TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



. Sinh năm 1944 .
. Tại Thái Bình .
. 1967 tốt nghiệp khoa Sinh, Đại học Tổng hợp Hà Nội.
. 1973 làm việc tại Hội Văn nghệ Thái Bình.
. 1979 làm việc tại Hội Văn nghệ Kiên Giang.
. Từ 1996-2000 phóng viên báo Văn Nghệ Hội Nhà văn Việt Nam.
. Hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

- Bên bờ vịnh Rạch Giá tập truyện
- Thời gian gom nhặt (thơ)
- Trấn Hà Tiên và Tao Đàn Chiêu Anh Các (biên khảo)
- Nguyễn Thị Lộ (tiểu thuyết)
- Thử tìm lại cội nguồn người Việt (biên khảo)
















TÌM LẠI

CỘI NGUỒN

VĂN HOÁ

CỦA NGƯỜI VIỆT

KÍNH DÂNG ĐỒNG BÀO TÔI

KÍNH DÂNG TỔ QUỐC TÔI



TỰA

C on người sinh ra, lớn lên, kiếm ăn, yêu đương, sinh con đẻ cái, chiến tranh giành giật... Ðến một lúc nào đó dừng giữa chừng công việc, anh ta tự hỏi: Ta là ai? Ta từ đâu tới? Chính lúc này, con người sinh học đã trở thành con người triết học.

Hàng vạn năm, từ thế hệ này sang thế hệ khác, con người triết nhân - những chàng hoàng tử Hamlet của mọi thời, khi bộ hành trên đường, lại hỏi mình câu hỏi muôn thuở ấy! Có lẽ đã có nhiều lời giải ngay từ tiền sử nhưng chúng không đến được với ta vì thời đó chưa có ký hiệu ghi chép và cũng có thể ký hiệu bị thời gian xóa nhòa. Vì vậy, câu hỏi về cội nguồn luôn là điều mới mẻ.

Với người Việt, do số phận đặc biệt của dân tộc, vấn đề cội nguồn lại càng nhức nhối hơn. Sự nhức nhối hiện thành câu tục ngữ Chim có tổ, người có tông, một trong những phương ngôn giầu ý nghĩa nhất của văn hóa Việt.

Với người Việt, có lẽ ý thức tìm về nguồn cội trở nên đòi hỏi cấp thiết nhất vào thế kỷ thứ X khi lần đầu tiên sau 1000 năm nô lệ, chủ quyền được giành lại. Hậu thế biết ơn Trần Thế Pháp với cuốn Lĩnh Nam chích quái của ông. Chọn những câu chuyện quê mùa lầm lụi trong bùn đất, lượm lặt từ những trang sách nước ngoài, ông ghi lại cho đời sau biết về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ cùng một bọc trăm trứng. Biết ơn Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên hai vị sử gia dám cả gan ghi những điều hoang đường diệu vợi vào chính sử. Những dòng chữ đó như đám bèo mà nhiều thế hệ Việt bám lấy để quẫy đạp lội ngược dòng lũ thời gian tìm về nguồn cội.

Nhưng, nhiều điều cha ông nâng niu trân trọng thì con cháu không tin. Không thể trách họ. Sự đời là thế, con cháu đã thành con người triết học mà đặc trưng là nghi ngờ tất cả! "Bốn nghìn năm văn hiến ư? Các cụ nhà mình khí đậm máu sô-vanh! Lấy đâu ra, ngay cả thời đại các vua Hùng cũng mù mờ lắm: làm sao 18 đời vua lại kéo dài những hơn 2000 năm?!" Chính ngay Ðại Việt sử ký toàn thư, pho sử lớn và uy tín nhất nước cũng viết: "Tích Quang người quận Hán Trung, khi ở Giao Chỉ lấy lễ nghĩa dạy dân. Lại lấy Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân... Tục người Cửu Chân chỉ làm nghề đánh cá, đi săn, không biết cày cấy. Diên mới dạy dân khai khẩn ruộng đất, hàng năm cấy trồng, trăm họ no đủ... Phong tục văn minh của đất Lĩnh Nam bắt đầu từ hai thái thú ấy."(1) Còn văn hóa Việt ư? "Chính sử chả ghi Sĩ vương là Nam Giao học tổ sao? Té ra thì tới nhà Hán chúng ta mới có việc học! Vậy thì văn hiến cái nỗi gì?"

Những suy nghĩ trên đã dẫn đến ý tưởng cực đoan vong bản như thế này: "Về văn hóa, ta đã bắt chước người Tàu một cách mê mải và vô điều kiện. Nếu văn hóa của ta còn khác văn hóa Tàu thì cũng chỉ vì ta bắt chước chưa xong mà thôi. Văn hóa ta khác văn hóa Trung Hoa không phải ở chỗ ta thực sự khác mà là ở chỗ ta chưa bằng. Sự khác biệt ở trình độ nhiều hơn ở bản chất!"(2)

Xin nói thực lòng, kẻ viết những dòng này cũng thuộc giống con người tư duy nên biết bao năm băn khoăn khốn khổ chỉ vì một câu ca:

Công cha như núi thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra!

Thái sơn là gì? Hòn núi lớn. Như vậy công cha to như hòn núi lớn! Còn nước trong nguồn thì dễ rồi: nước đầu nguồn, dạt dào mà trong trẻo! Yên chí! Ðến khi nghe mò mẫm biết được Thái Sơn, ngọn Nguồn là hòn núi dòng sông bên Tàu thì lòng bất nhẫn: Sao cha ông ta vong bản đến vậy? Chúng cướp nước ta chưa đủ sao mà còn thương còn nhớ còn ơn ngọn núi dòng sông bên Tàu?! Quá nửa đời buốt đau vì mặc cảm đó!

