bộ trung đội trẻ măng, sừng ngổ, súng lục lệch người tíu tít đùa, họ quên chết ư? Không, nhưng họ thích chết trong trận. Người ta không thể bảo rằng đó là những cán bộ quân đội vừa ở tăng xê sát địch về khai hội; nếu người ta chỉ nghe họ nói chuyện. Thế thật, họ nói chuyện cù Tây, họ chê nhau tử tế quá với các chị cứu thương, họ rủ nhau chết ha ha, đây là những con cưng của thời đại lạnh lùng vẩy súng. Một vài anh già đứng một góc nói chuyện về gia đình nhau; vẫn nhớ đến gia đình chứ có quên đâu – một anh say sưa tuyên bố: “Nhà tớ bị Tây giết hết rồi, có tin chắc chắn mẹ và ba chị em bị cháy thui ở Lò Đúc nhưng tớ giết được bẩy thằng Tây ở Bát Tơ, xét ra vẫn lợi mà độc lập rồi khối người nhận tớ làm con nuôi”.

Khai hội được nửa chừng, giây nói bộ Chỉ huy trung đoàn gọi và hạ lệnh 212 cấp tốc sửa soạn cả tiểu đoàn ngày mai đi Suối Rút. Tin đến như tiếng nổ của quả bom bay; toàn thể hội nghị lặng yên ngơ ngác. Ừ thì giá bảo đổi đi mặt trận phía Tây hay bắc Hà Nội, hay cùng lắm toàn tiểu đội xung phong vào tận thành Cửa Đông không làm cho anh em lạ bằng tin đi Suối Rút. Suối Rút hay suýt ra lắm nhỉ, có lẽ toàn thể chưa ai có đến người họ nào mà ở xa đến thế. Thế nhưng tất cả chỉ là trong hai phút vì bọn này đều quen phớt lạnh cả rồi. Anh tiểu đoàn trưởng lên tiếng:

– Chắc là chúng ta đi Sơn La vì tôi nghe nói trên ấy mặt trận nặng. Các đồng chí không lo đâu tôi ở Sầm Nứa về Sơn La, Sầm Nứa đều tốt cả, hơi độc một tí thôi.

Anh nói thế để anh em yên tâm một chút nhưng chính anh em không lo nữa, đời thằng lính thì những chia ly, những thay đổi, những què quặt cả đến chết chóc nữa có ra mùi gì. Tình thần anh em chắc chỉ là bị giao động mạnh vì tin đi đến đột ngột giữa lúc anh em đang bàn về kế hoạch đánh ở Thủ đô. Khai hội chuyển sang bàn về chuẩn bị đi lại sôi nổi như cũ. Sau khi quyết định xong kế hoạch hội nghị giải tán. Trang và Xuân kéo Quốc Đảm ra một xó, hội qua kinh nghiệm đánh rừng Đông Triều, các trung đội trưởng bàn tán, toàn thể đều lo mà cái lo chung là không biết đánh ử rừng có khó không? Sau đấy họ phân tán về nơi đóng quân, Quốc Đảm còn dặn với:

– Này các cậu nhớ nhé; chớ có bố trí rừng gianh nó đốt thì chết đấy. Mà có người cưỡi ngựa đi chợ thì phải xắt tỏi đầy mũi ngựa nhé, còn các cậu phải ăn tỏi vào hổ nó mới sợ (19).

Họ còn dặn nhau về trữ ký ninh vàng và xin màn.

Bọn đại đội 16 kéo thêm con đê Thanh Trì về vị trí sát địch. Đi trên đê cảnh sông Hồng Hà êm ả, trời về chiều mây vẫn tím, xa xa dãy núi Ba Vì hiện rõ. Họ lặng thinh đi cạnh nhau, mỗi người nặng một ý nghĩ. Anh đại đội trưởng nhìn vê phía thành phố Hà Nội. Hà Nội còn bốc khối, ngày mai anh xa Hà Nội, nơi chôn rau cắt rốn, xa Hà Nội để đi xa lắm; đi về phía Tây Nam Hà Nội tít mù. Anh chỉ dám nghĩ đến thế vì: anh quay lại thấy các trung đội của anh cũng tư lự như luyến tiếc những đống gạch vụn giây máu của Thủ Đô anh dũng, anh phải xua họ lên sự thực một sự thực mà vài giây trước đây anh cũng đã quên. Anh dối lòng một chút:

– Này đồng chí Thanh Tùng, đồng chí có thấy khoái không? Tôi thấy đánh mãi ở một mặt trận cũng buồn, cứ cho đi đây đi đó mãi, mỗi nơi một vài tháng thế mà thú, rồi khối kinh nghiệm, già dặn lên đấy nhé. Mấy lại anh tiểu đoàn trưởng trên ấy về mà khỏe gớm nhỉ?

Bị gọi khỏi cơn mộng, anh trung đội trưởng Thanh Tùng luống cuống mỉm cười mà không đáp. Anh trung đội Tư Hải thắc mắc:

– Anh Trang ạ, sao trên ấy lại lấy 212 đi anh nhỉ, từ Hà Nội lên mặt trận Suối Rút?

Biết ý anh này ngại ngần, anh Trang đánh luôn vào tâm lý ưa phỉnh của tuổi trẻ:

– Ờ thế đồng chí không nhớ là Quốc Phòng chọn cơ mà, chắc là trên ấy nặng nề nên phải đến 212 ra tay chứ.

Từ Hải thích quá, phởn, cười to:

– Vâng, oai thật đấy anh nhỉ, Chính đổi về đại đội 16 mình đấy nhé.

Không muốn để Từ Hải lên điều, anh Trang phá lên cười lấp. Còn anh trung đội trưởng Tuất từ nãy vẫn điềm tĩnh, vốn tính anh điềm tĩnh cười theo.

Sáng hôm sau tiểu đoàn 77 từ hậu tuyến lên thay thế vị trí cho 212. Hai đại đội 11 và 15 đã đi trước về Văn Điển địa điểm tập trung của tiểu đoàn. Đại 16 vì đóng rải rác nhiều làng nên sự đổi chuyển chậm mà nhất là sáng nay bên phía địch có nhiều hoạt động đáng nghi. Đại đội bộ đã sửa soạn xong và đã theo anh chính trị viên về Yên Duyên trước. Máy chữ trên vai, cặp giấy ở tay, những chàng lính bàn giấy học sinh trẻ măng vừa đi vừa hát. Anh em nhờ sự giải thích của anh chính trị viên nên lấy việc đi làm thú, việc gì đã do lệnh trên thì không những anh em phục tùng mà lập tức còn cố tìm cái thú của nó để mà thú cơ mà, anh em thường nói : “Trong cái khổ nào cũng có cái sướng, mà trong cái sướng nào cũng có cái khổ”. Anh em đã được nghe nhiều chuyện về rừng thiêng nước độc, sốt rét, ngã nước… không những thế mà anh em toàn sinh trưởng Thủ đô làm lính Thủ đô, ăn nước máy, ngủ quạt điện, nằm màn tuyn, đến nay tưởng tượng cái cảnh ba năm lính thú… anh em không ngại cho đời sống thay đổi một cách quá nhanh, nhưng trái lại ý nghĩ lớn nhất xâm chiếm đầu óc bọn người trẻ mạnh ấy lại là : cái vinh dự được chọn lọc. Gần chiều toàn Đại 16 lục tục về Văn Điển vào đình làng, ở đây hai đại 14 và 15 đã tập hợp. Các ban nhân sự tới tấp làm việc, tiếng máy chữ rào rào, trong nhà dưới ánh đèn dầu lạc che lờ mờ. Các ban quân khí kiểm điểm súng đạn, phát thêm vũ khí. Các thư ký chạy lung tung lấy danh sách. Đại 16 khéo vào sân ,chỉnh đốn hàng ngũ trong một khu đã dành sẵn. Anh đại đội trưởng kiểm số và báo cáo ông tiểu đoàn trưởng – ông này đăm đăm nét mặt trẻ măng trước đoàn quân, ông bận quá, ngày hôm nay ông không bận nghiên cứu kế hoạch đánh – mà lại bận ký giấy, bận giải quyết việc linh tinh các văn phòng báo cáo và nhất là ông bận giải quyết những báo cáo xin đi. Có những anh gầy béo, khẩu Anh-đô-xi-noa mang trên vai dài chấm gót lạch bạch đuổi theo từ mặt trận về để xin đi Sơn La. Sao họ không sợ Sơn La nhỉ ? Vâng, thưa anh họ không sợ Sơn La thật, vì dù Sơn La hay Văn Bú cũng là đất Việt Nam cơ mà.

– Thưa anh, anh cho cả đại đội đi mà anh nỡ để em lại.

Những người ở lại báo cáo và khóc rơm rớm. Ông tiểu đoàn trưởng trả lời:

– Không đồng chí ạ, lên trên ấy vất vả, núi non hiểm trở, vì vậy phải để đồng chí lại, lên lại ốm thì khổ. Đánh ở Hà Nội cũng thế thôi, quay về đi.

Họ quay về vậy, quay về sau khi lại ôm vài người bạn thân hơn, ngửi để nhớ lấy hơi, hơi yêu quý, hôi hôi thơm thơm của những người bạn trai cùng nằm trong một lỗ đất, họ mở ba lô móc moi tìm lấy mấy viên thuốc lọ dầu tặng kẻ đi xa đường ngược. Họ đổi quần áo bền tốt cho người lên đường, còn họ…

– Thôi mình đổi cả cho cậu bộ quần áo này đây đi rừng đỡ rách nhé, cậu cởi bộ quần áo ra đưa mình ở dưới xuôi không cần.

– Thì cứ cởi ra, về người ta giặt được mà lỵ. Thế là cởi truồng trong góc sân tối để đổi quần áo.

QUỐC CHÍNH

Tiết 10

NGUYỄN XUÂN HÒE

Tiểu Sử.

Cũng là một trong trung đoàn 97. Tác giả tản văn Quà Tết của cô Thảo, đăng trong bích báo Lưỡi Lê xuất bản ở Việt Bắc, nghĩa là sau khi trung đoàn này đổi tên khi lên mặt trận Tây Bắc. Ông tả lại một tình ý ở hậu phương tiếp vận quà cho tinh thần anh em quân đội tiền phương ở mặt trận Sơn La. Ở hậu phương, cô Thảo đề xướng lên cuộc thu góp quà bánh gửi cho anh em bộ đội Sơn La. Tâm trạng cô Thảo, tác giả diễn đạt rất nhẹ nhàng, đôi khi sôi nổi, và lòng yêu thương chiến sĩ vô biên. Sau khi đã thu góp được một số quà, bánh, cô đi mua mảnh lụa “sát si” thêu tặng chiến sĩ.

Trong buổi giao tranh, một chiến sĩ cướp được súng của giặc, được anh đội trưởng trao tặng thêm chiếc khăn tay của cô Thảo. Người chiến sĩ ấy mừng mừng, tủi tủi và cố gắng nguyện chiến đấu hết lòng cho xứ sở. Thì một buổi kia, gã được thưởng chiếc khăn tay cô Thảo bị thương ở tay, vì gã biết chiến đấu hết lòng cho độc lập nên can đảm xung phong vào phòng tuyến địch. Gã bị thương, gã dùng chiếc khăn tay băng bó. Gã thầm nhủ, giá người cho gã khăn tay biết nỗi niềm này !

Một câu truyện rất thường, nhưng Nguyễn Xuân Hòe tả lại qua một bút pháp nghệ thuật chững chạc, từ trạng thái nho nhỏ đến những thái độ tế nhị, rung cảm một chiến sĩ nổi bật hẳn lên khiến cho người đọc vui buồn theo tác giả. Một truyện hay ; linh động của chiến sĩ văn tài năng.

QUÀ TẾT CỦA CÔ THẢO

Năm ngoái, quà Tết của đồng bào Hòa Bình gửi lên Sơn La nhiều quá! Nhất là cái khoản khăn tay thì như bươm bướm vỡ tổ. Thôi thì đủ các hạng cái bằng lụa, cái bằng vải, cái trắng, cái phơn phớt mỡ gà đẹp quá ! Cái nào cũng thêu quanh bốn mép có chữ ở góc. Chữ rằng: “Em thêu tặng chiến sĩ Sơn La”. Nào cô Thu, cô Nguyệt, cô Xói, cô Mai ; nổi quá ! Khi quà tới nơi, anh em trông thấy cái nào cũng muốn lấy. Lại còn thư nữa chứ. Thư chúc Tết vui vẻ. Có cái viết: “em có lời hỏi thăm, em là phụ nữ cứu quốc Hòa Bình… chúc các anh mạnh khỏe để đánh Tây”. Cảm động quá, cảm động nghĩ rơi nước mắt. Lại có cả nữ thi sĩ tặng bài thơ không riêng cho ai tuy có vài chỗ lủng củng nhưng mà ai cũng muốn đọc.

