TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



. Sinh năm 1944 .
. Tại Thái Bình .
. 1967 tốt nghiệp khoa Sinh, Đại học Tổng hợp Hà Nội.
. 1973 làm việc tại Hội Văn nghệ Thái Bình.
. 1979 làm việc tại Hội Văn nghệ Kiên Giang.
. Từ 1996-2000 phóng viên báo Văn Nghệ Hội Nhà văn Việt Nam.
. Hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

- Bên bờ vịnh Rạch Giá tập truyện
- Thời gian gom nhặt (thơ)
- Trấn Hà Tiên và Tao Đàn Chiêu Anh Các (biên khảo)
- Nguyễn Thị Lộ (tiểu thuyết)
- Thử tìm lại cội nguồn người Việt (biên khảo)
















TÌM LẠI

CỘI NGUỒN

VĂN HOÁ

CỦA NGƯỜI VIỆT

KÍNH DÂNG ĐỒNG BÀO TÔI

KÍNH DÂNG TỔ QUỐC TÔI



TỰA

C on người sinh ra, lớn lên, kiếm ăn, yêu đương, sinh con đẻ cái, chiến tranh giành giật... Ðến một lúc nào đó dừng giữa chừng công việc, anh ta tự hỏi: Ta là ai? Ta từ đâu tới? Chính lúc này, con người sinh học đã trở thành con người triết học.

Hàng vạn năm, từ thế hệ này sang thế hệ khác, con người triết nhân - những chàng hoàng tử Hamlet của mọi thời, khi bộ hành trên đường, lại hỏi mình câu hỏi muôn thuở ấy! Có lẽ đã có nhiều lời giải ngay từ tiền sử nhưng chúng không đến được với ta vì thời đó chưa có ký hiệu ghi chép và cũng có thể ký hiệu bị thời gian xóa nhòa. Vì vậy, câu hỏi về cội nguồn luôn là điều mới mẻ.

Với người Việt, do số phận đặc biệt của dân tộc, vấn đề cội nguồn lại càng nhức nhối hơn. Sự nhức nhối hiện thành câu tục ngữ Chim có tổ, người có tông, một trong những phương ngôn giầu ý nghĩa nhất của văn hóa Việt.

Với người Việt, có lẽ ý thức tìm về nguồn cội trở nên đòi hỏi cấp thiết nhất vào thế kỷ thứ X khi lần đầu tiên sau 1000 năm nô lệ, chủ quyền được giành lại. Hậu thế biết ơn Trần Thế Pháp với cuốn Lĩnh Nam chích quái của ông. Chọn những câu chuyện quê mùa lầm lụi trong bùn đất, lượm lặt từ những trang sách nước ngoài, ông ghi lại cho đời sau biết về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ cùng một bọc trăm trứng. Biết ơn Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên hai vị sử gia dám cả gan ghi những điều hoang đường diệu vợi vào chính sử. Những dòng chữ đó như đám bèo mà nhiều thế hệ Việt bám lấy để quẫy đạp lội ngược dòng lũ thời gian tìm về nguồn cội.

Nhưng, nhiều điều cha ông nâng niu trân trọng thì con cháu không tin. Không thể trách họ. Sự đời là thế, con cháu đã thành con người triết học mà đặc trưng là nghi ngờ tất cả! "Bốn nghìn năm văn hiến ư? Các cụ nhà mình khí đậm máu sô-vanh! Lấy đâu ra, ngay cả thời đại các vua Hùng cũng mù mờ lắm: làm sao 18 đời vua lại kéo dài những hơn 2000 năm?!" Chính ngay Ðại Việt sử ký toàn thư, pho sử lớn và uy tín nhất nước cũng viết: "Tích Quang người quận Hán Trung, khi ở Giao Chỉ lấy lễ nghĩa dạy dân. Lại lấy Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân... Tục người Cửu Chân chỉ làm nghề đánh cá, đi săn, không biết cày cấy. Diên mới dạy dân khai khẩn ruộng đất, hàng năm cấy trồng, trăm họ no đủ... Phong tục văn minh của đất Lĩnh Nam bắt đầu từ hai thái thú ấy."(1) Còn văn hóa Việt ư? "Chính sử chả ghi Sĩ vương là Nam Giao học tổ sao? Té ra thì tới nhà Hán chúng ta mới có việc học! Vậy thì văn hiến cái nỗi gì?"

Những suy nghĩ trên đã dẫn đến ý tưởng cực đoan vong bản như thế này: "Về văn hóa, ta đã bắt chước người Tàu một cách mê mải và vô điều kiện. Nếu văn hóa của ta còn khác văn hóa Tàu thì cũng chỉ vì ta bắt chước chưa xong mà thôi. Văn hóa ta khác văn hóa Trung Hoa không phải ở chỗ ta thực sự khác mà là ở chỗ ta chưa bằng. Sự khác biệt ở trình độ nhiều hơn ở bản chất!"(2)

Xin nói thực lòng, kẻ viết những dòng này cũng thuộc giống con người tư duy nên biết bao năm băn khoăn khốn khổ chỉ vì một câu ca:

Công cha như núi thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra!

Thái sơn là gì? Hòn núi lớn. Như vậy công cha to như hòn núi lớn! Còn nước trong nguồn thì dễ rồi: nước đầu nguồn, dạt dào mà trong trẻo! Yên chí! Ðến khi nghe mò mẫm biết được Thái Sơn, ngọn Nguồn là hòn núi dòng sông bên Tàu thì lòng bất nhẫn: Sao cha ông ta vong bản đến vậy? Chúng cướp nước ta chưa đủ sao mà còn thương còn nhớ còn ơn ngọn núi dòng sông bên Tàu?! Quá nửa đời buốt đau vì mặc cảm đó!

Ngày nay trong hoàn cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, trước nguy cơ bị xâm lăng văn hóa, thấy trên nhiều phương tiện truyền thông đại chúng và cả những chỉ thị nghị quyết nói nhiều đến cụm từ bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Nhưng không hiểu sao có cảm tưởng là, người ta càng nói nhiều thì sự việc càng rối tung rối mù lên, đến nỗi chẳng ai hiểu văn hóa dân tộc là gì! Từ đó mà biết bao việc làm tùy tiện lộn xộn, cái đáng bỏ thì giữ, cái đáng giữ lại bỏ, cái gì có lợi trước mắt thì đề cao rồi bảo đó là truyền thống, là bản sắc! Ruột bỏ ra da ôm lấy... cười ra nước mắt!

Thiết tưởng sở dĩ có chuyện trống đánh xuôi kèn thổi ngược như vậy chính bởi vì chưa có được sự thống nhất trong hai nhận thức cơ bản: 1/Dân tộc Việt Nam là ai? Và 2/ Văn hóa Việt Nam là gì?

Cho đến nay thật đáng buồn là người Việt chưa hiểu được dân tộc chúng ta là ai, từ đâu tới. Chính vì vậy càng mù mờ hơn về cội nguồn văn hóa dân tộc. Giải đáp hai câu hỏi trên là vấn đề đặc biệt quan trọng và bức xúc hiện nay.

Không phải là nhà nghiên cứu lịch sử nhưng là nhà văn quan tâm tới văn hóa dân tộc, chúng tôi tạm dừng cuốn tiểu thuyết đang viết về Triệu Vũ đế, xin thử bàn về hai vấn đề trọng đại này. Rất mong quý vị cao minh chỉ giáo.