Ngày nay trong hoàn cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, trước nguy cơ bị xâm lăng văn hóa, thấy trên nhiều phương tiện truyền thông đại chúng và cả những chỉ thị nghị quyết nói nhiều đến cụm từ bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Nhưng không hiểu sao có cảm tưởng là, người ta càng nói nhiều thì sự việc càng rối tung rối mù lên, đến nỗi chẳng ai hiểu văn hóa dân tộc là gì! Từ đó mà biết bao việc làm tùy tiện lộn xộn, cái đáng bỏ thì giữ, cái đáng giữ lại bỏ, cái gì có lợi trước mắt thì đề cao rồi bảo đó là truyền thống, là bản sắc! Ruột bỏ ra da ôm lấy... cười ra nước mắt!

Thiết tưởng sở dĩ có chuyện trống đánh xuôi kèn thổi ngược như vậy chính bởi vì chưa có được sự thống nhất trong hai nhận thức cơ bản: 1/Dân tộc Việt Nam là ai? Và 2/ Văn hóa Việt Nam là gì?

Cho đến nay thật đáng buồn là người Việt chưa hiểu được dân tộc chúng ta là ai, từ đâu tới. Chính vì vậy càng mù mờ hơn về cội nguồn văn hóa dân tộc. Giải đáp hai câu hỏi trên là vấn đề đặc biệt quan trọng và bức xúc hiện nay.

Không phải là nhà nghiên cứu lịch sử nhưng là nhà văn quan tâm tới văn hóa dân tộc, chúng tôi tạm dừng cuốn tiểu thuyết đang viết về Triệu Vũ đế, xin thử bàn về hai vấn đề trọng đại này. Rất mong quý vị cao minh chỉ giáo.

Lời Cảm Ơn : Người viết chân thành cảm ơn các tác giả có sách tham khảo trong chuyên luận này. Ðặc biệt cảm ơn những tác giả người Việt ở nước ngoài: Ts Nguyễn Thị Thanh, Luật sư Cung Ðình Thanh, GsTs Nguyễn Văn Tuấn, các ông Nguyễn Ðức Hiệp, Nguyễn Quang Trọng. Ông Hoài Thanh báo Ðại chúng cung cấp những tài liệu quý. Cảm ơn bạn tôi, Ðỗ Thái Nguyên và Gs Ranjan Deka Ðại học Cicinnati Hoa Kỳ gửi cho những thông tin mới nhất. Chính trí tuệ và thịnh tình của các vị đã soi sáng và động viên chúng tôi hoàn thành cuốn sách. Cảm ơn vợ tôi, người đã vất và nhiều vì tôi. Cuốn sách này cũng là nén nhang tưởng nhớ Cha tôi.

Sài Gòn, Xuân Ất Dậu

HÀ VĂN THÙY




PHẦN HAI

CỘI NGUỒN VĂN HÓA VIỆT NAM

CHƯƠNG V

VĂN HÓA VIỆT

TRÊN LƯU VỰC HOÀNG HÀ, DƯƠNG TỬ

"B  an đầu Viêm tộc theo sông Dương Tử vào khai thác vùng Trường Giang là các tỉnh: Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Giang Tô, An Huy, Chiết Giang rồi lần theo bình nguyên Hoa Bắc lên khai thác vùng sáu tỉnh của Hoàng Hà: Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Ðông, Thiểm Tây, Cam Túc. Phía Nam thì tới Việt Giang ngũ tỉnh: Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây, Quảng Ðông, Phúc Kiến. Theo Chu Cốc Thành trong "Trung Quốc dân tộc sử" và một số sử gia khác thì "Bách Việt đã có mặt ở khắp nước Trung Hoa cổ đại trước khi các dòng tộc khác tràn vào."(32) Những dòng trên là bức tranh quen thuộc mà các sử gia mô tả con đường người Việt vào mở mang vùng đất ngày nay có tên là Trung Quốc. Con đường đó do sử gia E. Aymonier vạch ra vào những năm đầu của thế kỷ trước. Và rất nhanh chóng, trở thành kinh điển trong các sách sử không những của ta mà của cả những sử gia Trung Quốc và các đại học danh tiếng ở Mỹ chép theo. Nhưng thời gian cho thấy sự thật lịch sử đã không diễn ra như vậy bởi lẽ người Bách Việt không phải từ ngọn nguồn sông Dương Tử đi xuống mà ngược lại, từ Ðông Nam Á đi lên.

Con đường người Bách Việt lên phương Bắc có lẽ diễn ra như sau:

Ðặt chân trước tiên lên miền Trung và miền Bắc Việt Nam 60.000-70.000 năm trước, hai đại chủng Mongoloid và Australoid dừng lại kiếm ăn rồi chung đụng hòa huyết với nhau sinh ra những chủng người là tổ tiên các sắc dân Ðông Nam Á sau này. Khi nhân số tăng lên, những đoàn người chia tay nhau xuống phía Nam tới châu Úc và những hòn đảo ngoài khơi. Có đoàn sang phía Tây tới vùng đất của người Thái, người Mianma ngày nay. Những người lên phía Bắc vượt qua địa giới Ðông Nam Á, tới Nam Trung Quốc. Không thể đi xa hơn vì trước mặt họ là bức thành băng hà đóng chặt. Một thời gian đợi chờ đằng đẵng. Phải tới 40.000 năm trước, khi băng tan, khí hậu mùa xuân trở lại, những đoàn người chờ đợi từ lâu đồng hành tiến lên. Từ phía bắc Ðông Nam Á, người tiền sử cùng một lúc theo khả năng của mình tiến vào lưu vực sông Dương Tử. Có lẽ do địa hình khá bằng phẳng và môi trường sống thuận lợi nên số người đi theo phía duyên hải đông hơn và tỏa ra miền Việt Giang ngũ tỉnh: Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây, Quảng Ðông, Phúc Kiến. Trong khi đó những đoàn khác từ phía Tây Bắc lần ngược lên ngọn nguồn tới Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Giang Tô, An Huy, Chiết Giang. Một bộ phận nhanh chân hơn thì lên tiếp miền lục tỉnh Hoàng Hà : Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Ðông, Thiểm Tây, Cam Túc. Phần đông dừng lại trên lục địa mênh mông này. Nhưng một số người không bằng lòng như vậy. Theo bản năng kiếm tìm điều mới mẻ, bản năng khám phá thiên nhiên và cũng có thể một cái gì đó như sứ mạng sai khiến, có những lớp người đi tiếp lên phía Bắc, vượt qua Siberia, qua eo biển Bering lúc này là đất liền để khám phá cho nhân loại một châu lục mới. Với thời gian, họ trở thành người da đỏ Indien, người Maya... Khác ta về màu da nhưng từ khi chưa được công nghệ genes soi tỏ, ta cũng nhận ra họ gần gũi mình qua những trang sách của Lévi Strauss: "Những quan sát xã hội học ở sắc dân Caduveo sống tại Tây Bắc Canada cho thấy ở họ có nhiều yếu tố giống người Trung Hoa cổ đại như vai trò quan trọng của phụ nữ hay là việc chú ý đến sự quân bình giữa các nguyên lý khác nhau... Cũng như dân mạn Nam Trung Quốc lại có những nét giống kỳ lạ với một vài sắc dân bên Mỹ (33). Người Trung Hoa cổ đại, dân mạn Nam Trung Quốc là ai nếu không phải người Bách Việt? Như vậy, người Bách Việt đã mang theo văn minh văn hóa Việt đến châu Mỹ! Khi đã nhìn nhận hành trình như vậy của người Bách Việt hay người Ðông Nam Á cổ, một câu hỏi sẽ đến: Người Bách Việt đã làm được những gì trong thời gian đằng đẵng sống ở phương Bắc?  

Rõ ràng là những đoàn người đầu tiên ra đi là những cư dân sống bằng săn bắt hái lượm. Họ du cư trên những con đường vạn dặm: sống trong những hang động gặp trên đường, săn bắt thú, tát cá, gặp gỡ, yêu nhau rồi sinh con đẻ cái. Khi cái ăn khó kiếm, họ lại ra đi. Nhờ trời khi đó rừng còn hoang sơ, sản vật tự nhiên còn nhiều nên con người sống được. Suốt ngày lo kiếm ăn trong cuộc đời vô định, sự sáng tạo lớn nhất của họ chỉ có thể là làm ra những cái rìu bằng đá. Rồi từ rìu làm ra cung nỏ. Một bước nữa là biết lấy dây rừng bện lại để làm lưới đánh cá... Có lẽ 30.000 năm con người đã đi từ Nam lên Bắc trong cuộc sống đơn điệu và chậm chạp như vậy. Chỉ đến khoảng 15.000 năm về trước, khi từ trung tâm Hòa Bình kỹ thuật trồng lúa nước cùng thuần dưỡng những loài gia súc như gà, chó, lợn được truyền tới. Cây lúa nước làm cuộc cách mạng vĩ đại đối với cuộc sống người tiền sử. Lần đầu tiên con người không phải tuốt lúa hoang lúa ma đem về nghiền rồi nấu chín trong những ống tre. Lần đầu tiên con người không còn phải ngửa tay lượm những quà tặng của thiên nhiên mà tự nuôi sống bằng hạt gạo do chính tay mình trồng cấy. Lần đầu tiên con người nhận ra: hạt lúa gieo xuống đất, chỉ cần chăm sóc thì đến tháng đến ngày nó sẽ cho bông vàng hạt mẩy! Có cấy có trông, có trồng có ăn... cuộc sống ấm no thực sự trong tay mình, không phải trông chờ thiên nhiên bố thí! Con người thấy sức mạnh của mình và giác ngộ: Ta đứng cao hơn tự nhiên! Cây lúa nước, hạt gạo mang đến sự đổi đời! Do phải bỏ công chặt cây, chuyển đá, đắp bờ tạo ra những khoảnh ruộng, con người không dễ dàng bỏ đất mà đi. Cuộc sống định cư bắt đầu. Do sống định cư mà con người rời khỏi hang đá, làm những căn nhà ngày một tiện nghi hơn để ở. Cũng do rảnh rỗi hơn nên con người có thời gian, có tâm trí để mơ mộng để hát ca. Nhạc rồi thơ ca nảy sinh từ đấy. Từ khi gieo hạt giống xuống đất là lúc con người bắt đầu trông trời trông đất trông mây! Chính từ cái việc trông này của văn minh nông nghiệp mà nảy sinh những kinh nghiệm về dự báo thời tiết, về quy luật vận hành của mặt Trời, mặt Trăng cùng các ngôi sao. Những tri thức về thiên văn được tích tụ, từ đó lịch pháp ra đời. Lương thực dồi dào, gà, chó, lợn, trâu bò được nuôi, cuộc sống sung túc hơn. Phú quý sinh lễ nghĩa: con người đối xử với nhau và với thiên nhiên thân ái hơn tốt đẹp hơn!