Giận cho cô Thảo quá. Cô ấy thế mà cứ lo sốt vó, sợ quà của mình rơi mất. Quà Tết là ý tình của hậu phương, làm sao đánh rơi ý tình ấy !

Trong cuộc khai hội cuối năm họ tập hợp trong đình Thượng thảo luận về mục gửi quà Tết cho chiến sĩ. Kịch liệt lắm. Cô Thảo có ý kiến:

– Em xin có ý kiến ạ. Nghĩa là anh em bộ đội hy sinh chiến đấu cho Tổ Quốc được hoàn toàn độc lập – Thì chúng ta phải tăng gia sản xuất đoàn kết thân ái. Em xin tặng một chiếc mùi soa và một cân kẹo sừu. Xin có ý kiến thế là hết ạ.

Họ vỗ tay đen đét. Hoan hô sự ủng hộ đầu tiên của cô Thảo. Cuộc thảo luận gay go thêm, kẻ ủng hộ cái nọ, người ủng hộ cái kia. Ai cũng muốn cho quà của mình có thể gọi là khá. Nhưng chẳng biết đâu cô Thảo hứa là làm ngay, để chậm lúc lỡ tập trung quà lại không kịp. Khi giải tán cô mua luôn miếng lụa mỡ gà. Bảo rằng lụa “sát si” hàng “Bôm bay” cơ đấy. Cô ướm thử con chỉ đỏ lên trên. Chao ôi ! sao mà nổi thế ! Nổi như bèo ấy. Cô đem về thêu: “em tặng anh chiến sĩ Sơn La”. Còn tên cô thì thêu to hơn xong đâu vào đấy cô mát cả lòng cả ruột. Hôm hai mươi bảy, tháng chạp có một cuộc mít tinh đông lắm, hơn hai vạn người dự. Quà Tết thu lại được hơn mười bộ kể cả to nhỏ. Trưởng ban tuyên bố kết quả. Họ hoan hô náo nhiệt tệ. Cái đám thanh niên phiền lắm, vỗ tay đôm đốp như đập hộp pháo một lượt. Còn phụ nữ chưa bình đẳng được ở vấn đề vỗ tay. Nghe nó cứ đen đét như pháo tép cả ấy. Trẻ con thì nhộn. Thú vị cứ reo lên a a như đoàn ông kêu. Kín đáo hơn, ông già bà lão tủm tỉm, ý chừng các cự thấy họ đoàn kết với nhau nghĩ tới các con cụ đang chiến đấu thì các cụ thú. Có cười ra tiếng thì cũng hì hì một tí thôi. Quà Tết lên đến Sơn La thì không xảy ra chuyện gì mất mát cả, nhưng xảy ra một chuyện. Trận đánh cuối cùng năm ấy, gã vớ được một khẩu súng của địch. Gã được anh đại đội trưởng thưởng thêm cho một chiếc khăn tay của cô Thảo. Trông thấy nó đẹp và sạch sẽ quá phải chùi tay vào hai bên hông rồi mới dám cầm nhè nhẹ và cảm ơn anh đội trưởng. Chao ôi ! Mùi lụa thơm quá, khiến gã nhớ lại hồi còn nhỏ, mẹ gã may cho gã một chiếc áo mới. Gã tưởng tượng rồi cảm ơn thầm người nào tặng gã chiếc khăn tay. Lòng gã càng thêm phấn khởi. Trong một trận đánh đêm hôm mùng năm. Gã mặc cho đạn bay đạn nổ, xung phong chịu chết. Vì gã biết rằng đồng bào gã đang trông ở tay gã và anh em khác. Nhưng gã bị trúng đạn ở tay. Gã liền buộc bằng cái khăn của cô Thảo. Nếu cô Thảo biết thì sung sướng lắm nhỉ!

Trích từ báo Lưỡi Lê Trung Đoàn 97

NGUYỄN XUÂN HÒE

Tiết 11

AN

Tiểu Sử.

Tác giả tập truyện Bến Tắm Cháy là một chiến sĩ trong một đại đội đóng ở Cổ Vịt. Sinh hoạt của dân tản cư dựng ở khắp nẻo và đây là một hình ảnh của Cổ Vịt. Tác giả rất khéo khi diễn đạt nếp sống dân tản cư, ghi lại được một hình tượng của thời đầu khói lửa, dân cư bỏ làng mạc ra đi: “Trong phố đã có trẻ con mới đẻ. Đã có người già mới chết hàng phố tổ chức đưa đám, khênh đòn tang, viếng hoa. Dân phố đã quen hơi bén tiếng, thân nhau, tạm quên cảnh huống tạm thời”.

Và giặc khủng bố bỏ bom đốt phá. Cảnh tượng của sau giây phút tàn độc ấy, tác giả viết: “Cổ Vịt cháy. Dân phố toán loạn chạy ẩn vào các khe sâu, các khu rừng. Chiều đã nhạt mầu, người ta bước trên đóng tro còn đỏ lửa, than vãn cơ nghiệp bị thiêu hủy, không chạy được một chút gì. Một số người ngược lên Bắc, một số bồng con bế cái ngậm ngùi trở về vùng tạm chiếm…”

Và sự khủng bố của giặc chỉ là hành động nhất thời của một thái độ giội nước đổ lên tổ kiến. Vì sự nhẫn nại chiến đấu âm thầm của dân kháng chiến vẫn xây đắp âm thầm như kiến xây lại tổ: “ Trên đường về chúng đốt Bến Tắm. Lần này dân phố bình tĩnh hơn của cải không mất gì và mấy ngày sau một dãy phố khác lại dựng lên các khoảng đất cũ chừng năm trăm thước xích lại dưới những chòm cây. Đoạn phố mới ngày cứ dài mãi ra, đó thêm những đồng bào không chịu được cảnh áp bức của vùng tạm chiếm chạy lên…”

Sự bi quan của tác giả diễn đạt theo đúng hình ảnh con người hành động, cả theo giác quan. Như khi nói tới hình ảnh số đông đồng bào trở lại vùng tạm chiếm, chứng tỏ rằng tác giả tôn trọng hình ảnh thực tế, không sợ mất lập trường. Nhưng bao giờ chính nghĩa cũng thắng, lẽ bọn vô chính nghĩa là thực dân cướp nước không sớm thì muộn, chúng đều phải trả lại chỗ đứng cho nhược tiểu dân tộc.

BẾN TẮM CHÁY

Khoảng vừa một năm, chợ ở cách đây chừng cây số, trong một khu đồn điền. Chợ Cổ Vịt. Chợ dựng dưới bóng hai hàng thông cổ thụ. Dãy phố rộng thênh thang thẳng tắp. Những gian nhà cỏ xinh, rèm cửa xanh vàng của các tiệm giải khát, hàng hóa, vải lụa bày biện trong những tủ hoặc ngăn kính, dân tản cư lái buôn ở các chợ khác kéo tới tụ họp mua bán, ồn ào, ngựa xe đạp qua lại rộn rịp, gió nhẹ thổi bay tà áo mầu. Trong phố đã có trẻ con mới đẻ. Đã có người già mới chết hàng phố tổ chức đưa đám, khênh đòn tang, viếng hoa. Dân phố đã quen hơn bén tiếng thân nhau, tạm quên cảnh huống trợ thời. Họ rủ nhau gia nhập đoàn thể, làm phòng thông tin, mở lớp học bình dân học vụ, bàn nhau vào ủy ban quản trị. Người ta cố ở chật để nhường nhau một không gian nhà để khi tắt lửa tối đèn có nhau…

Thế rồi giặc tiến đánh, súng moóc chê trên đỉnh núi rót mãi đạn xuống dãy phố. Cổ Vịt cháy. Dân phố toán loạn chạy ẩn vào các khe sâu, các khu rừng. Chiều đã nhạt mầu, người ta kéo ra bước trên đám tro còn đỏ lửa, than vãn cơ nghiệp bị thiêu hủy, không chạy được một chút gì. Một số ngược lên Bắc, một số người bồng con bế cái ngậm ngùi trở về vùng tạm chiếm. “Thôi cũng đành liều”.

Việc gì phải xót xa tiếc của. Thoát được người là quý rồi. Còn người là còn của. Cho nó đốt cho nó phá. Chúng ta làm lại các phố khác lo gì. Nhất quyết theo chính phủ anh chị em ạ.

Mọi người ùa theo. hai tuần sau dân phố Cổ Vịt kéo đến một bên giòng suối. Người ta dựng lại một cái phố thật. Lại vẫn những mái cỏ xinh, rèm cửa xanh vàng. Lại buôn bán náo nhiệt. Rút kinh nghiệm lần trước, đồ đạc hàng hóa đều xếp gọn gàng để dễ chạy Tây. Mặt trận càng ngày càng lan rộng. Giặc lại bị tấn công. Đồng bào được báo trước sơ tán hết đồ đạc. Giặc đánh vùng rặng núi, trên đường về chúng đốt Bến Tắm. Lần này dân phố bình tĩnh hơn; của cải không mất gì và mấy ngày sau, một dãy phố khác lại dựng lên cách khoảng đất cũ chừng năm trăm thước xích lại dưới những chòm cây. Đoạn phố mới, ngày cứ dài mãi ra, đón thêm nhưng đồng bào không chịu được cảnh áp bức vùng tạm chiếm chạy lên. 19 – 8, Dân phố ăn mừng ngày Quốc Khánh. Cờ đỏ rực phố. Một người đương say sưa ôn kỷ niệm cũ. Hai chiếc phi cơ hung hãn chao tới liệng cánh hai ba vòng, trút xuống những băng đạn lửa dài. Bến Tắm cháy. Sáu người chết thiêu, tám người chết đạn, hơn hai chục người bị thương vào quân y viện, bình tĩnh họp mít tinh. Từng toán người vào rừng chặt gỗ xén trụi nhiều khoảng đồi gianh. Đàn ông, đàn bà, cụ già, em bé, vác gỗ về. Dân phố lại làm nhà, lại dựng chợ, đào hầm trú ẩn.

Ngoài đường ran lên những tiếng hát của đàn trẻ.

Người chủ tiệm giải khát treo tấm rèm vào khung cửa sổ tròn, vách đất vừa trát chưa ráo, ngắm nghía mãi màu lụa thiên thanh sóng bên mầu đất đỏ.

– Đời lại tươi!

AN

Tiết 12

LƯU HƯƠNG

Tiểu Sử.

Chiến sĩ văn Lưu Hương, tác giả truyện có hơi liêu trai Một cuộc rút lui thần kỳ, tả một trân giao chiến với Pháp ở Pháp Cổ, Thủy Nguyên, thuộc Liên khu Ba. Lưu Hương tả lại tỷ mỷ cảnh sống của ba nhân vật sống sót chống lại đoàn quân xâm lược trong núi đá vôi miền Thủy Nguyên. Qua mấy đêm trường chống đói, khát, lại lẩn lút. Một trong ba, An bị địch quân bắt được, còn Trung và Phương thoát nạn. Đêm cuối cùng, họ vượt qua sông trở về Thủy Nguyên, bà cụ già, mẹ bộ đội nấu cơm cho họ ăn. Ông diễn tả từng một cử chỉ rất nhỏ của sự xê dịch khó khăn trong cơn hoạn nạn độc nhất vô nhị. Tả sự rét mướt trong hang núi, Lưu Hương ghi lại thật tân kỳ của cảm giác những kẻ là chiến sĩ đã nếm mùi chua chát: “Chợt một cơn gió lạnh ào tới. Tưởng như có thể đánh gập đôi người lại được. Chúng tôi vừa thò lên đỉnh ngọn núi đã biết ngay mình bị lạc lối vì hướng Nam gì mà gió bấc lại đánh thẳng vào mặt. Và từ đấy gió bắt đầu hú từng hồi dài. Có lẽ đã lên cao lắm...”. Lưu Hương nghe tiếng đạn ca nông nhiều quá, đến nỗi ông cho rằng nó đã đánh võng vào tai và phản ứng của tiếng súng chỉ là dỗ một giấc ngủ: “Anh tính đánh nhau suốt ngày đêm, người bị hơi đạn đánh võng làm cho quá mệt. Ai đâm dạn với tiếng ca nông như dạn với tiếng em khóc đêm ở nhà. Ca nông tha hồ mà giã đò bên tai. Quá lắm thì cũng chỉ giật mình chồm dậy một cái, rồi lại nằm vật ngay xuống đánh thông một giấc”. Kinh nghiệm chiến đấu của An, Phương, Trung đã không còn là con lừa khi được vỗ về là báo hiệu thồ nặng, cho nên Lưu Hương đã góp vào kinh nghiệm chiến tranh thêm một định luật mới. Đây là đoạn tác giả tả Pháp và Ngụy binh dụ dỗ.. nếu nhẹ dạ là đưa đến cái chết vô cùng thảm hại: “Chúng tôi nghe rõ tiếng ngụy binh dụ dỗ: lên ngay đi: quan lớn băng bó cho. Đứa nào biết chữ Tây quan lớn cho làm bàn giấy…”. An vốn nóng tính lại vừa bị thương nên máu càng hăng. An chửi vung tí mẹt. Chúng nó chuyển dụ dỗ sang bằng một lô lựu đạn…” (.....) : “Bên ngoài ngụy binh lại càng đãnh mõ giục nhặng củ tỏi “lên đi! Lên ngay đi thì quan lớn tha chết cho. Các quan lớn biết hết rồi. Có ngay lên hay không ? Không quan lớn bắn chết.”