Lời Cảm Ơn : Người viết chân thành cảm ơn các tác giả có sách tham khảo trong chuyên luận này. Ðặc biệt cảm ơn những tác giả người Việt ở nước ngoài: Ts Nguyễn Thị Thanh, Luật sư Cung Ðình Thanh, GsTs Nguyễn Văn Tuấn, các ông Nguyễn Ðức Hiệp, Nguyễn Quang Trọng. Ông Hoài Thanh báo Ðại chúng cung cấp những tài liệu quý. Cảm ơn bạn tôi, Ðỗ Thái Nguyên và Gs Ranjan Deka Ðại học Cicinnati Hoa Kỳ gửi cho những thông tin mới nhất. Chính trí tuệ và thịnh tình của các vị đã soi sáng và động viên chúng tôi hoàn thành cuốn sách. Cảm ơn vợ tôi, người đã vất và nhiều vì tôi. Cuốn sách này cũng là nén nhang tưởng nhớ Cha tôi.

Sài Gòn, Xuân Ất Dậu

HÀ VĂN THÙY




PHẦN HAI

CỘI NGUỒN VĂN HÓA VIỆT NAM

CHƯƠNG VI

NHỮNG BƯỚC THĂNG TRẦM

CỦA VĂN HÓA VIỆT

  I/ TÌNH TRẠNG CỦA VIỆT NHO TRÊN ÐẤT TRUNG HOA  

Như vậy là, trong lịch sử của mình, nền Văn hóa Bách Việt từng có thời phát triển rực rỡ. Ðịa bàn của Văn hóa Bách Việt trải khắp Ðông Nam Á, bao trùm lên Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên. Theo nhà địa lý Buckminster Fuller thì vào thiên niên kỷ IV-III TCN, duyên hải Ðông và Ðông Nam Á chỉ chiếm 5% diện tích thế giới nhưng có tới 54% nhân loại đang sống. Người Lạc Việt có thể chiếm 15-20% dân số thế giới vào thời đó (sđd)

Văn hóa Bách Việt là nền văn hóa nông nghiệp lúa nước với những đặc điểm sau:

- Kỹ thuật trồng lúa nước, thuần dưỡng gia súc ở mức tiên tiến của nhân loại,

- Kỹ nghệ đồng thau phát triển cao.

- Chữ viết kết thừng, chữ con nòng nọc, chữ hỏa tự được dùng.

- Thiên văn học phát triển, lịch pháp ra đời.

- Kinh Dịch trở thành công cụ bói toán và tìm hiểu con người cùng vũ trụ.

- Ca dao dân ca phong phú diễn tả với nghệ thuật cao cuộc sống của người dân.

- Âm nhạc với nhạc ngũ cung, bát âm, đàn đá, đàn bầu, các loại khèn.

- Con người sống cuộc sống tâm linh, hài hòa với thiên nhiên, dung hợp những nguyên lý khác nhau của vũ trụ.

- Con người sống hòa thuận với nhau, đàn bà được coi trọng và có vai trò đáng kể trong xã hội.

- Nhà cầm quyền thân dân, xã hội xây dựng trên đức trị.  

Người Hán vượt sông Hoàng Hà tràn xuống làm nên cuộc hôn phối toàn diện giữa chủng Bách Việt và chủng Mông Cổ; giữa văn minh du mục Mông Cổ và văn minh nông nghiệp Việt tộc.

Về hình thức thì đây là cuộc xâm lăng của Mông tộc đối với Việt tộc, của văn hóa du mục với văn hóa nông nghiệp nhưng trên thực tế lại nảy sinh tình trạng trái ngược:

- Về huyết thống: tuy danh nghĩa thì tộc Mông đồng hóa tộc Việt nhưng thực tế thì do người Việt quá đông, có người lượng định rằng khoảng 70% người Việt ở lại trong vùng chiếm đóng của người Mông nên dòng máu Việt đông đảo đã đồng hóa dòng máu Mông, biến một phần quan trọng người Mongoloid phương Bắc thành cộng đồng chủng tộc Ðông Nam Á hay Mongoloid phương Nam. Chủng người này, tuy sau này được gọi là Hán nhưng chính lại là Việt.

- Về mặt văn hóa: Văn hóa nông nghiệp Việt tộc cao hơn nên đã thu nhận những yếu tố tích cực của văn minh du mục để làm nên nền văn hóa mới, được gọi là Văn hóa Trung Hoa với những kinh điển mà bản chất của nó là Văn hóa Việt, gọi là Việt nho.  

Chính tinh thần Việt nho là nhân tố chủ đạo của văn hóa Trung Hoa từ thời Ðế Nghiêu đến cuối đời Chu, được gọi là thời đại hoàng kim trong lịch sử Trung Hoa. Những nét chính của thời đại này là:

Tinh thần dân chủ được đề cao, các ông vua đều thân dân, dựa trên đức trị, luật pháp ít hà khắc, thiên hạ thái bình. Các triều đại đã thể hiện được tinh thần văn hiến, ghi chép điển chương, sưu tập những lời nói, câu ca, những bản nhạc hay trong dân gian, lễ được tôn trọng.  

Cuối đời nhà Chu, cái đạo của thánh nhân suy vi, cái đức của thánh nhân không được noi theo nên bậc thiên tử mất thực quyền, các chư hầu đánh lẫn nhau đẩy dân chúng vào vòng cơ khổ. Là nguời yêu dân, lo cho đời, Khổng Tử muốn được dùng tài để cứu nhân độ thế nhưng cũng do đạo suy vi không có minh quân nên không ai dùng nổi tài của ông. Khổng Tử tuy người Hán nhưng quê Khúc Phụ của ông ở trung tâm Trung Quốc, địa bàn cư trú lâu đời của Bách Việt, nên ông không phải nguyên chất Mông Cổ phương Bắc mà là Hán đã có hòa huyết với Bách Việt. Mặt khác, do sống với lê dân Viêm Việt nên ông thấm nhuần văn hóa Việt. Sau khi đi tìm minh quân khắp nhiều nước không kết quả, ông trở lại quê hương nước Lỗ dạy học và làm sách. Dựa trên những thư tịch trong thư khố của thiên tử nhà Chu, Khổng Tử đã san định ra các kinh: Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu. Sáu bộ kinh cùng Tứ thư là tập đại thành của văn hóa Việt nho. Trong việc xây dựng nền văn hóa Trung Hoa cũng như bảo tồn văn hóa Việt tộc, công lao của Khổng Tử thật to lớn.

Tuy nhiên, như ta biết, ở thời của mình, Khổng Tử là người Hán chính hiệu, sống giữa cộng đồng người Hán với những vua chúa Hán tộc nên ông càng xa với gốc Việt của mình. Ðiều này ít nhiều đã ảnh hưởng đến việc san định kinh điển của ông.

Như trên đã nói, khi biên tập kinh Thi, ông bỏ đi 2700 bài, hẳn trong đó chắc là có nhiều bài thuộc văn hóa Việt nói đến tình yêu tự nhiên của trai gái hay việc múa hát mà trong con mắt thanh giáo của mình, ông cho là dâm bôn, xướng ca vô loại hoặc câu nói nổi tiếng: đàn bà và tiểu nhân là khó dạy! Cũng như vậy, khi san định Thượng Thư, ông bỏ bộ phận khởi thủy rất quan yếu là Tam phần chép những việc của đời Phục Hy, Thần Nông và Hoàng đế. Có lẽ do sách của thời quá xa xôi, văn chương lại rườm rà nhưng rất có thể là do quan niệm của Khổng. Một là những điều viết trong Tam phần không hợp với mục đích của ông làm cuốn sách mang tính giáo huấn và hai nữa chính vì Phục Hy và Thần nông là hai vị vua người Việt. Không khác những trí thức người Hán trước đã phế bỏ bà Nữ Oa vừa là phái nữ vừa Việt tộc, Khổng Tử bỏ luôn Phục Hy cùng Thần Nông? Dù lý do nào chăng nữa thì những kinh điển đầu tiên của người Việt đã bị đánh mất. Ðó là khởi đầu cho sự băng hoại của văn hóa Việt tộc sau này.