Nói có sách, mách có chứng, xin bạn đọc vui lòng thưởng thức một đoạn văn của tác giả Nguyễn Quang Trọng, một người Việt sống ở nước ngoài nhưng rất tâm huyết với cội nguồn dân tộc:

"Số chỗ có di tích lúa tìm thấy dọc theo nam sông Dương Tử không những nhiều hơn mà còn rất xưa. Vết tích bữa cơm tiền sử nấu với gạo từ lúa mọc hoang xưa nhất thế giới cách nay 13000 năm được một nhóm khảo cổ Mỹ-Trung Hoa tìm thấy trong hang Diaotonghuan phía nam sông Dương Tử (bắc tỉnh Giang Tây). Cư dân sống trong vùng này biết thử nghiệm các giống lúa và cách trồng trong thời gian dài tiếp theo đó. Ðiều này được nhóm khảo cổ chứng minh qua sự tăng độ lớn phytolith của lúa (phần thực vật hóa thạch, tồn tại nhờ giầu chất silic) lắng trong những lớp trầm tích theo thời gian. Tin này đã được đăng trên báo khoa học hàng đầu thế giới Science năm 1998. Các nhà khoa học nghiên cứu về phytolith này đã chứng minh rằng từ 9000 năm trước dân ở vùng này đã ăn nhiều lúa trồng hơn lúa hoang. Nhóm cư dân bản địa này cũng bắt đầu làm đồ gốm thô xốp bằng đất trộn trấu. Kinh nghiệm về trồng lúa tích tụ tại đây trong mấy nghìn năm đã đưa đến nghề trồng lúa trong toàn vùng nam Dương Tử. Di tích thứ hai, 9000 năm trước là Pentou, gần hồ Ðộng Ðình. Hơn bốn mươi chỗ có di tích lúa cổ hàng ngàn năm đã được tìm thấy ở nam Trường Giang. Di tích văn hóa Hemudu cho thấy văn minh lúa nước trong vùng lên đến trình độ rất cao vào 7000 năm trước (sớm hơn cả di tích làng trồng kê Bán Pha (Banpo) xưa nhất của tộc Hán phương Bắc.) Hemudu là một làng vài trăm người sống trên nhà sàn trong vùng đầm lầy ở cửa sông Tiền Ðường. Dân Hemudu đã trồng lúa, ăn cơm, để lại lớp rơm và trấu dày. Văn hóa Hemudu xưa 7000 năm, có nhiều điểm gần gũi với văn hóa Phùng Nguyên-Ðông Sơn vốn là văn hóa trẻ hơn nhiều (sau hơn 3000 năm). Cư dân vùng nam Trường Giang lúc ấy có lẽ gần với cư dân Bắc Việt về mặt chủng tộc và văn hóa hơn dân cư Bắc Trung Hoa. Khuôn mặt đắp từ sọ người Hemudu trưng bày ở Bảo tàng Hemudu cho thấy họ giống người thuộc chủng Nam Mongolic tức là chủng của người Việt Nam từ thời Ðông Sơn về sau. Sau Văn hóa Hemudu, hàng loạt văn hóa lúa nước khác đã sinh ra dọc Trường Giang khoảng 4000 năm trước như Liangzhu, Majiabin, Quinshanyang, Qujialing, Daxi, Songze, Dadunze. (34)

Thật lạ kỳ, những cọng rơm, những vỏ trấu, những hạt thóc thành than người xưa vô tình để lại đã nói với ta biết bao điều. Nhờ đó mà thời gian xa xôi những nghìn những vạn năm không còn là khoảng tối mênh mông thẳm sâu câm lặng vô hồn mà trở nên gần gũi ấm áp.

Sau lúa nước, người Bách Việt mang theo văn minh đồ đồng tới vùng đất mới.

Luật sư Cung Ðình Thanh trong một chuyên khảo công phu đăng trên tập san Tư tưởng (Australia) viết:

Khảo sát văn hóa đồng cổ trên khắp đất Trung Hoa, các nhà khoa học thấy có 4 vùng khác nhau: vùng Hoa Nam, vùng Ðông Nam, vùng Tây Nam và vùng phía Bắc.

Ðồ đồng Hoa Nam tìm được ở di chỉ Hải Môn Khẩu có tuổi 1130 năm TCN, cùng thời với đồ đồng Gò Bông Việt Nam, ở Vạn Gia Bá khoảng 760 +/- 130 năm TCN. Người Trung Quốc gọi là đồ đồng cuối thời nhà Thương. Trong thành phần đồng ở đây cũng có chì nên rất gần với đồ đồng Bắc Việt Nam. Căn cứ vào nguồn gốc chủ nhân và lịch sử, chúng ta thấy chúng thuộc cùng một văn hóa Ðông Sơn.  