Nhưng kết quả ấy chỉ là một đòn vọt, cho nên ông đã lột mặt nạ của đòn não tủy ấy, mua kinh nghiệm cho anh em bộ đội chiến đấu: "cứ đứng ngoài chõ mõm vào cửa hang sủa nhặng thế thôi. Y như nó đã đánh hơi thấy mình”.

Khát nước đến nỗi phải đái cho nhau uống. Lưu Hương đưa chúng ta đến đoạn đời đấu tranh đau khổ tột độ, nhưng lý tưởng chiến đấu vẫn bừng lên khi hành động. Và nhu cầu vật chất đòi hỏi chỉ còn là phương tiện:

“Vậy trước khi leo lên, hẵng lam một cốc bia cho bốc máu. Trung đứng ì ạch như xi em, khốn nỗi chỉ lách tách được vài giọt. Vì khát đã mấy ngày giời rồi còn đâu nữa mà xi. Tôi san cho Trung tạm gọi là được nửa cốc”.

Và hành động cuối cùng đầy nước mắt mừng của tình quân dân nhất trí chống xâm lăng… và hình ảnh nào đẹp hơn là một bà cụ già nước mắt ràn rụa tưởng hai người bộ đội du kích đã chết; mà đêm nay còn được nghe tiếng họ gọi cửa. Rồi một phút, cầm ngay chiếc rá vo gạo nấu cơm cho họ ăn. Một cuộc rút lui thần kỳ của Lưu Hương viết như hơi văn Liêu trai; nhưng là một tập truyện vô cùng cảm động, đề cao lòng chiến đấu. Và còn là một kinh nghiệm chiến đấu với địch, một tỷ dụ của mức độ chịu đựng gian lao khi mắc nạn, cố gắng tạo hoàn cảnh nguy nan thành chiến thắng.

MỘT CUỘC RÚT LUI THẦN KỲ

(…) Chúng tôi vừa ra đến cửa hang. Một cơn gió lạnh thun thút luồn sau lưng. Tôi run lẩy bẩy đứng không vững. Mắt hoa lên vì ánh lửa chập chờn dưới chân núi. Nhưng rồi… chúng tôi cũng phải rón rén đi như làm việc. Bàn chân dò từng mô đá. Lần lần sang vách khác, bám cho chắc rồi mới dám đặt bước chân. Đứt liên lạc phen này thì thật chết. sau tôi chỉ còn có Trung chạy đèn đỏ. Chúng tôi là những người ở lại cuối cùng để bắn cầm canh ra ngoài hang. Phe yểm hộ cho anh em rút trước. Tôi rảo bước để cố đuổi kịp anh em. Lắm lúc chân bước hẫng một cái, tôi tưởng chừng người đến lao ngay xuống chân núi. Chợt tôi ôm chầm ngay lấy cái bóng đen. Thì trán tôi va đánh bốp một cái. Úi giời! Bẩy đom đóm mắt. Tôi ôm ghì lấy đá không thì đến lăn xuống núi mất.

Chỉ tại cậu Trung đi chậm quá. Một hòn đá lăn bong bong xuống núi. Thế là chúng nó bắn lên như mưa. Chúng tôi phải dán người vào vách đá. Đạn đi vun vút bên ngoài. Nhưng cái nghiệp chó nhà Thằng Lõ bao giờ cũng thế. Chỉ được cái dọa anh em thì mả lắm. Tôi đương đợi cho yên yên, Trung đã chộp được áo tôi. Anh chàng mừng quýnh. Chúng tôi cùng mò mẫm đi. Đá bắt đầu nổ lanh tanh dưới chân. Nghe đương vui tai thì có tiếng gọi trên đầu, không biết là anh chàng Trung đi thế nào lại ngồi được chòm chõm trên vách đầu vách đá tôi. Trung loay hoay không xuống được tôi phải đứng tựa vào vách đá, làm thang cho Trung xuống. Anh chàng vừa tụt xuống thì lại thấy một bàn chân đạp xuống đầu tôi. Lại cả An nữa kìa. An không quên đưa cả báng súng vào đầu tôi. Hự một cái. Nhưng gặp được An thôi thế là hết cả đau, thêm An đường đi sẽ gần lại. Chúng tôi leo. Người nóng đến bốc khói. Chợt một cơn gió lạnh ào tới. Tưởng như có thể đánh gập đôi người lại được. Chúng tôi vừa thò lên đỉnh ngọn núi đã biết ngay mình lạc lối: vì hướng Nam gì mà gió Bấc lại đánh thẳng vào mặt. Và từ đây gió bắt đầu hú từng hồi dài. Có lẽ đã lên cao lắm.

Sương xuống mênh mang. Một vài tiếng gà gáy dưới làng. Đạn phuy-dê bắt đầu vùn vụt lên đỏ lóe mắt. Rồi trọng pháo cũng gầm gừ từ phía đồn Mao Khê, Đông Triều và tận nơi nào xa lắm. Luồng đạn nó đi khoan gió vo vo. Tiếng nổ ầm ầm trong núi. Ca nông đến ngày thứ ba trong nắng sớm là đã không thành chuyện đối với chúng tôi. Anh tính, đánh nhau suốt ngày đêm, người bị hơi đạn đánh võng làm cho quá mệt. Tai đâm dạn với tiếng ca nông như dạn với em khóc đêm ở nhà. Ca nông tha hồ mà giã giò bên tai. Quá lắm thì cũng chỉ giật mình chồm dậy một cái rồi lại nằm vật ngay xuống, đánh thông một giấc. Bao giờ đến tua mình phải ra bố trí mới chịu dậy. Nhưng An và Trung thì mặc cho pháo lay trong núi. Xương muối tha hồ xuống đẫm người. Tiếng nổ vừa dứt đã thấy hai cậu ấy ngáy vo vo. Ngày đã hửng hửng lên. Sương càng mù mịt. Tôi đang thiu thỉu chợt giật mình. Tai áp ngay xuống sườn đá. Mỗi lúc một rõ tiếng giầy đinh. “Nó lên đến nơi rồi”. Tôi dựng ngay cổ An và Trung dậy. Đồng thời vơ luôn mấy khẩu súng rồi tuột ngay xuống vách đá. Còn xót lại ruột bao đạn, tôi vừa thò tay ra chưa kịp thì một thằng đen chùi chũi đã đứng ngay trước miệng súng của tôi. Nó đưa môi mắt trắng nhã nhìn quanh quẩn, chợt trông thấy bao đạn liền hô hoán ầm lên. Tôi lên đạn nó quay lại. Một phát hất nó lộn ra ngoài và tôi nhớ là lúc đó, người tuột xuống, tôi không còn biết gì nữa. Tôi nằm ép người đợi khói lựu đạn tan dần mới nhận ra An rên. Tôi ấn vội An vào một ngách đá. Trung kéo tôi lần vào sâu. Chúng tôi nghe rõ tiếng ngụy binh dụ dỗ: "Lên ngay, lên ngay đi! Quan lớn băng bó cho. Đứa nào biết chữ tây quan lớn cho làm bàn giấy”. An vốn tính nóng, lại vừa bị thương, nên máu càng hăng. An chửi vung tí mẹt? Chúng nó chuyển ngay sang dụ dỗ bằng một lô lựu đạn. Nếu đứng dưới mà chiến đấu thì thế nào cũng ăn lựu đạn của chúng nó. Tôi và Trung đành lên sâu vào ngách ngang, nằm gục đầu cổ thở qua lần vải áo. Trong vách chính đã bụi mù. Súng máy nổ ầm ầm. Hai thằng lõ và một thằng đen đã tụt xuống từ lúc nào. Giầy đinh kéo lạo xạo. Đá hất loảng soảng. Súng lục nổ dương đông kích tây luôn tay. Mồm chúng nó thét oang oang. Những khẩu súng” bát” cầm trong tay lại thi nhau không bắn mà cứ lẩy bẩy. Chúng tôi nằm trong ngách ngang không phải lo chết lại còn được một mẻ nhịn cười đến đứt hơi. Thật là đúng điệu bộ khí phách của những ông tướng Đại Pháp nhưng mà đi đôi với Đại Rát.

Cách chúng nó chừng hơn một sải tay, miệng súng của tôi đã đặt vào bụng một thằng. Tôi cho một viên "mút" nhẩy khe khẽ lên nòng. Trung gạt súng tôi ra cản lại. Tôi do dự vừa lúc một băng “tôm son” choảng vào loảng soảng. Trung đã vội vuốt mặt, vuốt tay xem có thấy máu. Chúng tôi nhìn nhau, lắc đầu cười. Đành phải lùi sang ngang nữa, tít tận vào trong vậy. Bên ngoài ngụy lại đánh mõ dục nhặng củ tỏi: "Lên đi, lên ngay đi thì quan lớn tha chết cho. Các quan lớn biết hết rồi. Có lên, có lên ngay không? Không quan lớn bắn chết”. Thêm vào đấy tiếng chửi của An toáng lên. An bị bắt rồi. Tiếng chúng nó đánh An huỳnh huỵch. Vẫn chỉ “có một mình bố mầy đó thôi thằng nào có giỏi cứ việc xuống”. Lúc đó tôi và Trung hai đứa sôi người lên được. Làm thế nào để cứu An ngay. Đã rơi vào tay của chúng nó thì thế nào cũng phải chết. Bàn chỉ còn cách bắt chợt lẻn ra ngoài bắn lung tung cho chúng nó toán loạn. Lợi dụng lúc đó để cứu An… Nhưng mà ai cõng An chạy trên núi này được?

Chúng tôi nằm bàn mãi cho đến khi trong hang đã tối hẳn. Đến lúc phải quyết định mở ra. Khỏi vừa hang, tôi trượt chân ngã, đèn bin bật tứ tung. Chúng nó đuổi mãi cho đến khi đèn chiếu lệch về hướng khác. Đạn cũng ngừng rít trên đầu. Trung mới níu tôi lại, ngồi phệt xuống, kêu khát và đòi nghỉ. Tôi phải cương quyết xách Trung dậy. Mới đi vài bước ngoảnh lại đã mất hút, không thấy Trung đâu. Đương bực mình vì phải lộn lại, giận không để đâu cho hết, tôi nghe thấy tiếng Trung đánh tiếng khe khẽ "Lại đây mà giải khát Phương ơi!". Tôi lò mò lại tìm. Trung đứng loay hoay nhét khăn mặt vào các khẽ đá để hút lấy nước. Rồi Trung vắt khăn ngửa mãi mồm ra hứng. Tôi không nỡ trách Trung nữa. Nhưng tôi giục càng gắt, phải sớm ra khỏi khe núi sớm được giờ này hay giờ ấy. Trung rủ tôi tha thiết quá. Tôi theo Trung đi ngắt những búp bong bóng đọng nước. Lang bạt hết khóm này lần sang khóm khác. Trong đêm tối chỉ còn nghe tiếng mút chùn chụt mà theo nhau. Gà chợt gáy dưới làng… Thôi chết. Sáng mất rồi. Chân tôi muốn chạy nhưng bước đi không vững. Đói lả người. Đúng như chúng tôi đã rút kinh nghiệm, mới sáng bảnh mắt ngụy binh đã nheo nhéo dưới chân: "Ra đi các quan lớn biết hết rồi. A! nó kia kìa! Có ra ngay không? Không, quan lớn bắn chết”. Cứ đứng ngoài chõ mõm vào cửa hang sủa nhắng thế thôi. Y như nó đã đánh hơi thấy mình mồn một. Chỉ còn có đợi mình. Anh nào non gan chui ra là hết đời. Nhưng được cái anh em “Lê Lợi” chúng tôi, chúng tôi đã đi guốc vào trong bụng chúng nó. Tôi ngồi nghĩ bụng: “Chúng mày còn đứng chõ mõm vào hang mà sủa, chứ chúng ông đã vắt chân lên cổ chúng mày”.