Bước băng hoại tiếp theo của Việt nho là khi nhà Tần đốt sách chôn nho. Cùng với văn khố ở Hàm Dương bị đốt cháy, các kinh thư bị thiêu hủy, gia tài văn học từ thượng cổ trở thành tay trắng.

Khi bình ổn được đất nước, nhà Hán làm lại được kinh Thi, kinh Dịch nhưng để mất kinh Nhạc do không cố công sưu tầm, cũng một phần quan trọng vì nội dung của nó là nhạc của người Miêu man di. Còn kinh Thư, vì vị trí quá quan trọng nên triều đình phải nhờ đến Phục Thắng, ông già 90 tuổi kể lại để viết thành 28 thiên bằng chữ Lệ và được gọi là Kim văn Thượng thư. Không chỉ vì Phục Thắng quá già nói không rõ mà còn do cháu gái ông thông dịch rồi các học quan ghi lại theo quan điểm của mình nên Kim thư bị tước bỏ nhiều yếu tố nguyên sơ của văn hóa Việt, bổ sung tư tưởng đương thời, trở thành cuốn sách phục vụ triều đình phong kiến thống trị.

Ðến đời Cảnh đế, khi sửa nhà cũ của Khổng Tử, phát hiện sách Thượng thư viết bằng chữ Khoa đẩu giấu trong vách. Cháu nội Khổng Tử là Khổng An Quốc dịch thành 30 thiên, gọi là Cổ văn Thượng thư. Nhưng Cổ thư vì mang nhiều yếu tố nhân chủ Viêm Việt không phù hợp với thiết chế của vương triều nên không được dùng.

Ở đời Hán, nhiều kinh, thư được làm lại và được các Hán nho giải thích chú sớ theo quan điểm của vương triều. Việt nho với tinh thần dân chủ nhân chủ thời Khổng Tử bị các nhà chú sớ làm cho biến tướng thành Hán nho với nội dung thượng tôn thiên tử, đề cao vai trò của gia trưởng, coi nhẹ vai trò phụ nữ trong gia đình và xã hội, triệt tiêu tinh thần dân chủ đạt được trong các thời trước, thay đức trị bằng pháp trị, đề cao hình luật... Và như dòng chảy không ngừng, theo cái đà phong kiến tập quyền quan liêu, Hán nho rồi tiếp đó là Tống nho mất dần tố chất nhân văn ban đầu, trở thành công cụ của vương triều thống trị, đàn áp nhân dân cả về tinh thần cả trong kỷ cương xã hội.

Tập đoàn thống trị ngày một xa rời cái đạo của thời Nghiêu, Thuấn và trở thành lực lượng phản động. Bên trong thì sống cực kỳ xa hoa, đàn áp dã man những cuộc nổi dậy đòi quyền sống của nông dân, bên ngoài liên tục mở những cuộc chiến tranh xâm lược gây bao nỗi đau khổ cho nhân dân.

  II. NHO HỌC VÀO VIỆT NAM.

  Trong cuộc hôn phối Mông-Việt, ai mất ai được? Một câu hỏi cần được trả lời thỏa đáng.

Nhiều người nghĩ, tộc Mông là người thắng cuộc vì từ số ít người sống trong vùng giá lạnh hoang vu họ bỗng có một giang sơn mênh mông, đất đai màu mỡ, kinh tế trù phú. Từ một chủng người khả năng sinh sản thấp, do cuộc hòa huyết với người Bách Việt, hậu duệ của người Mông là người Hán mới có khả năng sinh sản cao, trở thành tộc người có số lượng lớn nhất hành tinh hiện nay. Từ văn hóa du mục nghèo nàn trở thành tộc người có nền văn hóa phát triển cao vào bậc nhất thế giới cổ đại, giữ vai trò xung lực cho sự phát triển tiến bộ của châu Á và thế giới.

Trong khi đó với người Bách Việt là sự mất mát: mất đất đai tổ tiên khai phá hàng nghìn đời, mất tên tuổi, mất văn hóa... Những mất mát trên là có thực nhưng chỉ trên ý nghĩa hình thức. Nếu lời Mạnh tử dân vi quý là đúng thì trong sự mất mát đó, 70% người Bách Việt ở lại trên địa bàn Trung Hoa là được lợi! Họ vẫn giữ được tổ Toại Nhân, Thần Nông, họ vẫn sống trên phần đất tổ tiên xưa khai phá. Tuy cuộc xâm lược nào cũng gây nên đau khổ nhưng thực tế lịch sử cho thấy, người Miêu Việt tuy có bị áp bức nhưng không bị biến thành nô lệ, không bị diệt chủng và chỉ vài đời sau đại bộ phận họ đã là công dân của đất nước Trung Hoa thống nhất với nền văn minh rực rỡ! Có sự thực là trong tâm thức của những người này, tuy biết mình là người gốc Việt, họ cũng không mặn mà với gốc gác và tuy người Trung Quốc có xấu xí thì họ vẫn tự hào mình là người Trung Quốc, là người Ðại Hán! Nhiều sách báo vẫn ghi câu chuyện sau: Trong thời kỳ sang Nhật vận động cách mạng, nhà cách mạng Trung Hoa, Tôn Dật Tiên có gặp chính khách Nhật Ki Tsuyoshi (Khuyển Dưỡng Nghị, một mạnh thường quân của cách mạng Việt Nam ). "Ngài nghĩ gì về người An Nam?" Một bận Tsuyoshi hỏi. "Dân An Nam là một dân tộc nô lệ. Trước họ nô lệ chúng tôi, nay họ nô lệ người Pháp. Họ là một dân tộc có đầu óc nô lệ làm sao giúp họ độc lập được?" Tsuyoshi cắt lời Tôn Dật Tiên: "Tôi xin được phép ngắt lời ngài ở đây. Ngài đã có nhận xét không đúng về dân tộc đó. Bây giờ họ thua người Pháp vì họ không có khí giới tối tân chống lại người Pháp, mai sau khi họ có khí giới tối tân họ sẽ đánh bại người Pháp. Ngài nên nhớ rằng dân tộc Lạc Việt này là một chi duy nhất còn lại của Bách Việt đã chống lại sự đồng hóa của người Trung Hoa giữ nền độc lập của tổ tiên họ trong khi các chi Việt khác như Mân Việt đã bị đồng hóa cả ngàn năm." Tôn Dật Tiên ngượng ngùng bỏ đi vì ông là người gốc Mân Việt sống ở Phúc Kiến.

Có lẽ trên thực tế mất mát nhiều hơn cả là tộc Lạc Việt, dân tộc mà như lời nhà ngôn ngữ học Edwin George Pulleyblank: "Thực sự lãnh đạo văn hóa cũng như tiếng nói vùng Ðông Á và Ðông Nam Á" (Cung Ðình Thanh bđd). Ðấy là tộc người chống chọi đến cùng quân xâm lăng để rồi trước sức mạnh cường địch, trở về mái nhà xưa cùng bà con dòng giống của mình.

Ðấy là cuộc tháo chạy trắng tay: mất đất đai, gia sản và mất luôn văn hóa. Từ nghìn năm trước, người Hán nghiêng mình trước người Việt với bộ Mễ như những vị thần của cây lúa nước thì nay kẻ xâm lược chiến thắng cười vang đằng sau đoàn người chạy dài bởi chữ Việt đã mang bộ Tẩu! Không những thế, kẻ xâm lăng vô độ tham lam còn săn đuổi họ tới mảnh đất dung thân cuối cùng!