Vùng thứ nhì thuộc trung tâm của nước Trung Quốc ngày nay ra đến bờ biển phía Ðông của các tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc, phía tây tỉnh Tứ Xuyên đến Giang Nam, Phúc Kiến, Chiết Giang thuộc vùng các nước Việt, Ngô, Sở thời trước. Nước Sở là nước lớn thời Xuân Thu-Chiến Quốc. Sở không công nhận nhà Chu, lập quốc gia độc lập, có cương vực rất rộng, phía tây ăn vào tỉnh Tứ Xuyên, phía bắc chiếm phần lớn tỉnh Hồ Bắc, phía Nam chiếm trọn tỉnh Hồ Nam. Là một trong số các nước Bách Việt, Sở thôn tính nhiều tộc Bách Việt nhỏ khác nên khi bị nhà Tần chiếm, Sở đã kéo theo nhiều tộc Bách Việt vào lãnh thổ của Tần. Văn hóa đồ đồng của nước Sở rất rực rỡ. Tiêu biểu là cái đỉnh bằng đồng nặng đến 400 kg, chứng tỏ nghề đúc đồng rất tiến bộ. Năm 1963 các nhà khảo cổ Trung Quốc đào được ở Hồ Bắc rồi bên hồ Ðộng Ðình thuộc Hồ Nam nhiều hiện vật đồng gọi là thuộc đời nhà Thương. Thực ra đó là đồ đồng nước Sở thuộc dân Bách Việt. Trong một ngôi mộ ở Trường Sa tỉnh Hồ Nam năm 1974 đã đào được chiếc dao găm đồng hình người, tay chống nạnh, đeo vòng, đầu đội mũ. Loại dao này được giới khảo cổ xếp vào loại hình đồ đồng Ðông Sơn (Trịnh Sinh. Khảo cổ học 1997). Tại Chiết Giang là địa bàn nước Việt thời Câu Tiễn, người ta cũng đào được những rìu xéo mang phong cách Ðông Sơn, là loại rìu có đôi giao long quấn vào nhau, trên cán có bốn người đang chèo thuyền. Nhờ những phát hiện này, giới khảo cổ đã có thể đi đến khẳng định những dao găm tìm được ở Bắc Kinh, Hồ Nam là cùng nguồn gốc với những dao đào được ở Sơn Tây Việt Nam. Năm 1996 người ta đào được chiếc trống đồng ở khu mộ cổ Thượng Mã Sơn huyện An Cát tỉnh Chiết Giang, chiếc trống giống với trống Lãng Ngâm khai quật năm 1973 tại Gia Lương tỉnh Bắc Ninh hay nhiều trống nhỏ hơn tìm được ở Gia Lâm và các nơi khác bên sông Hồng, sông Mã.  

Vùng văn hóa đồng thứ ba là khu vực Tứ Xuyên, thời Tam Quốc gọi là Ích Châu, Ba Thục. Nước Thục nằm trên ngã ba đường nối với Bắc Trung Quốc, một nhánh rẽ sang phía Tây để tiếp xúc với phương Tây, phía Nam dẫn về cái nôi Văn hóa Hòa Bình.(Có thể từ con đường này người Mongoloid cổ đã làm cuộc thiên cư lên phương bắc thành người Mông Cổ phương Bắc. HVT) Nhưng rõ ràng, từ đây người Hòa Bình mở nhiều đợt lên phía bắc, vượt núi Ngũ Lĩnh vào lưu vực sông Hoài góp phần tạo dựng nên Văn hóa Ngưỡng Thiều. Theo sử sách thì nước Thục được thành lập vào năm 1122 tới năm 122 TCN bị Tần diệt. Năm 1986 người ta tìm được ở Sanxingdui (gò Ba Sao?) tỉnh Tứ Xuyên hơn 800 hiện vật trong đó có nhiều đầu người và mặt nạ tuyệt xảo bằng đồng, nổi bật là bức tượng đồng to bằng người thật, cao 1,72 m. Tượng có mắt to và xếch, mũi lớn, lông mày rậm, miệng thật rộng, không thuộc chân dung điển hình của người Hán. Trống đồng nước Thục không mang sắc thái Trung Quốc. Giới khảo cổ Trung Quốc gọi là cổ vật thuộc nhóm dân Ba Thục và xếp chúng vào thời kỳ cuối đời Thương. Tuy nhiên người ta biết rằng nước Thục có từ khoảng 4700 năm trước, sớm hơn đời Thương nhiều. Giới khảo cổ cũng phát hiện ở Tây Nam Thành Ðô ngôi đền thuộc cùng nền văn hóa, có tuổi từ 3000 đến 4700 năm trước. Chủ nhân nước Thục là dân cư nông nghiệp, trồng lúa, đánh cá ở nhà sàn, sử dụng những loại rìu có vai là công cụ đặc trưng của Văn hóa Hòa Bình.(Có nhiều khả năng họ là tộc người Thái Tày, thuộc nhóm loại hình Indonesien sau này hòa huyết với người Hán phương Nam để chuyển hóa thành sắc dân Ðông Nam Á. HVT)  

Khu vực thứ tư bao gồm vùng Anyang và các tỉnh Sơn Tây, Thiểm Tây. Ðồ đồng vùng này, theo học giả Anderson, có niên đại 1300 năm TCN. Niên đại này muộn nhiều so với đồ đồng Phùng Nguyên sớm (1850 năm TCN) nhưng sớm hơn đồ đồng sớm nhất tìm thấy ở miền sông Dương Tử khoảng 200 năm. Nét đặc sắc là có chì trong hợp kim đồng trong các dụng cụ tìm thấy ở Hsiao Tun, di chỉ có tuổi sớm nhất.

Ðánh giá về đồ đồng của người Hoa, các học giả trước đây cho là đã du nhập từ phương Tây sang nhưng hoàn hảo không kém đồ đồng bất cứ nơi nào trên thế giới. Nghệ nhân đời Thương đã hoàn chỉnh kỹ thuật mà họ học được. Gần đây người ta cho rằng kỹ thuật đồng người Hoa gần với kỹ thuật Ðông Nam Á hơn là phương Tây (Noel Barnard 1978). Ðiều này phản ánh sự thật là khi chiếm đất của người Bách Việt, người Hoa đã sử dụng nghệ nhân cùng công nghệ đồng cũng như nhiều tiến bộ kỹ thuật khác của dân Viêm Việt.

Một điều kiện làm cho văn hóa đồng thau phát triển rực rỡ tại Bắc Việt Nam và vùng Hoa Nam là do ở đây có nhiều mỏ đồng, chì, thiếc. Trên phần đất của Việt Nam là các mỏ vùng Hưng Hóa, Tuyên Quang, Lào Cai, Bắc Giang, Sơn La, Cao Bằng và Thanh Hóa. Thiếc ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng, chì ở Thái Nguyên. Mỏ đồng lớn nhất là mỏ Na Ngọ ở Tụ Long mỗi năm sản xuất khoảng 225 tấn. Phía nam Trung Hoa có nhiều mỏ ở Quảng Ðông, Quảng Tây, Vân Nam (35).  