Thật là bảnh chọe trên một gốc si rậm, tận đỉnh vách thành cao hơn đầu Tây hai mươi thước. Cởi thắt lưng, cởi giải rút, xé quần, thôi thì tìm đủ các thứ giây để co cành si lại mà phủ kín lấy người. Thế là cứ yên chí ngồi bình chân như vại. Chỉ có cái “xuỵt” cấm nói. Nói là chó đen, chó vàng nó sủa ầm lên thì hết đường. Tôi và Trung ngồi: còn thêm một việc. Hết đưa súng lên ngắm từ cái đầu, những bộ ngực phanh trần đến cái lưng nhánh mồ hôi: rồi lại hạ súng xuống nhìn nhau đồng ý: “Đếch vào”. Để dành ra ngoài hãy hay. Ông với chúng mày còn gặp nhau nhiều. Phởn lên bây giờ thì hết đời đấy. Bên dưới chúng nó sủa chán ngồi nghiến răng nghiến lưỡi, bắn liên miên vào hang. Bắn cho tiếng súng quan nghe, rồi nháy nhau chuồn thẳng. Chúng nó đi khỏi. Chúng tôi hết trò để mà quên. Ngồi rảnh y như rằng lại khát. Sao mà khát khổ khát sở đến thế này. “Mẹ kiếp”. Giá lúc nãy có lấy nước ao, nước cống!

Ngưng chúng tôi đã chịu ngay thế nào? Để cho cu Trung cứ lèo nhèo mãi, anh em cũng lấy làm khổ tâm lắm. Phải cho chú mình cùng đi giải khát một cái mấy được.

– Này Trung ơi! Cứ theo bà cụ mình ra bến ô tô thì được một đôi giầy da láng oai ra phết. Mà chưa biết chừng có cả cốc kem hai xu. Thế mà mình nhất định không thèm đi: chỉ đòi nằng nặc một đôi guốc mộc. Cậu có biết để làm gì không? Để vào Đảng, mà điều kiện tối thiểu ngoài can trường không sợ đội xếp ra, còn phải có một đôi guốc mộc. Thế thì hai giờ vào lớp chiều. Mười hai giờ đã tụ tập ở bãi sân để phát động giờ: liệng guốc lên rào rào đấy. Cứ biết thằng nào thằng nấy tọng đầy cặp và hai túi. Để hôm nào vô phúc giữa giờ giảng bài. Anh em đương rì rào chia nhau thì ông giáo tóm ngay được dưới gậm bàn: một dĩa muối ớt toàn những là me xấu.

Thế rồi từng lúc chúng tôi xuỵt xoạt nhau im để được cười một mẻ như xì hơi bánh xe đạp. Trung cũng hứng lên kể huyên thuyên những chuyện giải khát đâu đâu. Trung đang vui nhộn. Nhưng Trung đã ỉu ngay: “Anh Phương ơi lấy đâu được ngụm nước bây giờ?” Thế là cái ỉu của Trung lép xẹp câu truyện. Thì lại khát. Từ đấy chẳng còn buồn nhìn nhau. Khôn một ai muốn nói nữa. Cái tình trạng bi đát kéo dài cho đến khi Trung quay lại xin tôi một mảnh giấy. Trung quấn thành một cái phễu. Tưởng để làm gì? Tôi không ngờ là để hứng nước… nước tiểu. Rồi Trung đưa lên một hớp. Hết. Vẻ mặt ngon lành như vừa nốc xong một cốc bia. Tôi nhìn Trung mà sợ. Không nhanh lên khéo Trung ăn cỏ mất. Rồi đêm lại đến… thêm một đêm nữa để đi. Mà đêm nào chúng tôi cũng nhủ thầm đêm nay phải vượt bằng được cái hình lờ mờ của chóp núi trước mặt kia! Nhưng đã mấy đêm và mấy ngày không được ngủ rồi. Chóp núi như lảng mãi ra để không bao giờ chúng tôi tới được. Vẫn phải leo thôi. Cỡ nào cũng leo. Giời rét căm mà mồ hôi lúc nào cũng đẫm áo. Ba lần chăn bọc bàn chân đã bương hết. Sương đêm thấm vào các kẽ lỗ, buốt đến nổi chưa đặt bước xuống đã muốn co rụt ngay cẳng lại. Đêm thứ ba chúng tôi đi được rất ít đã phải mò lên gốc si. Rét; đói khát, mà leo mãi, tôi và Trung đã kiệt sức. Hết nằm co quắp lấy nhau lại nhổm dậy, chúng tôi ngồi bên nhau. Gió cứ vạch cổ áo ra để bỏ tọt từng mảng nước đá xuống lưng. Rét chẳng ngủ được. Suốt đêm chỉ lục cục bàn tính. Cuối cùng, tôi và Trung đồng ý: xé ống quần ra lau súng cẩn thận. Để mai đợi chúng nó đến thật đông, bắn cho thật hả một trận cuối cùng. “Nhất định mai cứ thế chứ?” – “Thì còn làm hơn thế nào hơn được nữa?”.

Tôi còn nhỏm dậy hỏi Trung một lần cuối cùng trước khi nằm úp thìa vào lưng Trung. Rét quá. Không sao ngủ được. Tôi xoay người Trung cũng phải xoay. Mãi sau tối cố nằm im để Trung ngủ, Trung mới rón rén nhổm dậy để phủ chiếc áo trấn thủ lên đầu tôi, thật nhè nhẹ.

Tôi thú thực là đã bao nhiêu năm nay, những ngày sống ngang dọc trên bến Bình Đông. Lúc này tôi mới tin là mình còn nước mắt. Trung nhắc đến bao nhiêu tên bạn: “không biết lúc này các cậu ấy đâu rồi nhỉ?” Những kỷ niệm thú vị trong những buổi đi tìm Tây để đánh, Trung nhắc nhở liên miên: đến bà mẹ già hiền hậu, các em những thằng cháu nhỏ ở nhà. Những ngày cả huyện Thủy Nguyên kéo đo đào hàng mấy chục cây số đường giao thông hào. Ca nông vẫn nổ ầm bên kia sông. Hải Phòng… và những ngày mùa trên cánh đồng Thủy Nguyên, thi nhau đập lúa với các chị ấy. Nhất là những đôi mắt một mí, cái mũi dọc dừa của đất Thủy Nguyên thật là tuyệt vời!

Trung gợi lên cả một cuộc đời hoạt động nho nhỏ ngày ấy. Mới đầu thì tôi còn thấy buồn buồn, sau đâm ra sốt ruột, sốt ruột đến điên người lên đi được. Tôi kéo phăng Trung đứng lên. Nhưng đêm đã về sáng. Tôi và Trung đành phải sửa soạn. Súng gác lên cành si. Bao đạn để ngỏ. Và rung đùi ngồi đợi. Rung đùi đây không phải là ung dung. Rung đùi vì rét quá. Trung còn phải nhét rẻ đầy mồm, nhưng anh chàng vẫn ho lục cục trong cổ như con gà sống thiến. Nhưng, thật là phúc bẩy đời cho những thằng định lên đây hôm nay. Hai viên đạn mới nhất. À quên bốn viên cơ đấy. Vì đạn của anh em lâu ngày dầm mưa cũng nghi lắm. Bốn viên mới nhất mà tôi và Trung đã dặn nhau để cuối cùng: một hai… ba là cùng đoàng vào nhau. Tôi và Trung đành phải ôm hận bỏ chúng nó vào bao vậy. Thì ra đêm hôm trước chúng tôi đã mò gần đến chân vách của thành ngọn núi cuối cùng trước rồi mà không biết. Đến nay là đêm thứ tư. Còn một mẩu đường thì đến chân vách thành đã nhìn thấy rõ. Nhưng chúng tôi nằm ì ra không thiết gì nữa. May mà còn có hai đứa đi với nhau, hễ thấy nhau nằm ì ra lâu quá, y như rằng thế nào thằng nọ cũng nhỏm lên lôi cổ thằng kia dậy. Trung nhìn lên vách thành dựng đứng cao vút. Trung nắn bắp chân tay. Chúng tôi nhìn nhau cùng lắc đầu. Nhưng lại nghĩ đến bên kia là Trại Sơn, Pháp Cổ, là Bảng Trình và Thủy Nguyên. Là sống rồi, thế thì nhất định phải leo. Chúng tôi cảm thấy người bừng mạnh hẳn lên. Hoặc là sẽ lăn xuống chân núi cho nó chết hẳn đi. Nếu vượt được thì phải sống mãi. Để phen này về, nhất định diệt chúng nó ngay trong làng. Không bao giờ còn dại dột kéo nhau sang cái dãy núi đá khát chết người này nữa. Vậy trước khi leo, hẵng làm một cốc bia cho bốc máu. Trung đứng ì ạch như xi em, khốn nỗi chỉ lách tách được vài giọt. Vì khát đã mấy ngày rồi còn đâu nữa mà xi. Tôi san cho Trung tạm gọi là nửa cốc. Rồi người đã ấm áp tôi bắt đầu bám rễ xi lên trước, còn không quên ngoái cổ lại dặn Trung phải chịn mặt nhìn thẳng vào vách đá mà leo. Nhì xuống hoặc nhìn lên thì thế nào cũng toi mạng đấy. Thế rồi hai chân bấu vào vách đá, tôi với tay lên rễ si. Đây là lời Trung sau khi chúng tôi thoát cái trận gian lao này.

Tôi nghe thấy tiếng rễ cây bật trên đầu và tiếng kêu của Phương. Tôi biết mình chết đến nơi. Rồi sao mà lâu quá. Mãi chưa thất tới đất. Tôi mở mắt lơ mơ tỉnh. Xương sườn như gãy hết, tôi không dám sờ vào. Cũng không dám nhúc nhích không tin là mình còn sống thật. Một lúc lâu định thần rồi tôi mới biết mình đang nằm giữa một cây bòng bong. Và không biết đã từ lâu chưa, tiếng Phương gọi vẳng xuống. Tôi trả lời là còn sống nhưng đã gãy hết xương rồi. Không lên không xuống không đi đâu được nữa bụng thì nghĩ thế, nhưng đến khi Phương thúc: “Cố lên đến nơi” tôi lại thấy mình còn muốn sống quá. Tôi nhỏm ngay dậy, bám rễ si leo lên. Đến lúc hoa cả mắt tay sắp buông ra, lại thấy tiếng Phương thúc: “Cố lên, đưa tay đây” và “mấy lần cố lên, cố lên đưa tay đây” cho đến khi đưa nắm được Phương thật rồi. Tôi chẳng thấy Tây nào cả. Chúng tôi ôm lấy nhau. không còn biết nói thế nào. Mà sung sướng bao nhiêu, không còn thấy rét hay khát nữa. Dưới kia là Trại Sơn, là Pháp Cổ, là Bảng Trình và con đường chạy về Thủy Nguyên. Lách qua vị trí chúng nó thì thường lắm rồi, chúng tôi tự thấy mình không còn đủ sức để bơi. Vậy chỉ còn một việc là tìm cách sang sông. Thật là cái số chúng tôi chưa đến ngày tận, nên chiều hôm đó, nước lũ đánh rạt ở đâu về một chiếc nan.

Cả buổi chiều thấp thỏm ngồi đợi. Lắm lúc giật mình thon thót. Vì chúng nó thỉnh thoảng lại thập thò kéo nhau ra khỏi đồn điền Phúc Lai. Chỉ sợ chó chúng nó đánh hơi thấy có chiếc nan mang rạt về. Nhưng cũng là may suốt ngày chỉ có xe tăng lên xuống ầm ầm dốc đồn Pháp Cổ. Đêm hôm đó, dùng cành cây héo nan chúng tôi qua được sông Kinh Thầy tương đối cũng dễ dàng. Rồi vượt nổi khỏi vòng vây cuối cùng, chúng tôi vịn vào nhau lội bì bõm dưới ruộng. Hai đứa cùng có một cảm giác lạ lùng thật là đúng hai anh Mán lảo đảo về xuôi. Chúng tôi bị lạc trong hang Trại Sơn mãi đến quá nửa đêm mới đến nhà. Bà lão thấy tiếng gọi quen. Gióng ngái ngủ đưa ra: “Anh Trung ấy à. Để lão mở”. Nhưng đã xách đèn ra soi tận nơi vào mặt, bà lão ngơ ngác:

– Bà lão hỏi thế này không phải. Hai anh có phải là anh Trung anh Phương người Thủy Nguyên không?