Tại sao tạo hóa lại đặt lên vai người Lạc Việt số phận nghiệt ngã đến vậy? Nếu lịch sử khác đi... Có nghĩa là nếu đội quân của Ðồ Thư thắng lợi, nếu Triệu Ðà dâng Nam Việt cho nhà Hán, nếu không có Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi... mảnh đất hình chữ S này đã thành cái dải áo của nước lớn phương Bắc! Nếu tình huống như vậy xảy ra, chắc hẳn bản đồ châu Á sẽ khác đi nhiều lắm! Và chắc rằng không còn ai ngồi viết những dòng này...

Nhưng lịch sử cứ vô tư đi con đường của nó!

Sự nghiệt ngã của lịch sử là sau hàng nghìn năm chạy trốn kẻ xâm lấn phương Bắc, trở về mảnh đất tổ tiên xây dựng nhà nước của mình, người Lạc Việt cũng không giữ nổi mảnh đất nương thân cuối cùng của dòng giống. Vào thế kỷ cuối cùng trước Công nguyên, đất Việt lọt vào tay người Hán.

Và tại đây, sự trớ trêu của lịch sử lại xảy đến.

Hai nghìn năm qua đi, từ khi người Lạc Việt trở về quê hương dựng nên thời đại các vua Hùng, do không có văn tự (nói đúng hơn là những ghi chép bị thất lạc, bị hủy hoại) nên người Việt không hề được học được đọc những trang sử của tổ tiên xưa mà chỉ nhớ về cội nguồn qua những truyền thuyết Toại Nhân, Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông... (mà lúc này người Trung Hoa đã nhận là của họ!), qua những câu ca về núi Thái sông Nguồn...

Rồi khi theo sau vó ngựa xâm lăng, các quan lại phương Bắc đến áp đặt nền cai trị, người Việt mới biết đến Nho giáo! Một tình huống trớ trêu bi hài: lớp người ưu tú nước Việt học như nuốt lấy từng lời từng chữ những Thi, Thư của các bậc thánh nhân Bắc quốc mà không hề biết rằng đó chính là văn hóa gốc của tổ tiên mình!

Lịch sử ghi nhận rằng tiếp xúc với Nho giáo là bước chuyển quan trọng của văn hóa Việt. Nhờ chữ Hán cùng những kinh điển Nho giáo mà tầng lớp trí thức Việt ra đời. Có sự thực là người Việt tiếp thu Nho giáo và học chữ Hán khá nhanh bởi trong chữ Hán có khá nhiều chữ Việt. Họ cảm nhận rằng, trong những Thi, Thư đức thánh dạy phần nhiều gần gũi với tâm hồn với tình cảm Việt như ngũ luân nói về quan hệ vua tôi, cha con, anh em, bạn bè mà nội dung là vua sáng, tôi trung, phụ từ tử hiếu...như cái đạo nguyên sơ của thời Nghiêu, Thuấn. Ngũ thường nhân, nghĩa, lễ, trí, tín dạy về đạo của người quân tử. Nhờ có chữ Hán cùng những kinh điển Nho giáo mà văn minh của người Việt tiến bộ rõ rệt, bắt kịp đà phát triển của khu vực, hòa nhập với khối văn hóa Nho giáo phương Ðông. Ngay trong thời ngoại thuộc, một số người đã học, thi đỗ Hiếu liêm, Mậu tài (tương đương cử nhân sau này) sang làm quan bên Bắc quốc. Lý Tiến, người Cao Hưng, do tài học được giữ chức Thái sử niên hiệu Trung Bình đời Hán Linh đế (183-189). Lý Cầm làm Túc vệ (205-219) sau giữ chức Tư lệ hiệu úy. Trương Trọng người Hợp phố làm hầu cận vua Hán sau làm Thái thú Kim Thành. Những người này giữ được thể diện quốc gia khi ứng xử với vua Hán, đấu tranh để người Việt được trọng dụng ngang với người Hán. Tinh Thiều trí thức đời Lương (505-543) không nhận chức Quảng dương môn lang do Thượng thư Sài Tiến đề nghị, lui về quê sau giúp Lý Bôn. Khương Công Phụ đậu tiến sĩ đời Ðường Ðức tông (789-804) làm đến chức Bình Chương. Cũng nhờ chữ Hán và Nho học, chúng ta mới có những nhà sư học rộng tài cao của thời Lý-Trần, mới có nhà nho bậc thầy là Chu Văn An rồi những Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp sau này. Ðấy là tầng lớp sĩ phu làm nên tinh hoa về trí tuệ và nhân cách cho người Việt, là giá trị vững bền của những tấm gương sáng cho muôn đời. Nhờ kiến thức học được từ Kinh, Thư, chúng ta xây dựng nhà nước tự chủ có bài bản, xứng đáng là nước văn hiến.

Ðến nửa sau thế kỷ XVIII, do hoàn cảnh đặc biệt của đất nước: mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt, những cuộc khởi nghĩa của nông dân liên tiếp nổ ra biểu dương sức mạnh của lớp người bị trị hướng tới tự do, dân chủ, nhân quyền, đồng thời cũng do sự tích lũy lâu dài trong thời gian, chữ Nôm nghệ thuật hình thành, nền văn chương Việt Nam bùng phát, đạt được những thành tựu chưa từng có. Nhiều tác giả và tác phẩm lớn ra đời: Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Chinh phụ ngâm của Ðặng Trần Côn, thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều của Nguyễn Du... Ðấy là những thành tựu cao nhất mà nền văn hóa Nho giáo đạt được, tạo nên thời kỳ phục hưng trong văn hóa dân tộc.

Tuy nhiên, do tác động của Hán nho mà ngay khi giành được tự chủ, các vương triều Việt Nam học lấy những thói xấu của triều đình phong kiến phương Bắc: độc tôn uy quyền vô hạn của vua chúa, bên trong ra sức bóc lột và dùng hình luật nghiêm khắc đàn áp dân chúng, bên ngoài làm những cuộc xâm lăng lấn đất gây tội ác với các nước láng giềng. Ngay như Lê Thánh tông được coi là ông vua sáng cũng không thoát khỏi những việc làm như vậy. Ðọc sử Trung Hoa ta từng ghê sợ về những vụ chém giết đẫm máu tranh giành ngôi vị thì cũng gặp những bài học đau đớn ấy ở các vương triều Việt Nam mà việc giết cha con Ðinh Bộ Lĩnh cùng các công thần nhà Ðinh là màn mở đầu. Tiếp đó là hành động của nhà Lý đối với nhà Lê, Nhà Trần với nhà Lý, nhà Hồ với nhà Trần... Trong khi vua chúa tranh giành như vậy thì ngoài xã hội, tinh thần gia trưởng được đề cao, người dân, nhất là phụ nữ bị tước mất nhiều quyền mà trước đây họ được hưởng.