Có một điều khiến ta không thể không suy nghĩ: văn minh sắt đến ngay sau văn minh đồng. Vậy mà trong những di chỉ Bách Việt, từ Ðông Nam Á đến Trung Quốc số lượng đồ sắt lại quá ít, chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Ngay cả ở thời Hùng Vương, khi mà kỹ thuật đồng được đẩy đến độ tuyệt vời tinh xảo thì đồ sắt cũng không được coi trọng, trong khi ai cũng biết được ưu thế hơn hẳn của đồ sắt. Khác với dân Bách Việt, người Hoa Hán phát triển mạnh loại vật liệu mới này để đến thời Triệu Ðà, trở thành vũ khi cấm vận của Lữ hậu chống lại nước Việt. Phải chăng đó là biểu hiện của tính cách Việt, sự hạn chế của văn minh nông nghiệp coi trọng tinh thần coi nhẹ vật chất, sau thời kỳ năng động sáng tạo đã chuyển sang tự mãn bảo thủ? Trong khi dụng công đưa nghệ thuật đồng lên đến tuyệt mỹ của văn hóa tinh thần, của vật thờ thì lại coi nhẹ công dụng hơn hẳn của sắt? Phải chăng đó là dấu hiệu cho thấy văn minh nông nghiệp để mất vị trí tiên phong của mình?

Trong khi người Bách Việt hình như tỏ ra thỏa mãn với nền văn minh nông nghiệp, ung dung tự tại với cuộc sống điền viên tự cấp tự túc no đủ thì biến cố lớn xảy đến: từ phía Bắc sông Hoàng, những người Mông Cổ du mục tràn xuống. Với sức mạnh vũ bão của đoàn quân được tổ chức chặt chẽ, vũ khí tốt, tinh thần chiến đấu cao và rất quen trận mạc, trận quyết chiến Trác Lộc nổ ra. Ðế Lai tử trận, người Mông Cổ chiến thắng đã nhanh chóng chiếm sáu tỉnh phía Nam sông Hà. Họ Hiên Viên phỏng theo sinh hoạt của Viêm tộc mà tổ chức đất nước: chia sáu tỉnh Hoàng Hà thành 9 châu, chọn 4 bộ lạc hùng mạnh là Tứ nhạc để làm chỗ dựa. Viêm tộc một phần bị giết, một phần làm nô lệ, phần còn lại thì sống dưới sự giám sát của Mông tộc. Người bản địa có nước da ngăm đen trong khi người Mông Cổ vốn da sáng hơn, lại sống trong xứ lạnh nên da càng trắng. Để phân biệt, kẻ xâm lăng gọi người bản địa là dân đen (lê dân). Từ này lúc đầu chỉ có ý phân biệt về màu da nhưng sau chuyển sang nghĩa kẻ dưới, thấp kém. Sau khoảng 1- 200 năm, biến cố lịch sử lớn đã chín muồi: người Mông Cổ biến mất khỏi vũ đài, nhường chỗ cho hậu duệ là những con cháu lai mang bộ genes Mogoloid phương Nam. Những nhóm được lai giống đầu tiên- con cháu trực hệ của kẻ xâm lăng- thay cha ông mình thống trị đất nước. Người bị trị chính là những đồng chủng và một phần dân đen (Việt) bản địa.Dân Viêm tộc không cam tâm chịu sự đô hộ, lâu lâu lại nổi lên như vào cuối đời Thiếu Hạo, mãi tới Chuyên Húc mới dẹp yên được. Cuối đời Ðế Cốc dân Miêu Việt lại vùng lên khiến Ðế Chí mất 9 năm không thu phục nổi phải nhờ vua Nghiêu mới thắng trận ở Ðan Thủy. Khi vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn nhiều dân Hán tộc không phục vì Thuấn người Nam Man, Viêm tộc lại thừa cơ nổi lên trong đó ông Cổn là một trong những lãnh tụ. Vua Thuấn phải dùng giải pháp mạnh đày số lớn Viêm Việt ra phía tây huyện Ðôn Hoàng, miền địa đầu của Trung Hoa với Tân Cương. Phần bị phân tán thành nhiều bộ lạc nhỏ, phần bị đồng hóa, từ đấy Viêm tộc không còn nổi dậy nữa. Điều này cũng có nghĩa là quá trình Mongoloid phương Nam hoá đã hoàn thành về cơ bản.

Sau chiến thắng Viêm Việt, Hiên Viên được tôn làm vua, gọi là Hoàng đế. Hậu duệ của Hoàng đế là dân lai thuộc chủng Mongoloid phương Nam, đến bây giờ có thể gọi bằng thuật ngữ quen thuộc là Hán tộc. Hán tộc nhận tất cả các phát minh của Viêm tộc làm của mình. Sử Trung Hoa gọi Hoàng đế là người phát minh ra thiên văn, âm nhạc, quần áo, nhà cửa, giao thông, hôn sự, y thuật, nuôi tằm, võ bị, chính trị..

Hoàng đế truyền 7 đời tới vua Thuấn 2697-2205 TCN

Nhà Hạ vua Ðại Vũ truyền 17 đời tới vua Kiệt 2205- 1783 TCN

Nhà Thương: Vua Thành Thang truyền 28 đời tới vua Trụ 1783-1134 TCN

Nhà Chu: truyền 37 đời tới Ðông Chu 1134-247 TCN.  