– Vâng đúng là chúng con đây ạ. Con là Trung mà cụ vẫn lùi khoai cho con ăn đấy mà.

Hai hàm răng móm mém. Im lặng bà mẹ già của du kích Thủy Nguyên chúng tôi cặp rá lập cập lần xuống bếp.

LƯU HƯƠNG

Tiết 13

MINH TIỆP

Tiểu Sử.

Chiến sĩ Minh Tiệp nổi danh một thời khi thi bản Bức tranh sinh hoạt của ông ra mắt anh em bộ đội. Tả lại sinh hoạt đội, hòa nhịp với đời sống dân chúng, khi sống và tranh đấu trong kháng chiến tả lại qua thi bản trên, bùng bừng một sinh khí mới trong lứa trai vào thời khói lửa. Cách diễn tả dung dị, nhạc điệu rồi rào, tư tưởng thoát, lập ý cao. Lại còn phản ảnh nhân bản tính với người đồng chủng, ngoài ra vũ trụ tính “vạn vật nhất thể” rất thơ. Ông là một chiến sĩ thi có tài vượt bực.

BỨC TRANH SINH HOẠT

Trung đội anh đóng bên bờ suối trong

Gió núi mênh mông rạo rực lòng

Xóm xa

Rừng rậm!

Đình trơ vơ đứng trên đồi nắng

Vùm che hai chục mái đầu xanh

Cây lũy,

Tre thành!

Giường kê cánh cửa

Bàn ăn lát nứa

Câu đối dán đè khẩu hiệu xinh xinh

Thương dân nhà chật chội

Bạn anh đóng ở đình,

Chẳng tu cũng cơm muối

Cô gái Mán thương tình

– Biếu anh dẫy sắn để dành trên nương

Đây cái giếng mới đào

Cầu ván ghép thanh tao

Nước trong xanh leo lẻo

Sỏi rải lối đi vào

Vường hoang anh phá làm ba luống

Vọng gác làm cao vút mấy lèo

Đây chẳng tiện nuôi heo

Công đâu mà cám bèo!

Anh nuôi đàn mái ghẹ

Lúa mùa rụng tung tóe

Thả một lúc đầy diều

Lớn mau như người thổi

– Bao giờ xong hội “đua ganh

Gà quay một bữa thết anh tiệc mừng”

Mấy hôm liền đi rừng

Lấy cây mai cây trúc

Mũ nan đan vài chục

Anh em tạm đủ dùng

Áo anh đan sợi chỉ tay

Tùm xanh tùm tía như cây trên rừng.

Thằng Tây có mắt như bưng

Đố mày biết được cây rừng hay tao!

Mái đình nâu mục thủng

Tường xiêu cột lao đao

Dô ta anh em ơi mau dựng

Phên nứa chăng lên chắn gió vào

Chim ơi mày ở nơi nào?

Ví không có tổ thì vào ở chung

Đình hoang mấy độ thôi hương khói

Giờ hửng đôi chiều ngọn lửa rung

Hành lang mờ vết chân in lối

Nay ngự nghênh ngang súng mấy từng!

Anh từ đâu qua đâu mở hội?

Chờ giặc lên sương máu mở ăn mừng!

Tôi vun đàn gà ri

Tôi vun vườn rau cải

Bao giờ đông đến thu đi

Rau kia tôi hái gà ri làm lòng

Bữa cơm đoàn kết tôi mong

Bà con đến dự cho đông đình này.

Mong đêm mong tháng mong ngày

Mong mùa đông tới cho Tây nhảy dù

Cho tôi thực hiện thi đua

Băm vằm xác giặc, tắm mưa máu thù.

Này giặc đói, giặc thiếu

Này giặc ốm, giặc xâm lăng

Cha cha, vạn, ức, triệu!

Bao vây mình hung hăng!

Anh ơi! Tôi vẫn ngang tàng

Tôi bắn, tôi cuốc, tôi đan, tôi trồng.

Tôi ăn quả chín, tôi uống nước trong

Phên đan che lạnh gió đông thổi về

Rừng rung cây lá hoa muôn thuở

Chim hát vang vang nhạc vạn đời

Hàm răng cầm cập cơn sốt rét

Chăn gối, đèo cao, vắt, muỗi ruồi.

Nứa xanh tôi chặt làm nồi

Cành giang tôi vót làm đôi đũa ngà

Anh ơi! Tôi đóng ở đây

Phá hoang tập luyện chờ ngày giặc lên

Thi đua tôi quyết nêu tên

Cho vui trung đội, cho yên dạ này

Đêm đêm súng chẳng rời tay

Ngày ngày dao cuốc không giây phút rời

Giữ căn cứ địa làm nơi

Ngàn năm ghi mãi mẩu đời đấu tranh.

10 – 1948

MINH TIỆP

Tiết 14

Em PHÙNG

Tiểu Sử.

Gộp công vào kháng chiến, không phân biệt trẻ già, trai gái, em Phùng là Thiếu sinh quân chiến đấu bên cạnh các anh thanh niên, các chị phụ nữ.

Một Em Ngọc của Nguyễn Trinh Cơ là một mẫu người anh hùng hôm nay và ngày mai. Ở đây, một Phùng còn là thi sĩ ghi lại sinh hoạt trong "Bước đường công tác". Diễn đạt cuộc sống chiến đấu; đưa vào thơ, lối thơ ghi linh hoạt, sôi động (poème cinématographique); Minh Tiệp, Phùng đã thành công. Đọc bài thơ dưới đây để hiểu, cảm thông những bước chân bé nhỏ dắn dỏi lội khắp đồi, núi đất nước trong thời kỳ kháng chiến, mà đáng lẽ trong thời bình, họ là học sinh cắp sách đến trường. Khả năng thơ ở bước đầu đã vững; hẳn rằng thiên tài không chờ tuổi ở Phùng.

BƯỚC ĐƯỜNG CÔNG TÁC

Lời ai còn nhớ mãi

Lời ai còn bên tai

Lời ai còn vang dậy khúc đường dài

Lời ai khiến ta thêm dai nhịp bước

Tầu qua Yên Bái

Tầu đến Lào Cai

Rồi đỗ lại

Ồ kìa biên giới

Cờ hồng bay phấp phới

Ai đi Phố Lu

Ai rẽ Bắc Hà

Làm ơn nhắn hộ ta

Hỏi thăm đoàn Thiếu Sinh Quân

Qua Bắc Hà công tác

Đường Bắc Hà lác đác

Có bóng đoàn ta

Ngựa thồ đi xa

Rồi đến đoàn ta đều bước

Ai lên Mường Khương trước

Ai đã tới Cổng Giời

Nhắn hộ tôi

Rằng: Đoàn Thiếu Sinh Quân ngồi đợi

Hãy chờ tôi với

Hãy cho tôi theo cùng

Đoàn quân bé nhỏ oai hùng

Bước đi mạnh dạn chập chùng đồi nương

Trích báo Vệ Quốc Em Khu X

Em PHÙNG

Tiết 15

HÀ KHANG

Tiểu Sử.

Hà Khang là chiến sĩ văn Liên khu Bốn, phụ trách đặc biệt ở mạn Bình Trị Thiên. Tác giả nhiều thi bản mầu sắc địa phương, khiến chúng tôi nhớ đến Bùi Hiển ở ngày kháng chiến vừa nhận định ở trên, văn thơ là đoạn phim đời. Ở đây Hà Khang đã góp: "Có một mùa chiêm". Tả cảnh chiến đấu của người có bổn phận gìn giữ từng thước đất, từng ngọn lúa vàng khỏi rơi vào tay địch; được Hà Khang đưa vào thơ vô cùng linh diệu. Thơ Hà Khang mạnh, ý mới, kĩ thuật bình dị, nhưng không vì thế mà sơ sài.

CÓ MỘT MÙA CHIÊM

Rằng nghe Bình Trị Thiên

Mùa chiêm toàn lính gặt

Bữa cơm vội bên đèn

Ngờ ăn lầm máu giặc

Nắng đỏ chiều sông Gianh

Xương lam xa, màu lành núi Ngự

Lúa chiêm thơm làng tê xóm nớ

Lúa chiêm thơm mát nẻo sao rừng

Những đồng chí Đàng trong

Gặt xong bị đột kích

Đến sớm mai về, hai vai áo rách

Tôi làm lính Thanh

Điểm giờ đổi canh

Trao lại bạn đủ từng thước đất

– Đây có mùa chiêm lúa chín bồng bềnh

Ngoài khơi súng giặc bâng quơ tiếng

Người lính Thanh

Áo phanh trên bãi biển

Quỳ hai chân bên sóng mái đại đao

Biển Sơn bọt trắng cù lao

Hòn nọ vườn dao sóng biếc

Lắm kẻ đến nay ưa chém giết

Như Bình Trị Thiên

Có một mùa chiêm

Tiêu diệt địch ngay trên ruộng lúa

Con cháu ngày sau

Thấy đề trong sử sách

Có một mùa chiêm máu đọng đen ngòm

Chê hôi tanh bò để cỏ xanh um

Đôi bóng lính thay canh trên ruộng lúa

Chân vấp phải đầu lâu bên dứa dại

Mùa chiêm 1948

HÀ KHANG

Tiết 16

SIÊU HẢI

Tiểu Sử.

Tên thật Nguyễn Siêu Hải, sinh 1926, nguyên quán Hà Nội. Đã xuất bản Voi Đi (1949)...

Tác giả Voi Đi, ghi lại câu chuyện sự khó nhọc chuyển vận khí giới. Một câu chuyện không có gì mới, nhưng sự diễn tả và sống động trong cảnh chuyển vận được ghi lại thật linh động tuyệt độ cao của một trong những truyện kháng chiến hay "Voi Đi"; Bàn Tay Đình Quang, hoặc Một truyện rút lui thần kỳ của Lưu Hương

Qua các làng anh em chuyển vận khí giới khi mệt thì nghỉ chân. Nhưng phải bọc kín khí giới để tránh sự nhòm ngó, e lộ bí mật quân sự. Rồi anh em bèn nghĩ ra cách mượn trâu để kéo. Một bà chủ nhận lời ngay vì có con trâu bất kham. Khí giới đưa đến địa điểm, người dắt trâu ăn được mới một bữa cơm (một bữa cơm đàng hoàng nhất của bộ đội), ấy thế mà người lao động vẫn kêu. Tác giả dùng thể so sánh chưa thịnh soạn, báo hiệu cho người đọc nhìn thấy khía cạnh khổ ở độ cực kỳ khổ của bộ đội. Thêm vào đây, tác giả còn cho độc giả biết thêm vì quá khổ, ăn đói; nên anh em lao công kia phải đi ăn thêm trả chó, trước khi về.

Thái độ nho nhỏ như thế được Siêu Hải đưa vào trang văn, tỏ ra là chiến sĩ văn biết quan sát và quan sát sâu sắc. Thái độ chữa bệnh sầy da của trâu kéo khí giới, chữa bằng phân trâu non của chính nó, mua kinh nghiệm cho những ai chưa biết và với những người đã sống thực hành môn thuốc đó cảm thấy phục tác giả. Nhận xét về thái độ, rung cảm, phản ứng của sự ngỡ ngàng khi thấy anh em khiêng súng; tác giả cho người đọc nhìn thấy nếp sống của mỗi người nông thôn nhìn khác nhau. Chẳng hạn với anh thợ mộc sống khôn ngoan hơn cho rằng là bộ đội đi làm cầu đường. Người nông dân khác cho là một bộ phận máy bay, cầu mong nước nhà chóng có máy bay để trả thù Pháp độc quyền thả bom trong chiến tranh. Lập ý cao viết truyện này và thật hào hoa trong sáng.

VOI ĐI

Thấy để nguyên cả súng kéo đi không được nữa, anh đơn vị trưởng cho lệnh tháo rời ra từng bộ phận để khiêng vậy. Một cảm giác hãi hùng và thất vọng lướt thông qua mọi người. Anh em lặng lẽ tháo. Vài anh đội viên láu cá bám theo ngay cái lá chắn hoặc cái máng, bộ phận nhẹ, để được gánh đi trước. Còn cái nòng nặng nhất trở lại sau với hai mươi anh em, anh San và tôi. Tôi cho buộc đòn dọc, rồi đòn ngang “nào hai, ba, lên vai… ích…”. Cái nòng được nhắc lên khỏi mặt đất, nhưng đi một cách rất chậm. Anh em rất lúng túng, vì quả thật không có chỗ, chân dẫm vào nhau, vai cánh sít nhau. đi được vài thước đã ồn ồn:

– Ái đau quá, ối này, ôi thôi.