Ðiều đáng buồn là hàng nghìn năm trí thức Việt không biết được rằng, đạo Nho do người Hán, người Ðường mang sang đã suy đồi, đã bị đánh tráo, đã mất đi những nhân tố tốt đẹp nhất của nó. Nói chính xác hơn là hòa vào cái tốt nguyên sơ lại có nhiều yếu tố tiêu cực, và đều được đề cao dưới tên tuổi của những thánh nhân. Vì vậy, như những học trò nhỏ, trí thức Việt nao nức học tất cả thượng vàng hạ cám những gì được các thầy Tàu rao giảng qua những chú sớ. Chính vì thế, rất sớm, trí thức Việt nhiễm tư tưởng Hán nho rồi Tống nho thượng tôn vương quyền, đề cao gia trưởng, đàn áp dân chủ cùng phụ nữ, coi rẻ một số truyền thống văn hóa dân tộc như coi múa hát là xướng ca vô loại, xóa bỏ một số phong tục tập quán đặc hữu... Kết quả là không ít trí thức Việt xa rời nguồn gốc dân tộc, tự nguyện làm tôi trung cho ngoại bang mà người như Lê Tắc là tiêu biểu. Kết quả là tinh thần nệ ngoại, phục ngoại trở nên quá quắt mà điển hình là triều Nguyễn suy đồi đến độ bỏ bộ Luật Hồng Ðức đậm đà tinh thần dân tộc để sao chép y nguyên luật nhà Thanh thành Luật Gia Long, mọi quan chế đều nhất nhất theo phương Bắc. Cũng trong hướng suy đồi này là tình trạng hư học lên đến mức còn tệ hại hơn cả người thầy Tàu! Tất cả những sự sa đọa về văn hóa ấy dẫn đến nghèo nàn lạc hậu và họa mất nước.

Nhiều học giả nhận định rằng, sự thất bại của Việt Nam trước thực dân Pháp là thất bại của văn hóa. Ðiều này hoàn toàn chính xác. Ðến nửa đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa Hán nho, Tống nho phương Bắc áp đặt vào Việt Nam đã bộc lộ đến tận cùng sự suy đồi. Nó như tấm lưới dầy trùm lên xã hội, trói buộc con người tới nghẹt thở. Nó làm cho cả dân tộc chìm vào cõi tối tăm lạc hậu, mất hết sức lực trước đội quân xâm lược không mấy hùng hậu.

III. VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI THUỘC PHÁP  

Sử sách đã nói nhiều về tội ác của thực dân Pháp đối với dân tộc ta:

Chúng cướp hết non cao biển rộng

Cướp cả tên nòi giống tổ tiên...

Ðấy là cách nói của thơ, cách nói hình tượng nhưng đi vào thực tế mới thấy hết mức độ tham lam tàn bạo của lũ thực dân. Trong 80 năm chiếm nước ta, người Pháp nắm toàn bộ nền kinh tế với những cơ quan và công ty như: Ðông Dương ngân hàng phát hành giấy bạc, Công ty rượu Fontaine, Công ty Thủy điện, Sở Ximăng Hải Phòng, Công ty chế tạo rượu bia, nước ngọt Hommel, Công ty Nông nghiệp An Nam, Công ty Rừng và các xưởng cưa Biên Hòa, Công ty Tàu điện Ðông Dương, Công ty xây dựng cầu cống, Công ty các đồn điền cao su đất đỏ, Công ty Hỏa xa Vân Nam, Công ty Cao su Cửu Long Giang, Công ty Dệt sợi Nam Ðịnh, Công ty Ðường Ðông Dương, Công ty Vận tải hàng hải Nam Kỳ và Ðông Dương, Công ty Khai thác thiếc và Wolframs Bắc kỳ, Công ty Than Hòn Gay, Công ty Khai thác khoáng chất Ðông Dương... Có thời một số nhà tư sản dân tộc như Bạch Thái Bưởi mở công ty vận tải khá có tiếng tăm nhưng khi thành mối cạnh tranh với ngành vận tải của tư bản Pháp liền bị dẹp tiệm. Trong thời khủng hoảng kinh tế 1929-1932 Ngân hàng Ðông Dương thẳng tay bóp chết các doanh nghiệp bản xứ.

Trên lĩnh vực nông nghiệp, thực dân cũng chiếm số lượng không nhỏ ruộng đất của dân ta: Năm 1890 chiếm 11.390 ha. Năm 1939 chiếm hơn 1 triệu ha toàn Ðông Dương, riêng Nam Kỳ 610.000 ha. Người Pháp độc quyền xuất cảng lúa gạo, một nguồn lợi lớn của Việt Nam. Một cách bóc lột tàn bạo nữa là nhiều thứ thuế khiến nhân dân ta lâm vào cảnh bần cùng... (Phạm Văn Sơn, sđd)

Chính sự bóc lột tàn bạo ấy đã buộc người dân Việt Nam phải vùng lên đấu tranh. Những cuộc tranh đấu bị dìm trong máu lửa.  

Ðấy là sự thực không ai chối cãi nổi. Tuy nhiên cũng còn sự thực khác, đó là trong thời thuộc Pháp, văn hóa Việt Nam có bước tiến đáng kể.

Trước hết đó là việc sáng chế ra chữ quốc ngữ. Ban đầu chỉ là thứ chữ của những nhà truyền giáo sau đó được truyền bá rộng rãi. Tiếp đó là báo chí chữ quốc ngữ ra đời đưa thông tin đến dân chúng. Cũng nhờ có chữ quốc ngữ mà việc học tập được mở rộng trong cả nước, số người biết đọc biết viết tăng lên, tạo ra lớp công chúng độc giả của báo chí, văn học. Văn chương, triết học cùng khoa học phương Tây được truyền bá vào trong nước, tạo ra lớp trí thức mới. Nhiều loại hình nghệ thuật như tân nhạc, kịch nghệ du nhập vào trong nước. Trường Mỹ thuật Ðông Dương ra đời kết hợp được kỹ thuật hiện đại của phương Tây cùng nghệ thuật truyền thống của dân tộc, đào tạo nhiều họa sĩ tài danh như Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân... Trên lĩnh vực văn chương, nhiều nhà thơ, nhà văn tài năng xuất hiện đưa giai đoạn 1930-1945 thành thời kỳ phát triển rực rỡ của văn hóa Việt Nam. Người Pháp cũng du nhập khoa học khảo cổ vào nước ta và phát hiện ra những nền văn hóa tiền sử như Sơn Vi, Hòa Bình, Ðông Sơn, Oc eo... đưa nước ta trở thành nổi tiếng trên bản đồ khảo cổ thế giới. Cũng giai đoạn này, một lớp trí thức khoa bảng Việt Nam được đào tạo trong nước hay tại nước Pháp trở thành lực lượng quan trọng trong kháng chiến chống Pháp cũng như xây dựng sau này. Nhận định về lớp người này, một trong những lãnh tụ của Ðảng Cộng sản Việt Nam, nhà thơ Tố Hữu nói: "Ðến bây giờ, tôi có đầy đủ căn cứ thực tế để khẳng định: Hầu hết các nhà trí thức Nho học và Tây học tham gia sự nghiệp giải phóng dân tộc đều vô cùng chân thành, vô cùng yêu nước, luôn luôn vững như bàn thạch trong bất kỳ hoàn cảnh bão táp nào của cách mạng, luôn luôn say mê phấn đấu vì cái thật, cái tốt và cái đẹp (chân, thiện, mỹ) và luôn luôn vượt qua tất cả những khó khăn quá lớn, quá kéo dài về vật chất và cả về tinh thần để sáng tạo, sáng tạo và sáng tạo. Ðến bây giờ, tôi đã đủ căn cứ thực tế để khẳng định: Trần Ðại Nghĩa, Văn Cao, Trần Văn Giàu, Trần Huy Liệu, Ðào Duy Anh, Ðặng Thai Mai, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Ðình Thi, Ðỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Xuân Khoát... xứng đáng được truy tặng hoặc tặng Huân chương Sao vàng vì những đóng góp to lớn của các anh cho nền khoa học kỹ thuật, nền khoa học xã hội và nền văn học nghệ thuật dân tộc..." (55) Chúng tôi thiết nghĩ, nhận định như thế là công bằng. Và không chỉ thế, thời thuộc Pháp còn cho ta những lãnh tụ tài năng của dân tộc và cách mạng mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh rồi Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Phạm Văn Ðồng, Võ Nguyên Giáp... cùng nhiều trí thức nổi tiếng khác như Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Huyên, Phan Anh, Nguyễn Văn Tường, Tạ Quang Bửu, Tôn Thất Tùng, Hoàng Xuân Hãn...