Từ ngày lục tỉnh mạn nam Hoàng Hà bị chiếm, số phận các nước bị gọi là tứ hung bên ngoài luôn bị đe dọa. Sau này Ðông Di (Sơn Ðông) bị nước Tề đồng hóa. Bắc Ðịch (Sơn Tây, Hà Bắc) bị các nước Tấn, Yên kiêm tính. Riêng Tây Nhung trở lại sống du mục. Do sự tranh chấp trong khu vực, Tây Nhung đã chiếm được đất Quan Trung dựng lên nước Tần, gốc nông nghiệp Viêm tộc nhưng theo đời sống du mục đã trở nên hung hãn. Còn Nam Man ở mạn Trường Giang bị người Hoa chèn ép nên di cư lần xuống phía nam. Sang đầu công nguyên chia làm 6 bộ lạc là Lang Khung, Thi Lăng, Ðàng Ðạm, Việt Tích, Mông Tuấn, Mông Xá. Những khi Trung Hoa có biến, họ thường vào quấy phá như hồi Hán Mạt, Ngũ Hồ, Tàn Ðường... Vua Ðường Huyền Tôn phải cắt đất để mua lòng họ. Năm Khai Nguyên thứ 26 (738) phong cho Bì Lai Cap làm Vân Nam vương đóng đô ở Côn Minh. Từ đấy họ dọc ngang 5 tỉnh Việt Giang, nước ta cũng chịu một phần cướp phá cho đến năm 866 Cao Biền mới dẹp yên.

Viêm tộc ở các tỉnh lưu vực sông Trường Giang mà người Hán gọi chung là Ðông Nam man thì khai thác vùng hồ Ðộng Ðình, Bành Lãi. Khoảng năm 2897 TCN tù trưởng các bộ lạc Bách Việt ở đây xưng là Kinh Dương Vương, lấy Thần Nông làm tổ. Họ Mễ là họ rất lớn của nước Việt cũng như nước Sở sau này gọi là Hùng Vương. Ở khu vực này dân Bách Việt lập ra ba nước Sở, Ngô, Việt cùng một nguồn gốc tổ tiên xưa nhưng vì ý thức quốc gia chưa đủ mạnh nên ba nước đánh nhau liên miên và tiêu diệt lẫn nhau. Vào lúc Ngô phá Sở diệt họ Hùng Vương thì một chi nhánh của họ này chạy xuống Bắc Việt Nam, cùng với dân Viêm tộc lập ra nhà nước Văn Lang truyền 18 đời (36).

Qua biến động lịch sử kể trên, có thể rút ra nguyên nhân thất bại của Bách Việt:

- Sống rải rác khắp 18 tỉnh, dân cư thưa thớt không thể chống đoàn quân du mục tập trung hùng mạnh.

- Bách Việt còn trong tình trạng bộ lạc hay thị tộc, chưa có ý thức quốc gia nên thường xung đột nhau.

- Viêm tộc làm nông nghiệp định cư sớm nên khả năng võ bị kém.

Từ những nguyên nhân dẫn đến thất bại của người Bách Việt, ta có thể nói rằng, thời thế đã đổi thay: từ phương thức sống từng bộ lạc phân tán hay những liên minh bộ lạc lỏng lẻo, nhân loại bước vào giai đoạn mới, hình thành những quốc gia. Nhiều thế lực nổi lên tranh giành nhằm thâu tóm đất đai, nhân số dựng nên những quốc gia làm tăng quyền lực của giai cấp lãnh đạo đồng thời cũng đưa lại cho dân chúng điều kiện sống mới, văn minh hơn. Trong cuộc tranh đấu này, văn minh nông nghiệp đã thua sức mạnh của văn minh du mục. Và khi thâu tóm được tiềm năng dồi dào của văn minh nông nghiệp về nhân lực, về kinh tế và văn hóa, nền văn minh du mục vốn năng động và được tổ chức tốt đã đẩy lịch sử tiến lên một bước mới. Trung Quốc trở thành động lực mới thúc đẩy nền văn minh trong vùng vào thời gian giữa thiên niên kỷ thứ II trước Công nguyên.  

Hôm nay, vào những năm đầu của thiên niên kỷ thứ III, nhìn về hàng vạn năm trước, ta thử xem ngoài những chiếc rìu bằng đá cuội, cây lúa nước và văn minh đồng, người Bách Việt để lại những gì cho văn hóa nhân loại?

Cùng với những văn hóa vật thể kể trên, trong hàng vạn năm duy trì một xã hội nông nghiệp ổn định, người Bách Việt cũng sáng tạo nên nền văn hóa phi vật thể phong phú.

- Người Việt ưa hát múa, sáng tác nhiều ca dao, dân ca sau này được sưu tập cho vào kinh Thi.

- Âm nhạc phát triển với bát âm, ngũ cung. Có nhiều loại đàn độc đáo như đàn đá, khèn bầu, đàn bầu. Sau này được tập hợp thành kinh Nhạc.

- Nhiều tục thờ cúng và lễ hội dân gian: thờ trời đất, ông bà tổ tiên, thờ thần lúa, hội mùa, hội xuân.

- Người già được tôn trọng, là vốn quý tích lũy nhiều kinh nghiệm, là sự minh triết của cộng đồng.

- Tích lũy nhiều kinh nghiệm về thời tiết về cây trồng mà bà Nữ Oa là bậc thầy có tài đội đá vá trời (cách nói hình tượng của việc quan sát nắm vững thời tiết), những kinh nghiệm về đối xử với thiên nhiên, với hàng xóm láng giềng. Từ những vết chân chim in trên phù sa, cha ông ta làm ra chữ viết: chữ kết nút, chữ hình con nòng nọc (chữ Khoa đẩu), chữ hình ngọn lửa (Hỏa tự), dùng mu rùa bói toán....