– Sao chả đi cho người ta đi!

– Hố thì đi thế nào được?

Thế là lại đặt phịch xuống. Mặt mũi vẫn còn nhăn nhó.

– Cái dây buộc ngắn thế này, làm gì chẳng chết vai người kia, buộc lại đi.

Anh Tân tiểu đội trưởng đứng đó nói thêm:

– Anh em buộc cho đều dây, chứ lệch là có người nhẹ không, có người sụm lưng đấy.

– Gớm tôi biết rồi ông nói trang mẹ.

– Chứ không ư. Thôi đi, cái máng có lẽ đến nơi rồi.

Nói xong lại lên vai đi. Được vài chục thước, lại đặt xuống để thở vì ngực bị nén xuống nhiều quá, khó thở. Đứng ra xa nhìn thấy bao cái mồm méo xệch, há hốc kêu oai oái, bao nét mặt nhăn nhó khi dẫm phải gai, bao cái lưng trông lom khom thật thảm hại. Nhất là lúc đó lại ở giữa hai bên núi cao chót vót, lau lá mọc chỉa ra tua tủa, sương đêm giỏ giọt mưa lún phún từ đêm chưa ngớt, không khí ướt át hơi thở ra phì phì càng thêm nặng.

Sức lao động tốn nhiều mà liệu đường đi dài được một phần nghìn từ đây đến chỗ đánh chưa? Theo chương trình, tất cả phải đến một địa điểm cách đây tám cây số, thì ăn cơm sớm và nghỉ tại đó, tránh cái nắng ban ngày, tối lại đi. Nhưng thực ra mới đi được hai cây số. Tôi và anh San phụ trách ở đây không dám giục nhiều, chỉ ôn tồn bảo anh em đi thôi. Tuy biết là chậm đấy nhưng chả sao đi nhanh được, hố tác chiến đào ngang, đào dọc, đang khiêng hụt chân, tụt xuống luôn. Anh Đát hay bẳn nhất, luôn mồm với anh Thịnh đi liền trên:

– Đi không có mắt à? Đi trước sáng sủa hơn, đi liếc mãi, người đi sau vướng, nó tối mắt chả biết chỗ nào để nhắc chân mà trên cứ đi biền biệt.

Đồng chí Thịnh nhe răng cười hềnh hệch:

– Ối giời ơi! Việc gì phải bẳn, mình làm con trưởng chống gậy đấy thôi, thời mình phải chịu khó nhọc hơn các em thứ bé; ít tuổi hơn, nó đi trước mặc nó.

Thế là tất cả lại rộ lên cười.

Trên con đường đã có người qua lại. Xe đạp, gánh hàng từ xa thấy vậy đã phải nhảy xuống hoặc đứng dạt sang bên. Thoáng có bóng vài chiếc yếm trắng và giải thắt lưng xanh cùng đứng đợi ở đó. Tất cả phá lên cười. Anh Thịnh đang khiêng huých câu nói:

– Này thôi đi chứ. Kìa rồi sắp tươi rồi.

Khi gần đến các chị công nhân nói trên, tiếng khóc đùa bật lên:

– Ối cha ới, ới mẹ người ta ơi!

– Ối cha ới mẹ người ta ơi, nặng thế này!

Người khóc; người cười rộ, người nhắp nháy mắt. Anh Thập lúc đi ngang quay sang nói:

– Các chị ơi gánh giúp chúng tôi với.

– Ủng hộ bộ đội mà.

–Úi cha thế thì thú quá! Các chị nọ cũng cười theo, tỏ ý không giận dỗi. Đấy chỉ cần một vài phút khuây khỏa đó mà cũng có thể đi được một quãng khá dài. Phía trên cũng có tiếng ồn ào. Tôi rảo bước lên thời các bộ phận kia cũng đang còn ở lại đó.

Anh em đang nghỉ. Cái nào đã nghĩ lâu thì lên vai đã

– Tôi tưởng các anh đã đi xa rồi.

– Thưa Anh nặng lắm, đói quá!

Luôn muôn bên tai nghe tiếng hai, ba vọng lại. Tôi vượt lên một quãng lại gặp cái bánh xe. Thứ bánh xe này khiêng bốn người thời nhẹ, mà thật ra không đủ người mà khiêng hai người thì nặng quá. Anh Toàn và anh Chúc co rúm người lại mới đi được. Chân run run, cái bánh xe vì vậy mà lắc lư theo cái đà ấy mà nặng. Kết cục rơi phịch xuống. Hai anh kịp lui vội nếu không ắt phải điếng chân. Anh Toàn ngồi xuống lân la ra chỗ bệ nói với anh Mạch:

– Mạch giúp hộ tớ một buổi, tớ nát cả vai rồi.

– Ánh có gánh được không?

– Được

Mạch đổi sang chỗ Toàn, lại chỗ bánh xe, chặt ngắn cái đòn đi, xuyên qua lỗ bánh xe mà lúc lắp là cái lỗ của cái trục. Anh bảo Chúc đi lom khom giữa cái đòn, còn anh, anh lấy tay lăn bánh xe cho nó bon đi trên đường.

– À được đấy, đỡ gánh khổ, các anh đi sau nhé.

Tôi nhìn theo trong bụng vui mừng, lúc khó là lúc nhiều mẹo nhất. Đi nữa qua cái cầu chợ Ràng, gặp nhiều bộ phận. Tám người khiêng đang đặt chổng kềnh bên đường. Anh em ngồi nghỉ. Tôi lại định đi tìm lời khuyến khích thì có bộ phận anh em lại lẳng lặng lên vai. Anh em đi, anh em nghỉ rồi lại đi mặc lòng! Mỗi cái tôi giao cho một anh cán bộ phụ trách, khoán trắng cho họ chịu phần trách nhiệm đôn đốc, vì biết thế nào họ cũng đến được địa điểm đã định theo chương trình. Anh Lệnh phụ trách coi cái bệ, anh ta vui tính hay quậy với anh em nên vui, đi nhanh hơn cả. Đám đó đi thỉnh thoảng Lệnh ta đi sau lại xướng câu: “Khởi chinh cổ… ổ ổ…” tất cả anh em lại đồng thanh .. ối a ới a.. anh Lệnh ơi… hoặc “cử ai – ối a ới a anh Lệnh ơi”… các người làm ruộng bên đường đều ngưng việc; nhìn anh em cười theo như nắc nẻ.

– Các anh gánh cái gì mà nặng thế?

– Cái máy nước dẫn về Bắc để làm ruộng đó!

– Tôi vượt cái bệ, tìm cái máng xem sao. Được non một cây số, lại gặp Mạch và Chúc loay hoay với cái bánh xe. Lần này ngoài cái đòn ngắn gác ngang trục bánh xe Mạch ta còn lấy hai cây nứa kẹp hai bên phía ngoài như cáng xe bò.

– Anh Chúc này đi trước cầm như kéo xe bò nhé, tôi đi sau đun nào.

Nhưng lại chả được, vì có một bánh nên nó hay đổ sang hai bên, lại bẹp gãy nữa.

Người đi trước cũng nhọc, người đi sau cũng khổ. Tôi vội hỏi: “Sao kế trước lại thôi?”

Lối đó tốt lắm nhưng anh Chúc mệt không giữ được, mà tôi giữ thì cao quá, cúi mãi đau lưng quá!

Nhìn lại tôi thấy người anh Chúc bé nhỏ trắng trẻo đang thở hổn hển mồ hôi lấm tấm như giây mọc quanh miệng, mặt tái nhợt. Anh nói: “Mệt quá hay nghĩ đã, bao giờ đến thì đến”.

– Cố tí vậy, cho kịp cái bánh trước, làm cả hai cái tốt lắm, bớt người được mà nhàn.

– Mệt lắm!

– Thế anh cầm ba lô nhé.

Nói xong Mạch đưa cái ba lô bằng giây thép đan cho Chúc, một mình vần cái bánh đi. Mạch cho bánh đứng vững bắt đầu đun đi. Nó nghiêng sang phải lại hất sang trái, nó sang trái tay phải điều khiển luôn. Nó chạy chậm lại phải đủ nhẹ cho nó đi nhanh để dễ khiển. Lúc lên dốc vừa đu lại vừa lái, thúm cả lưng. Lúc đổ dốc lại có nhiều hố mới nguy. Nên không kìm nó lại thúm xuống thời cũng chết, tay cứ phải giữ từ cái nan hoa này lại bỏ ra víu vào cái kia, co lại để nó khỏi lăn mạnh. Gặp cái dốc nào, không phá hoại cho nó lăn mạnh, nó chạy ầm ầm, lộc cộc như xe goòng ai cũng phải tránh cho xa. Có một lúc Mạch chạy bở hơi tai để kịp nó, vì nó vừa va phải hòn đá suýt đổ nghiêng. Vừa lúc đó tôi tới gặp cái máng. Anh Dư phụ trách coi hốt hoảng báo anh em tránh ngay kẻo què. Bánh xe ầm ầm qua. Song Dư lại phải ba hoa với tôi:

– Gớm anh ạ, máng bịt kín thế này ai cũng chả hiểu là cái gì, họ cứ hỏi vớ hỏi vẩn, duy có một người đàn bà Mán đi qua, chỉ vào nói là cái máng súng. Chúng tôi lặng cả người đi anh ạ – có lẽ con voi nào đi qua đặt ở nhà người ta đấy.

– Thôi che nữa vào, còn cái bánh nữa đâu?

Các anh ấy đi xa lắm rồi, có lẽ họ ăn cơm xong rồi. Anh em đói lắm anh ạ..

Thấy các bộ phận này có thể tới N.Đ. ăn cơm sáng được. Còn cái nòng thì chả thế nào đến được. Anh em ăn từ hôm qua, suốt đêm rồi còn gì! Tôi vội viết mảnh giấy con nhắn anh Giáp làm hỏa thực mang cơm xuống, và dặn các bộ phận khác, nhất là cái bánh xe qua N.Đ. là nơi đông đúc phải che đậy, còn tôi quay lại với cái vòng lúc đó mới lê tới gần chợ Bang đang hò reo ầm ầm. Anh San thấy tôi tới, tiến lại: “Anh cho hỏa thực mang cơm lại chứ” tôi ngắt lời: “Bảo rồi, bảo rồi, liệu cầu này thế nào? tre bương mong manh lắm?”

– May ra đi được, tuy vậy chắc chắn.

– Nòng tới đầu cầu.

– Cầu đấy, cầu đấy.

– Cẩn thận sẽ chứ, kẻo lại hụt, nguy hiểm. Tôi nhìn cảnh chen nhau mới có một chỗ đứng trên mặt cầu, chả còn nom thấy cái nòng đâu. Chân cũng phải lê thì mới đi được. Hồi hộp nhìn theo. Nó ra được giữa cầu rồi. Bỗng các tre bương chống đỡ cầu kêu răng rắc.

Anh San hét:

– Bỏ xuống chạy.

Như cái thông phong vỡ, vụt một cái anh em chạy xô lên bờ. Tiếng cười ầm ĩ. Anh Tuyên vừa nhảy cỡn vừa tuyên bố : “Suýt nữa bị xô xuống suối, gớm thật!”

– Thôi im đi, này đồng chí Thịnh. (San khẽ lôi cái giây vào để kéo.)

Anh Thịnh và San vừa bò ra ngập ngừng. Cầu lại rắc rắc rồi. Lại lùi vào. Sau một mình Thịnh ra, nắm được đầu giây. Anh cúi xúm lại kéo. Nòng từ từ chuyển rồi tới đất. Tiếng thở ra khoan khoái. Mặt trời đã lên cao gay gắt. Anh em như mất sắc cả. Chúng tôi đều vào nghỉ tại vài quán ở đó. Tính ra mới đi được ba cây số. Anh San và tôi trong lòng như không yên, đều thủng thỉnh đi lên, vừa đi vừa ngó cơm mang đến chưa, anh em đói lả cả rồi. Vừa đi tôi sực nghĩ đến cái xe quẹt của đồng bào thiểu số vẫn dùng để lấy củi .

– May ra cái lối ấy dùng được cho anh San nhỉ?

– Tôi cũng đang nghĩ đến cái lối xe đó, nhất định được. Nếu không, có lẽ chả đến mặt trận đâu.