Có thể nói rằng, sau những lớp sĩ phu thời Lý,Trần, Lê, Nguyễn thì những vị kể trên xứng đáng là lớp kẻ sĩ kế tục mang lại vinh quang cho văn hóa Việt Nam.

Một câu hỏi nảy sinh: nguyên nhân nào làm cho văn hóa Việt Nam có bước phát triển như vậy? Rõ ràng đấy không phải là chủ trương hay ý muốn của người Pháp. Với chính sách chia để trị, chính sách ngu dân, thực dân Pháp muốn kìm hãm nước ta và cả Ðông Dương mãi mãi trong vòng tăm tối để dễ bề cai trị. Nhưng như phép biện chứng phương Ðông từng chỉ ra: trong dương có âm, trong âm có dương! Ðó chính là sự phát triển khách quan ngoài ý muốn của thực dân. Có thể kể ra nhiều nguyên nhân cụ thể, nhưng theo chúng tôi, nguyên do chủ yếu là người Pháp hôm nay không thể là những kẻ như Mã Viện, Trương Phụ ngày xưa nung chảy trống đồng, thiêu hủy sách vở. Không thể như Tôn Sĩ Nghị theo lệnh Càn Long: "Sang An Nam không được để bất cứ viên gạch trong đình chùa miếu mạo nào không bị vỡ đôi!" Người Pháp không thể áp đặt chính sách hủy diệt văn hóa thuộc địa mà trong chừng mực nào đó buộc phải để cho văn hóa Việt Nam được sống theo bản năng tự nhiên của mình. Trong thời kỳ cai trị, thực dân tuy có chế độ kiểm duyệt gắt gao cùng sự đàn áp khốc liệt tư tưởng yêu nước và cách mạng nhưng vẫn để cho những hoạt động văn hóa dân tộc và nhân bản (có thời được gọi là nhân đạo chung chung) một khoảng không gian khá rộng rãi để hít thở khí trời. Mặt khác, do bản sắc nhân chủ, thái hòa và tâm linh thấm đẫm trong máu huyết nên người Việt mềm dẻo, uyển chuyển thu nhận, đồng hóa những yếu tố tốt đẹp của nền văn hóa phương Tây. Ðấy là trên những nét tổng quan, đại thể, còn trong cuộc sống không phải không nảy sinh những chống đối : Thôi thôi lạy mợ xanh căng lạy/ mả tổ tôi không táng bút chì! (Tú Xương) Rồi : Chữ của bọn Tây dương đặt ra ngoằn ngoèo như giun như dế! Nhưng khi nhận chân vấn đề, trí thức Việt đã vận động đồng bào làm cuộc duy tân: cắt tóc ngắn, để răng trắng, học chữ quốc ngữ... Chính hai yếu tố đó đã tạo điều kiện cho bước thăng hoa của văn hóa Việt Nam giai đoạn 1930-1945.  

  IV. TÌM LẠI VĂN HÓA VIỆT  

Có cảm nhận là không ít người Việt thấy bơ vơ lạc lõng ngay trên quê hương mình và cay đắng thấy mình bất hạnh phải là người Việt! Sống trong nước người ta cảm thấy không an toàn, không được đảm bảo. Mỗi khi đến các cơ quan công quyền thì bị hành là chính với 1001 cách nhũng nhiễu từ tinh vi đến trắng trợn. Khi có dịp ra ngoài, nếu có sơ sẩy điều gì thì chẳng biết kêu ai! Những người Việt bị trấn lột bị giết hại ở Nga, bị đánh đập bị hãm hiếp ở Ðài Loan cũng im lìm như mọi nỗi im lặng đáng sợ... Tại sao khi nhân loại tiến đến mái nhà chung thì người Việt lại bơ vơ lưu lạc ngay trên đất nước mình? Chính bởi lẽ, đa số người Việt không có quyền gì cũng không được có trách nhiệm gì với đất nước. Yêu nước cũng là một thứ độc quyền! Cái quyền lớn nhất là quyền công dân thì cũng chỉ là hình thức. Với không ít người, Tổ quốc từ lâu mất ý nghĩa thiêng liêng mà chỉ như chuyến tầu chợ, như căn nhà trọ nơi anh ta ở đậu qua ngày. Ðáng sợ là chưa có gì gắn kết mỗi con người Việt Nam lại thành sức mạnh!

Sẽ có người tranh biện với tôi rằng, chả lẽ lại chỉ một màu xám xịt vậy sao? Chúng ta đã làm được biết bao việc!

Xin thưa, chúng tôi không muốn làm kẻ bới bèo ra bọ, hay đeo kính đen nhìn xã hội. Chúng tôi cũng không chê trách, hay quy tội cho ai. Công bằng mà nói, mấy chục năm làm nhà báo viết theo nghị quyết, chúng tôi không phải không có tội trong việc này. Nhưng bây giờ chưa phải lúc luận tội mà chính là lúc tìm con đường đưa dân tộc thoát khỏi bước hiểm nghèo.

Vâng, chúng tôi hoàn toàn không phủ định hay coi nhẹ những gì chúng ta làm được cho đất nước. Những thành tựu về văn hóa là rất đáng kể. Từ 95% số dân thất học, chúng ta đưa dân tộc trở thành có trình độ học vấn vào loại cao của khu vực. Bên cạnh đó là hoạt động văn học nghệ thuật xôm tụ chưa từng có cùng những thành tựu về kỹ thuật...

Nhưng nói một cách nghiêm túc, nếu hoạt động kinh tế đi dần vào bài bản thì hoạt động văn hóa mới ở bề ngọn, còn thiếu căn cơ. Người tinh ý sẽ nhận ra hầu hết các hoạt động văn hóa của ta là chắp vá, chưa có một chiến lược xuyên suốt nên chưa bền vững, không ngăn nổi đà băng hoại của văn hóa dân tộc.

Tại sao vậy? Chính vì chúng ta chưa hiểu biết về văn hóa Việt Nam. Khi nào còn chưa nhận thức được thực chất của văn hóa Việt Nam, chúng ta chưa thể có giải pháp thỏa đáng để phục hưng dân tộc.  

Ðáng tiếc là đến nay, nhiều bậc khoa bảng người Việt trong khi tìm nguyên nhân cho sự lạc hậu của đất nước vẫn đổ mọi tội lỗi vào một cái bị là văn hóa Nho giáo, Khổng giáo! Việc làm không khoa học đó không những không thuyết phục mà nguy hại hơn, không giúp tìm ra con đường canh tân đất nước!

Một câu hỏi đặt ra: văn hóa Nho giáo hư hỏng đến vậy thì phải chăng là nên thay văn hóa?Nếu thay thì thay bằng gì đây? Không ai trả lời được và vì thế, trong lĩnh vực đổi mới văn hóa, nhiều năm nay không tiến triển, như lạc vào mê cung...

Ðể giải quyết căn cơ việc này thiết tưởng phải có cái nhìn căn cơ khác. Ðó là đánh giá thực chất cái mà lâu nay ta quen gọi là Nho giáo.