– Ta quay lại bàn với anh em đi

Chúng tôi đều quay lại nói với anh em ý định như vậy. Đồng chí Tân cướp nhời:

– Anh chưa bảo anh em, nhưng anh em đang nghĩ đến rồi; định nói với anh, thế anh cho thực hành chứ? Tôi đang ngồi nói chuyện với anh San và Tân quanh cái điếu bát thời bên ngoài tiếng cây súng nổ đánh rầm một cái, lá vương vào mái nhà sàn. Anh San cười:

– Thật là Vệ nhà ta đi đâu đổ ầm đến đó.

Một lúc sau xe quẹt đóng xong, thời cơm vừa mang đến. Nguội ngắt anh em xúm lại ăn. Anh Lưu vừa đến đưa giấy. Mới ghế (19) một nồi mang đi ngay, sợ ở đây đói.

Bên ngoài nắng gắt. Trong khi anh em nghỉ tôi cho anh Tân và một đồng chí nữa đi vào xóm làng trong mượn hoặc thuê trâu.

Một lúc sau, San gọi anh em thử để xem sao, kết quả xe đi một cách ngon lành. Núi rừng buổi trưa êm ả lại, chuỗi cười khoái trá ròn tan của anh em. Tư tưởng an nhàn xô đến. Có tiếng bàn tán:

– Chiều nay tươi nhé. Thôi đi đi!

– Ái chà, anh Tân mang trâu về nhà rồi, đi thôi.

Anh Tân về báo cáo chỉ mượn một con thôi, và đã cho đồng chí Đào đi trước mượn một con nữa. Trâu được đóng vào. Đánh một roi nó vội dần quỵ cả chân trước xuống xe mới chuyển lệch kệch loạc quạc trên đường đá. Anh em hớn hở theo sau ruỗi tay ruỗi chân, xương mỏi kêu răng rắc. Nhưng được vài trăm thước, trâu chùn lại thở hổn hển. Rồi lại phải buộc giây hai bên kèm đỡ cho trâu. Đồng chí Tân dắt trâu đi giữa cho nó khỏi tụt xuống hố. Riêng tôi thú thật là cái xe này có thể đi qua các hố tác chiến như thường rất tiện và nhanh, không phải bắc ván. Cỏ bên đường chết đi, đá non vụn lả tả, thân xe lẹt xẹt mòn dần. Nắng quá lắm lúc phải có đòn bẩy mới đi nổi, vất vả tương đối bớt đi chứ không sao tránh khỏi. Tay anh em kéo giây rát phồng cả lên. Và tận hai giờ chiều hôm đó tôi mới tới N.Đ. mà chương trình đã định đến từ sớm nay. N.Đ. đông đúc, buôn bán vui vẻ. Dân chúng xô ra xem. Họ bàn tán xôn xao. Cảnh tượng tám hoặc mười người khiêng một bộ phận che lá kín mít. Người nào cũng quần áo, chân tay lấm láp, xốc xếch, tay chống cái gậy, chân từ từ bước một, khiến một cụ già phải rộ cười.

– Gớm ông cụ nào mà nặng thế kia, những tám người chống gậy cơ đấy, hà hà.

Một anh nông dân chống cán thuổng bảo vợ:

– Các anh ấy khiêng một bộ phận máy bay bu mày ạ.

Người vợ nhấp nháy mắt:

– Ta cũng có máy bay à?

– Sắp sắp.

Anh hàng phở có vẻ thạo hơn:

– Toán công binh này họ đi làm cầu ở đâu đấy?

Bà đi buôn thân mật hơn hỏi:

– Các anh mang cái gì mà nặng thế?

– Mang ống về dẫn nước làm ruộng đấy.

Một anh com-măng-đô cưỡi ngựa đeo sao vàng đứng sang bên, nhìn anh em chúng tôi từ đầu đến chân. Đọc trong đôi mắt màu hạt dẻ, tôi thấy như anh đã tìm thấy cái bí quyết tại sao quân đội Việt Nam đã thắng nổi Pháp. Ở đây các bộ phận khác đi cả rồi. Chỉ còn cánh hỏa thực còn ở lại xếp trả bát đũa, nồi niêu. Anh em mới đến sau quyết rượt đuổi theo. Vượt qua đèo Mon lúc còn sáng, để đến V.C. đích thứ hai, chứ không chịu kém. Được một quãng khỏi phố N.Đ. tôi đi trước gặp hai anh Cù và Điều đang ngồi bên đường. Cái bánh xe lăn một bên. Đồng chí Điều vừa xong cơn sốt rét. Kê vài cái độn lên cỏ nằm. Tôi đến, Điều đang lau mồ hôi và kêu nhức đầu. Tôi hỏi: “Bánh xe dẫn đầu nhất, sao lại tụt đây?” Anh Cù trả lời “số là đã bỏ xa toán đi sau hàng bảy tám cây số, nhưng vì gặp Lưu liên lạc bảo phải lấy lá che kín, không được bon qua phố đông N.Đ. nên lại phải khiêng. Lúc đó ở giữa đồng chả có nhà nào không có đòn dài phải khiêng bằng đòn hai đốt tre làm ngõng lăn lúc trước. Vì vậy nặng quá anh Điều nhăn nhó khóc. Qua phố, anh Điều kêu nặng phải đặt chân nghỉ. Một ông cụ già thấy đòn ngắn quá, bảo đợi để ông cụ lấy cho hai cái đòn khác dài khiêng cho nhẹ nhưng lại bé quá. Hai anh phải nhập lại để khiêng, một quá yếu đã gãy trước. Còn một cái nhưng vẫn phải khiêng. Đi được một quãng, hai cái nó kẹp lại, nghiến vai anh Điều đau quá. Đồng chí Điều lại mếu máo lần nữa. Ra khỏi phố vừa vừa tầm cơn sốt rét, nằm lỳ tại đây đến tận bây giờ khát quá chả có nhà nào xin nước và lo ốm đi sau lạc chết, lại khóc”.

Tôi đành để cho hai anh tháo ra bon theo lối trước. Đi được một quãng tới hàng quán, bánh xe lại dừng lại. Họ vào gặp anh Đào đi mượn được một con trâu mộng nữa đang ăn cỏ. Con trâu này to lắm. Chủ nó là một bà trong làng. Trái với lần hỏi mượn hoặc thuê, lần này mượn dễ quá. Bà vui lòng ngay lại cho cả một người nhà đi theo để đem trâu về. Sau vỡ lẽ ra con trâu mộng nay khỏe lắm. Không ai trị nổi nó, thế là nó phá lên rừng, trâu mất nết, bà chủ chỉ than vậy thôi. Nay gặp bộ đội cần mượn trâu, bà ta trong bụng có ý là nhờ luôn bộ đội trị hộ con trâu này cho nó vào khuôn phép. Bà ta còn dặn nhỏ anh người nhà: “Nếu cần cứ để cho các ông ấy mang đi mấy ngày cũng được. Ăn uống đi với anh em lo gì?"nghe anh Đào kể vậy. Chúng tôi cười ầm lên. “Được cứ cho nó ra đây trâu nào cũng phải vào khuôn phép ngay”. Quả vậy lúc mới đóng trâu mộng này, nó đi băng băng khiến con theo sau cũng phải theo mệt.

– A ha khoái cha chá.

– Cứ thế thì lại tươi hơn cả cái kia.

Trời đổ nắng; gió hây hây lay đồng ngọn lúa xanh. Cánh đồng bát ngát. Lúc này ai cũng có thời giờ ngắm cảnh vật quanh mình, hưởng gió mát. Thoáng một cái đã đến chân đèo M. trâu vẫn còn hăng, xe bắt đầu lên rồi, nhưng lại bắt đầu chậm dần. Trâu dừng lại thở hồng hộc. Tất cả anh em lại phải vào giây kéo để đỡ cho trâu mà cũng chỉ lê được vài chục bước lại phải nghỉ lấy hơi. Lúc đó độ năm giờ chiều mặt trời còn đấy nhưng đường cây lá nhiều quá nên tối, người qua lại ít chim xào xạc về tổ, ngoài tiếng hò hét nào chả còn tiếng cười đùa nữa. Anh em đi lắc la lắc lư vừa kéo giây chăng hai bên dọc đường. Anh Tân chuyên môn giắt trâu đi giữa. Có vài chị phụ nữ đi trên xuống thủng thỉnh. Tối chỗ anh em chăng giây, các chị cứ vô tình len vào giây, hai hàng giây đó. Tiếng cười bị nhịn từ lâu bật ra. Hai chị nhanh chân lui lại đi vòng ra phía ngoài, còn một chị cuống quít vẫn đứng trong giữa, trước mặt anh Tân:

– Ô kìa chị, đi đấy ô kìa!

Anh em phá lên cười. Hai hàng giây lúc này khép lại. Chị ta càng lúng túng. May giữa hai anh Thành và Dần có chỗ hở. Chị liền chui qua chạy lùi lại, nhưng chưa hết chuyện. Một chị thiểu số đi rừng về, cứ cười hềnh hệch:

– Ô kìa con trâu tắng, tâu tắng.

Nói xong lại cười.

Anh em nhại lại:

– Tâu tắng, tâu tắng, tình nhỉ?

– Pi noọng ơi ơi (20)

– Gớm thương sao được!

Lần này chị ta đi khỏi, chả ai cười nữa. Thực ra con trâu mới lên được đèo nhưng cũng mất nhiều thì giờ về nó. Đây là một khuỷu sườn đèo một bên thành đứng cao chót vót, phía dưới là rãnh nước, một bên khe sâu trâu mộng phá ngang, kéo xe lọt xuống cái rãnh đá, còn mình nép vào thành núi ì ra đấy. Đánh thế nào nó cũng không đi. Cho xà beng đẩy đít nó ra cũng chỉ nhích xệu xạo vài bước chân rồi lại ép vào tường. Lôi đến rách mũi cũng không đi. Trâu muốn thi gan với người. Lại đến lượt anh Tân hăng tiết gạt roi và xà beng ra lại nắm chặt lấy giây luồn qua mũi trâu, mặt anh ta gân hẳn lên. Răng nghiến chặt: “Hừ hừ có đi không?” vừa nói anh ta vừa đấm mạnh vào mặt trâu huỳnh huỵch? Mặt nó đỏ tưng bừng. Anh em hôi hộp. Anh Biên cầm chặt khẩu súng sẵn. Một thôi anh Tân ngưng tay nói: “Thôi bây giờ ai vào dắt đi được rồi. Nào xem nào”. Trâu thong thả đi. Anh em cười xòa. Anh Tân có vẻ lắm. “Trâu mộng có vẻ sợ tớ rồi đấy”. Còn con trâu kia thời nép vào bờ đi cùng người anh em. Lúc này phải cho nó đi trước kẻo con trâu mộng hay phá lắm. Đi qua một cầu gỗ ngắn, chúng tôi cứ cho đi bừa. Ngờ đâu gỗ lâu ngày quá, gãy rắc, con trâu tụt cả bốn chân xuống co chân lên co xuống mà chả hơn gì. Phải có người xúm lại lôi lên mới qua. Con trâu mộng đi sau nữa. “Nếu nó cứ bước dài thì không tụt”. Hồi hộp nhìn theo. Trâu cũng lưỡng lự. Chợt nó bước ào đi nhưng loạng choạng vài bước nó qua được. Anh Tân ba hoa. “À con này khôn nó dẫm vào cái sà dọc nên không tụt như con kia”. Đến một chỗ nguy hiểm nữa, phải tháo trâu ra vậy. Đường chỉ còn vỏn vẹn một sống lại gồ ghề ở giữa chỉ đủ người và xe đi thôi. Muốn xe khỏi lăn xuống hố, phải có người đứng dưới kê đòn, một đầu vào đường một đầu lên vai mình, nếu có xe thêm một tí có đòn đỡ rồi. Tôi chưa kịp chỉ ai. Anh Hạnh đã vội tụt xuống với cái xà beng:

– Để cho tôi đỡ cho.

Xe đi qua, sống trạch ở giữa đường, gặp chỗ hơi cao, nên đến một chỗ nó trơn lăn vèo xuống đè vào xà beng. Đồng chí Thành đỡ vẹo cả lưng không đỡ nổi phải buông tay. Xà beng vụt xuống đất rồi lại vút lên lăn kềnh. Đồng chí Hạnh cũng đủ thời gian nhảy sang bên cho bị khỏi chết dí, nhưng cũng không sao tránh được xà beng vụt qua sườn.

– Úi giời ơi, úi giời ơi...

– Y tá đâu?

Anh em xúm lại lôi anh Hạnh lên đang nhăn nhó.

– Thật không nhanh có chết không?

May chỗ phá hoại ấy không sâu lắm, nhưng xe lăn kềnh xuống rồi muốn lên phải đánh dốc. Anh em đều mệt nhoài, trời lại tối hẳn.

– Cho trâu ăn cỏ đi không nó chết.

Anh San có ý kiến “Thôi đi nghỉ đã, sằn rừng nứa các cậu vào lấy thật nhiều nứa ra, làm đuốc đi nhanh lên”. Anh em làm theo. Tiếng chặt nứa kêu san sát. Số còn lại tản mát dần. Người lính hút thuốc lào, người ngồi châm thuốc lá hút. Thấy đồng chí Thành đang cầm thanh nứa quyệt đống phân trâu mới bôi vào chỗ xát chảy máu lúc tụt cầu ở bên chân cho trâu nọ. Tôi hỏi để làm gì?

– “Thưa anh, ở quê tôi cứ lấy phân mới của nó bôi vào vết xát, trâu chóng khỏi lắm. Không có chủ nhà họ chửi cho chết”.

Đồng chí Thành còn chỉ cho tôi xem cái vết lằn ngang dọc rớm máu ở đít trâu.

– Các anh ấy cứ sẵn nứa tươi đánh như pháo, cạnh nứa sắc chẩy cả máu trâu, tôi bảo phải lấy đòn gỗ mãi, các anh ấy không nghe.

Tôi ra chỗ con trâu mộng đang ăn cỏ dàn dạt. Tôi nhẩy lên lưng nó vỗ vài cái. Nó thủng thỉnh đi. Gặp vài chị phụ nữ đi lại. Các chị ấy nói bâng quơ:

– Gớm nhàn hạ nhỉ. Chính phủ nuôi ngày ăn hai bữa cưỡi trâu chơi.

Tôi không muốn trả lời. Đồng chí Thành thấy vậy tiến lại hỏi:

– Anh không nói gì à?

Nửa giờ sau tôi lui về. Bao nhiêu bó đuốc được đốt sáng lên rực cả đường đi. Chúng tôi xúm đông lại, người xà beng, người đầu gối, người cánh tay vần mới lật xấp xe lại được. Bên trên mấy anh hì hục phá đường làm lối lên. Người tháo giây thép lôi riêng cái nòng lên.

– Tiếng hai ba ầm hét lên.

Nào lại lún xuống đất, xà beng nẩy cành cạch mới lên được. Cái xe gỗ không, gần mòn hẳn rồi cho lên dễ dàng lắm. Trong khi anh em lau mồ hôi, anh Tấn ra chỉ xe bảo:

– Tôi đã bảo mà, phải chọn cây gỗ trần mới tốt, xe này gần tiêu rồi, mai nhớ nhớ…

Anh em cười với nhau:

– Đông người chả sợ gì cả làm xong tuốt.

– Gớm ông cụ này ghê thật, mỗi lần ông ta chuyển mình là bỏ cha con cháu.

Tính ra mất hơn một giờ mới lên đóng trâu vào để đi. Nhưng tối trời đóng trâu vào khó quá. Nó chỉ lẩn quanh. Người nọ lừa không được lại người khác.

– Họ, họ họ…

Anh Tân vào. Vào cái lùa được trâu lại. Càng dễ lên râu.

– Tối trâu hay phá ngang, muốn về chuồng mà phải khéo mới được.

Tôi thét: “Cho đi” đoàn người lại đi rầm rập. Anh Tân luôn mồm gắt với anh Nhượng câm điếc.

Tôi bảo mà, trâu đi tối phải có lửa, gai mặc, anh phải đi cạnh đây, soi cho nó đi.

Bó trước, bó sau linh tinh trông đến đẹp mắt. Lúc này nhớ cơm nên tiếng hò bớt dần. Cũng may mà rẽ vào một quãng đường đất không phá hoại, mưa hôm qua vẫn chưa ráo, con đường trơn như mỡ. Trâu hết phá thối rồi, đành phận theo đóm đi giữa hai hàng rào người. Người nào người nấy đầy rẫy sát khí, đòn ngắn, đòn dài trong tay. Đường đi vậy lại càng dễ đi hơn. Xe như lướt trên bùn đi băng băng. Chúng tôi vừa đi vừa chạy mới kịp. Nỗi vui mừng quên cả mệt và đói. Gặp chỗ bùn sâu, bắn vung cả lên người, chân tay ống quần bê bết nhưng vẫn đi. Tàn đuốc rơi lả tả… cứ phải phủi luôn, không thì cháy ra quần áo. Đang cơn vui, mang cơm đến. Nhưng xét ra chả có chỗ nào cao ráo mà cái đà đang đi nhanh. Một số đông anh em đều muốn thôi để đến C.V. ăn một thể cho sạch sẽ đường hoàng, duy có anh Tân cứ nheo nhéo:

– Thôi anh em ăn cơm đã.

Tôi gạt đi:

– Thưa anh, anh em đói lắm.

Tôi phải bảo anh ấy im. Cuộc hành quân vẫn cứ đi với cái đà có lẽ đến sáu bảy cây số một giờ. Tới bờ suối lúc nào không rõ. Lúc đó mới có chín giờ tối. Chỉ còn lội qua cái suối nông là đến C.V. trái hẳn với ý tưởng chung là có lẽ 12 giờ mới tới được. Ai ai đều thấy hớn hở vô cùng. Đến đây một là dùng thuyền qua, hai là cho lội qua. Tôi đang dùng dằng, thời anh em đều muốn lội qua bừa, vừa để rửa chân, thay gột quần áo thân thể. Thế là tất cả ùm xuống. Nước chảy xiết quan chân đi, đóm soi rực cả mặt suối. Tàn “rơi” xuống xèo xèo tắt ngấm. Trâu gặp nước đi bạt mạng. Cái xe nặng thế mà nước có chỗ lật hơi nghiêng đi. Chúng tôi đều phải thò tay ấn xuống.

– Thôi chết rồi, chết cha đồng hồ xuống nước rồi. Nguy, nguy!

Người anh em đang vắt quần áo, thấy vậy cười ầm lên:

– Lại mấy chục rồi. Thôi anh thiếu gì tiền.

– Gớm các cậu tưởng tớ giầu lắm à?

Vừa nói anh San vừa cam sót sa lắc đồng hồ cho ráo nước. Đồng chí Lưu, liên lạc viên đưa tin là trên kia thu xếp nhà cửa đủ cả rồi. Các bộ phận khác đã đến từ sớm. Anh em ngủ cả rồi. Tôi rảo bước về trước với hỏa thực xong qua chỗ ăn nằm bảo dọn cơm sẵn ra. Tôi lên nhà đánh thức đồng chí thư ký dậy làm báo cáo, kể qua kinh nghiệm cho tiểu đoàn rõ để phổ biến cho các hạng “anh cả” sắp đi sau. Làm xong mãi chả thấy ai về. Tôi lại chi Lưu ra xem, thì té ra cái xe quẹt mòn gãy đôi không đi được nữa. Anh em phải lê cái nòng vào gốc cây si. Cho gọi người gác mai làm cái khác. Tất cả kéo về ăn cơm. Cơm nguội ngắt, hỡi ôi! Vài hạt muối, bát canh măng lạo xạo. Tôi cùng ngồi ăn một mâm, có bốn anh em với người nhà của bà chủ cho mượn trâu mộng. Vừa ăn anh ta vừa thủ thỉ với tôi:

– Thôi mai cháu xin ông cho cháu mang trâu về, bà chủ cháu dặn thế. Gớm cháu đi với các ông mệt quá. 11 giờ đêm mới được ăn cơm. Suốt ngày mệt lả. Cơm lại chả có gì mà các ông vẫn khỏe mạnh đều, vẫn vui ghê thật.

Đúng 12 giờ khuya, tôi mới phụt tắt đèn đi ngủ. Sáng hôm sau chúng tôi dậy đã thấy anh người nhà hôm qua dắt trâu mộng về, sau khi đã trả xong tiền bà hàng cơm hơn chục gắp trả chó.

10 – 8 – 1949

SIÊU HẢI

Tiết 17

NGUYỄN CÔNG MỸ

Tiểu Sử.

Sự vươn lên của ánh sáng cách mạng trên hai công tác: kiến thiết và chiến dấu. Chiến đấu để bảo vệ kiến thiết. Kiến thiết để hàn gắn phá hoại. Những anh Vệ quốc ngoài mặt trận chống Pháp, miền hậu tuyến chống giặc dốt. Giặc dốt là một sự kiện đầy ải, từ bọn thống trị không muốn chúng ta vươn lên, thì nhở ở ánh sáng kháng chiến, nhân dân ta ai ai cũng phải biết tiếng mẹ đẻ, viết và đọc. Sau những giờ làm việc là đến buổi học tập. Những người biết chữ không quản giắt người mù chữ trên con đường tiến tới mọi người biết chữ. Ý nghĩa đó được Nguyễn Công Mỹ diễn đạt lại qua “Giáo viên bình dân học vụ".

GIÁO VIÊN BÌNH DÂN HỌC VỤ

(...) Họ xúm nhau lại bàn định, chia nhau đi bốn phương, vào từng ngõ hẻm đường sâu. Người ra bờ bể, kẻ trèo núi cao. Có người nhận việc ở giữa luống cày, có người mang nhiệm vụ vào trong xưởng máy. Họ lầm lì dấn bước với gánh nặng trên vai. Trên đường đi, họ giơ tay hoan hỉ đón chào bạn mới. Đoàn của họ mỗi ngày một đông kể tới vài vạn rồi. Họ còn muốn cho đoàn đông gấp năm gấp mười nữa. Ai hỏi tên họ, họ niềm nở lắc đầu không nói, chỉ cho xem bó nhiệm vụ trên vai. Tự cho mình là chiến sĩ, họ quyết xứng đáng với tên chiến sĩ. Không biết gọi họ là gì, người ta đặt cho họ một cái tên rất hiền lành “Giáo viên bình dân học vụ”. Giáo viên BDHV là tất cả, bất cứ ai đã biết chữ, nếu lòng tha thiết với tổ quốc. Cô giáo viên mười lăm tuổi gọi một giáo viên khác năm mươi tuổi bằng ông nội. Cô giáo viên mặc quần áo lối binh sĩ Hoa Kỳ màu cứt ngựa sẫm, lại có giáo viên quần đùi, chân đất chưa sạch vết bùn. Anh ta buộc vội trâu ngoài sân đình vừa thở vừa chạy vào lớp học, vai vẫn vác cày. Đây là một cô gái xanh lướt, mỏng manh con nuông của một nhà giầu, đây là một người thợ đầu húi ngắn, luôn luôn thổi sáo. Ai cũng vui vẻ với việc, quyến luyến với nghề, lo lắng trước trách nhiệm. Chả thế mà tuần nào họ cũng họp nhau lại để một lần bàn bạc để đến hôm sau cuộc hội họp, người nào người ấy vui vẻ hơn vào việc, quyến luyến hơn với nghề, lo lắng hơn trước trách nhiệm. Có một hôm, một giáo viên bảo học trò thân mến rằng: “Các ông các bà ạ. Bữa này là vừa bắt đầu. Ba hôm nữa là hết giấy. Chúng ta làm thế nào bây giờ.

Bấy nhiêu nét mặt xa xầm xuống. Giáo viên nước mắt chạy quanh. Chẳng muốn nói gì, chẳng chẳng đợi một chốc, nuốt ực nước bọt rồi tiếp:

– Các ông các bà không sợ. Tôi đã có cách. Miễn là các ông các bà đến sớm cho một chút.

Hôm sau giáo viên đội một thúng sách tới đình. Học trò vắng mặt mất một người. Chàng gọi con số còn lại ra sân.

– Từ nay chúng ta học ngoài sân.

Chàng dốc thúng. Thì ra toàn gạch non, những hòn đủ thứ các hình, đủ các cỡ. Bút đấy, mực đấy, viết đi. Những bàn tay ngượng nghịu, nhưng chăm chỉ mài gạch trên gạch thành những móc câu, những quả trứng, với mối hy vọng ngập trời. Bọn thực dân hãy vào sân dân tộc này mà xem họ học tập. Họ bất chấp đói kém, thiếu thốn. Họ muốn sớm trở nên người dân độc lập. Trên đường giải phóng họ mang nào sách, nào bút, nào bảng, nào câu đối sơn đen, nào que tính, nào phấn, nào đất sét nặng, nào cánh cửa gỗ, nào mảnh sành, mảnh gạch. Để tập đọc thông thạo cả. Để bồi bổ tinh thần, để tuyển gan dạ mà(...)

Trích một đoạn đăng trong TIỀN PHONG

NGUYỄN CÔNG MỸ



CÒN TIẾP ...

Trở lại : LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 20





© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ VÀ NEWVIETART .



TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ TRUYỆN NGẮN NHẬN ĐỊNH