Trước hết, cách gọi như trên là không thỏa đáng, không khoa học. Không hề có cái gọi là Nho giáo đồng nhất bởi lẽ Nho giáo như ta thấy hiện nay không thuần nhất mà là hậu quả của sự trộn lẫn giữa Việt nho, Hán nho, Tống nho, Minh, Thanh nho... Thuật ngữ Việt nho được học giả Kim Ðịnh đề xuất 30 năm trước trong bộ Triết lý An vi của ông. Ðáng tiếc là ít người nhận ra ý nghĩa phát hiện này.

Nay, nhờ những thành tựu mới nhất của khoa Di truyền học, chúng ta tìm ra tổ tiên loài người, tổ tiên người Việt, người Hán, chúng ta cũng tìm được lịch sử xa xưa của mình và nhận ra Văn hóa tận nguồn mà tổ tiên ta để lại trên đất Trung Hoa cũng như văn hóa Việt thời Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương trên đất Việt chính là VIỆT NHO. Việt nho là văn hóa mở đầu cho nền Nho giáo Trung Hoa rồi theo dòng lịch sử nó chuyển hóa thành Hán nho, Tống nho... Khi đến Việt Nam, Hán nho, Tống nho đàn áp Việt nho, triệt tiêu nhân tố dân chủ nhân bản cùng những yếu tố Việt đặc sắc rồi áp đặt tư tưởng Hán nho, Tống nho tạo ra thứ Nho giáo hỗn tạp cái tốt lẫn cái xấu, cái tích cực lộn trong cái tiêu cực. Trải nhiều thế hệ, theo định hướng của nhà cầm quyền qua thi cử, sử dụng quan lại, trí thức Việt đã học lấy rồi coi nó là văn hóa của mình. Một sự ngộ nhận tệ hại kéo dài.

Nay muốn phục hưng dân tộc, tất yếu chúng ta phải phục hưng văn hóa. Nội dung cuộc phục hưng này là tìm lại văn hóa cội nguồn của dân tộc. Ðấy là việc tách Việt nho ra khỏi cái mớ hỗn tạp Hán nho và Tống nho để trả lại cho dân tộc ta văn hóa gốc của mình.

Khi kiến nghị điều này, chúng tôi đã nghĩ tới việc phải trả lời hai câu hỏi sau:

1/ Văn hóa gốc của người Việt là gì?

2/ Nó giúp gì cho phục hưng dân tộc?

Ðây là một chương trình quá lớn đòi hỏi sự đóng góp trí tuệ của nhiều bậc thức giả trong và ngoài nước. Với kiến văn hạn hẹp của mình, chúng tôi chỉ xin nêu một vài gợi ý từ những điều học được trong sách vở cổ kim cũng như chiêm nghiệm của bản thân:

Trong cốt lõi, văn hóa Việt Nam là sự tổng hòa của ba yếu tố nhân chủ, thái hòa và tâm linh. Trong quan hệ Thiên - Ðịa - Nhân thì con người là trung tâm, là chủ. Kinh Thư viết: "Thiên thông minh tự ngã dân thông minh. Thiên minh úy tự ngã dân minh úy." (Trời thông minh là do dân ta thông minh. Trời gieo họa phúc theo sự yêu ghét của dân ta. Cao Dao mô câu 7). Vị trí con người đứng trước cả trời. Trời tuy lớn cũng theo lòng người mà hành đạo. Với đất, con người là chủ địa chủ. Các bậc vua vừa là chủ đất vừa là chủ các vị thần. Như vậy là trong mối quan hệ hữu cơ thiên địa nhân thì con người được tôn trọng được đề cao. Ðó chính là tiền đề cho nền dân chủ mà tiêu biểu là câu nói của Mạnh tử: dân vi qúy hay lời nói của Lục sinh với Hán Cao tổ vương giả dĩ dân vi thiên! (vua lấy dân làm trời). Nhân chủ dân chủ là nguyên lý là lẽ sống còn của người Việt. Khi có nhân chủ, dân chủ thì trị. Khi mất nhân chủ dân, chủ thì suy loạn.

Thái hòa là đặc trưng quan trọng thứ hai trong văn hóa Việt. Ðó là mối quan hệ hài hòa giữa các nguyên lý khác nhau của cuộc sống. Trong quan niệm của người Việt, không có yếu tố nào độc tôn lấn át hay phủ định các yếu tố khác. Dương là tích cực nhưng cuộc sống không chỉ có dương mà là sự hài hòa: trong dương có âm, trong âm có dương. Ngũ hành có tương sinh lại có tương khắc, không yếu tố nào thống trị tuyệt đối, không yếu tố nào không cần cho vũ trụ cho nhân sinh. Chỉ có tổng hòa các nhân tố đó làm nên trị. Trái lại là loạn. Con người sống trong mối thái hòa với nhau và với vũ trụ, thiên nhiên. Thiên nhiên nuôi sống con người nên con người phải bảo vệ thiên nhiên để cùng tồn tại. Trong đạo làm người thì trung dung là cách ứng xử được coi trọng, quán xuyến trong mọi quan hệ. Ta thấy, như đã dẫn, yếu tố nhân chủ cũng như thái hòa của người Việt cổ được lưu giữ trong các cộng đồng người bản địa châu Mỹ.

Tâm linh là nhân tố quan trọng thứ ba trong văn hóa của người Việt. Người Việt xưa tin rằng trong tự nhiên có quỷ thần còn con người có linh hồn. Con người sống trong sự trông coi giữ gìn của thần cũng như của quỷ. Cả quỷ cả thần đều ủng hộ những người nhân nghĩa và trừng phạt những kẻ làm điều ác. Dù thần dù quỷ thì cũng không thể làm phương hại đến những người nhân đức chân thành. Ðức chân thành cảm động được quỷ thần. Ðời sống tâm linh khiến con người biết sợ làm điều ác, không chỉ vì cuộc đời hiện tại mà còn cả khi sang thế gới bên kia. Do thiên về tâm linh nên người Việt ưa thi ca, nhạc vũ. Do thiên về tâm linh nên người Việt chú ý giữ tâm hồn mình để tránh làm điều ác.

Ba đặc điểm trên liên hệ hữu cơ với nhau tạo nên bản sắc văn hóa của người Việt đó là tinh thần dân chủ, ưa sự hài hòa, trung dung, mềm dẻo, dễ thích ứng. Chính vì thế mà người Việt chấp nhận cả Nho, Phật và Lão. Sở dĩ Nho, Phật, Lão tam giáo đồng nguyên được chính là nhờ vào khả năng dung hợp của văn hóa Việt.

Với câu hỏi thứ hai có lẽ bây giờ đã có câu trả lời thuyết phục. Từ giữa thế kỷ XIX văn hóa phương Ðông dường như bị đè bẹp trước văn minh phương Tây. Suy ngẫm về sự lạc hậu của mình, trí thức phương Ðông đổ tội cho văn hóa Nho giáo. Người Trung Hoa đổ tội cho chữ Hán nên muốn La tinh hóa chữ Hán để dễ học hơn. Trí thức phương Ðông cũng đua nhau học tập những triết học hiện đại phương Tây, coi đó là phương tiện cho tiến bộ... Hơn thế kỷ qua đi, phương Ðông học được nhiều ở phương Tây không chỉ khoa học kỹ nghệ mà cả triết học tư tưởng. Nhờ vậy mà phương Ðông tiến bộ. Ðến nay, khi làm quen với tất cả những triết thuyết phương Tây, những bậc thức giả phương Ðông nhận chân ra rằng, các triết thuyết duy lý phương Tây chỉ mang tính cấp thời mang tính giai đoạn, không có triết thuyết nào bền vững theo thời gian. Triết thuyết duy lý có thể đem đến sức mạnh vật chất nhất định cho con người nhưng lại làm nghèo nàn con người về tâm hồn và góp phần tàn phá thế giới. Nhận ra điều đó, nhiều trí giả đã trở lại với văn hóa với triết học cội nguồn phương Ðông mà những quan niệm nhân chủ, thái hòa, tâm linh có thể là phương cách tốt nhất cứu thế giới. Với phát triển công nghiệp một cách mù quáng, sự tàn phá thiên nhiên đến cạn kiệt, khí thải nhà kính, tăng nhiệt độ Trái đất, sự sống trên hành tinh bị đe dọa. Trước mối đe dọa tới vận mệnh nhân loại, nhiều người lo lắng. Nhưng mọi triết thuyết hiện đại phương Tây đều tỏ ra bất lực. Nhiều người nhận ra chỉ có tư tưởng nhân văn phương Ðông mới cứu nổi thế giới.

Việt Nam chúng ta lạc hậu, chậm phát triển nhưng nếu biết phát huy văn hóa triết học phương Ðông tìm ra con đường độc đáo của mình, rất nhiều khả năng chúng ta tiến nhanh vượt bậc. Nếu cứ lẽo đẽo theo chân các nước phương Tây có lẽ chẳng bao giờ chúng ta đuổi kịp họ. Nhưng nếu phát huy được nhân chủ, dân chủ, nhận được năng lượng từ văn hóa cội nguồn rất có thể chúng ta đưa đất nước đi lên một cách nhàn nhã mà kết quả lớn!

Chính vì thế việc tìm về văn hóa cội nguồn, xây dựng xã hội nhân chủ, thái hòa, tâm linh là phương cách phục hưng dân tộc.  

Văn hóa cội nguồn của dân tộc Việt đã được Khổng Tử đúc kết trong Kinh, Thư. Vì vậy, trước hết chúng ta phải Loại bỏ khỏi đầu óc quan niệm sai lầm cũ cho đó là văn hóa Tàu. Khẳng định rằng đó là tài sản văn hóa, tinh thần của tổ tiên mà ta có quyền thừa kế, ít ra là bình đẳng với người Trung Quốc.  

Tiếp đó chúng ta phải đọc lại, học lại bằng chính con mắt và trí tuệ chúng ta các kinh điển để không bị nhiễu vì những chú sớ của Hán nho, Tống nho, để tinh lọc từ đó những yếu tố tiêu biểu nhất của văn hóa Việt.

Tuy nhiên, có sự thật là, mấy chục năm qua cũng như hàng trăm năm trước, nhắc tới kinh điển Nho giáo, chúng ta thường mang nặng mặc cảm của kẻ đọc nhờ học mướn từ văn hóa phương Bắc. Người trí thức có lập trường dân tộc thường bối rối: liệu mình hiểu thế này, nghĩ thế này có Tầu quá không? Và bâng khuâng giữa hai ngả: đâu là ngoại lai? Ðâu là dân tộc? Và do không có được sự minh triết nên lắm khi chính của mình thì lại cho là Tàu còn của Tàu lại nâng niu nhận là của mình để rơi vào bi kịch mồ cha không khóc lại khóc đống mối!

Hôm nay, nhờ tìm lại được cội nguồn văn hóa dân tộc, chúng ta có thể và phải tính lại nhiều điều.

Về nhận thức, chúng ta thấy vua Nghiêu vua Thuấn là ông vua Việt. Không theo chủ nghĩa chủng tộc nhưng chúng ta biết rằng, trong genome - trong bộ gien các vị có một phần máu Việt còn về linh hồn, tư tưởng các vị thì Việt đến 90%. Tương tự thế, Khổng Tử cũng là bậc thánh nhân mang dòng máu cùng tâm hồn tư tưởng Việt. Và vì thế, Tứ thư, Ngũ kinh cũng là hồn Việt là văn hóa Việt. Ðã là của ta thì ta tự do thấm mình trong đó không sợ ai gọi là vay mượn, không cho là vọng ngoại.

Ðể khai thác được gia sản văn hóa của tổ tiên, chúng ta phải làm gì? Chúng tôi nghĩ rằng, người trí thức Việt bây giờ cần học lại Kinh, Thư một cách nghiêm túc để hiểu để thấu được hồn dân tộc, rồi từ đó sống và ứng xử theo văn hóa của tổ tiên. Làm vậy phải chăng là phục cổ? Phục cổ phải đâu là xấu? Nếu cổ mà hay thì sao không phục? Nhưng thực tế cho thấy có những điều xa xưa nhưng không bao giờ cổ lỗ! Những điều mà Hồ Chí Minh dạy chúng ta vẫn chả luôn mới mẻ đấy thôi?

Phải cho lớp trẻ cùng những tiếng Anh tiếng Pháp và điện toán được học chữ Nho. Chỉ biết chữ Nho mới hiểu được ngôn ngữ Việt và văn hóa Việt. Riêng những nhà văn, nhà báo phải là người thông thạo chữ Nho và cũng phải học thông kinh sử.

Thiết nghĩ, cũng tới lúc phải dạy kinh Dịch cho học sinh. Dạy kinh Dịch là dạy cách tư duy, điều rất cần cho con người trong thời buổi kinh tế tri thức. Dịch chỗ cao siêu thì tìm hiểu suy ngẫm về vũ trụ nhưng chỗ gần gũi thì lại rất gắn bó với con người. Sách Tám chữ Hà Lạc và quỹ đạo đời người của nhà văn Xuân Cang là một thí dụ. Ðó là môn khoa học dự báo. Từ tám chữ Hà Lạc ông tìm ra quỹ đạo đời người giúp con người thấy một cách chung nhất quỹ đạo mình sẽ đi trong cuộc đời để rồi từ đó có cách sống hợp tự nhiên. Khoa học này người nông nổi võ đoán sẽ gọi là mê tín dị đoan nhưng thử hỏi thế nào đây mới không là dị đoan mê tín?

Nhưng trùm lên trên tất cả, cần thiết hơn tất cả, theo tinh thần văn hóa Việt là phải xây dựng một xã hội nhân chủ trong đó con người được coi trọng hơn tất cả, dù đó là xã tắc hay quân vương chứ chưa kể đến những chủ thuyết trừu tượng. Mọi chủ thuyết chỉ là phương tiện. Con người mới là cứu cánh. Một xã hội như thế phải là xã hội dân chủ cao. Người ta thường lo rằng, nước ta nghèo nàn lạc hậu, dân trí thấp nên chưa thể sử dụng được quyền dân chủ! Lầm to. Thời thượng cổ người Bách Việt đã từng sống dân chủ vào bậc nhất nhân loại. Chính vì thế chúng ta góp cho nhân loại văn minh lúa nước rực rỡ. Sử gia người Việt Lê Thành Khôi, một nhà thông thái từ sử liệu thế giới cho hay: cho đến thế kỷ XX, người đàn bà Việt có địa vị cao hơn người đàn bà Pháp trong xã hội! (Lê Thành Khôi đọc cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. http://zdfree.free.fr/diendan/articles/u126ltkhoi.html#bs#bs). Thời chống Mỹ có câu: Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong! Dân chủ chính là chìa khóa vạn năng, là cuốn sách thần giải được mọi khó khăn trên đường đi của dân tộc. Nếu dân tộc này mở mày mở mặt lên được cũng chỉ có phương cách duy nhất là dân chủ!

. Tìm đọc : Tìm Lại Cội Nguồn và Văn Hoá của Người Việt của Hà Văn Thùy - NXB Văn Học 2007



CÒN TIẾP ...




© TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN .



TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ TRUYỆN NGẮN NHẬN ĐỊNH