Có lẽ dấu ấn văn hóa sâu sắc nhất mà cộng đồng Bách Việt để lại trên nước Trung Hoa cổ cũng như toàn bộ Ðông Á là nếp sống hài hòa giữa con người với nhau và với thiên nhiên. Người Việt cổ quan niệm thiên nhiên là vật thể sống, có linh hồn nên cần được tôn trọng: địa linh nhân kiệt. Cuộc sống là sự hài hòa, quân bình giữa những nguyên lý khác nhau: giữa sáng và tối, nóng và lạnh, giữa lý và tình vì thế những biểu hiện cực đoan bị tiết chế: không ai nắm tay đến tối gối đầu đến sáng! Không ai giầu ba họ không ai khó ba đời! Trí khôn của cộng đồng là trí khôn tập thể: khôn độc không bằng ngốc đàn. Tuy vậy vai trò cá nhân cũng được đánh giá cao: một người lo bằng kho người làm. Trong cộng đồng, vai trò quan trọng của người cha, người đàn ông được khẳng định đồng thời vai trò người đàn bà, người mẹ được coi trọng: của chồng công vợ! Mối quan hệ tuyệt đẹp: người đàn bà nhu thuận tỏ ra nhún nhường giữ vị trí thứ nhì trong khi đó thì đàn ông biết điều trân trọng đóng góp của người vợ, người đàn bà cho gia đình và xã hội. Không chỉ thế, trong xã hội nông nghiệp Việt cổ thì vai trò đàn bà còn được đề cao hơn lệnh ông không bằng cồng bà. Từ những quan hệ cụ thể trong gia đình thôn xóm mở ra tình đồng bào bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. Bản sắc của văn hóa này, học giả Kim Ðịnh gọi rất chính xác là Việt nho. Việt nho là một tinh chất văn hóa đã làm nên bản sắc văn hóa Á Ðông. Sau này thời thế đổi thay nhưng người ta vẫn tìm được dấu tích của văn hóa đó khắp Ðông Á: Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật bản, Việt Nam. Ðiều thú vị là nhiều nhà xã hội học cũng tìm ra vết tích của Việt nho ở những sắc dân bản địa châu Mỹ như trong tài liệu của Lévi Strauss mà Kim Ðịnh đã dẫn.

Những đặc trưng văn hóa tinh thần của người tiền sử Ðông Nam Á được khái quát trong những điểm sau:

- Quan niệm nhân chủ: con người tồn tại trong mối tương quan giữa Thiên-Ðịa-Nhân. Trong đó Nhân là trung tâm, là chủ. Cái gì vừa lòng người cũng vừa lòng Trời. Trong quan hệ nhân chủ đó, người đàn bà được tôn trọng. Một trong những vị vua huyền thoại có nhiều công tích là Nữ Oa. Sau này còn có tục thờ đạo Mẫu.

- Quan niệm thái hòa: cuộc sống do nhiều nhân tố nhiều nguyên lý tạo nên, và chỉ tồn tại trong sự hài hòa giữa các nguyên lý đó vì vậy cuộc sống là sự thái hòa.

- Coi trọng tâm linh: Người Việt cổ cho rằng con người có linh hồn. Do sống gắn bó với thiên nhiên, nên cũng coi thiên nhiên như vật thể sống, có linh hồn. Từ đó người Việt sống cùng cuộc sống hiện thực còn có thế giới tâm linh. Tục thờ phổ biến là thờ tổ tiên ông bà cha mẹ. Người Việt có tín ngưỡng đa thần: thờ bất cứ vật gì có thể tác họa cũng như tạo phúc cho mình.

- Khi tràn xuống Trung Nguyên, người Mông Cổ du mục bắt gặp một cuộc sống mới cùng nền văn hóa mới. Khi kẻ xâm lấn tràn tới, thành phần quý tộc tinh hoa của các bộ tộc Việt bỏ chạy về Nam, một bộ phận bất hợp tác thì vào rừng lẩn trốn thành người thiểu số còn đại đa số dân Việt thích ứng với cuộc sống mới. Cuộc săn đuổi và trốn chạy diễn ra dài dài trong lịch sử, kể đến nhiều nghìn năm. Trong thời gian dằng dặc ấy, chữ Việt ban đầu được viết với bộ Mễ (lúa gạo - chỉ dân trồng lúa nước) bị kẻ chiến thắng đổi thành chữ Việt với bộ Tẩu (vượt - chỉ người Việt chạy vượt qua sông Dương Tử). Trong khi đó người Việt ở lại sống chung với quân xâm lược được gọi là Miêu. Do số dân quá ít, khi đối mặt với kẻ chiến bại đông đảo, kẻ chiến thắng Mông Cổ đã áp dụng thái độ ứng xử khôn ngoan với tộc người Miêu này. Khác với người Aryen du mục khi chinh phục Ấn Ðộ đã áp chế người bản địa Dravidiens bằng chế độ nô lệ hà khắc để lại những di họa lâu dài, người du mục Mông Cổ giữ vai trò lãnh đạo và chuyển sang làm thương nghiệp, công nghiệp còn để cho người Miêu Việt làm công việc nặng nhọc là trồng trọt, chăn nuôi và đi lính. Lúc đầu choáng ngợp trước cuộc sống sung túc và văn hóa khác lạ của dân nông nghiệp, người du mục không chú ý lắm đến các vị thần, đến tín ngưỡng bản địa. Nhưng rất nhanh chóng, cộng đồng dân cư bản địa quá đông đúc đã đồng hóa kẻ xâm lăng, cả về huyết thống cả về văn hóa. Những thủ lĩnh Mông Cổ từ bỏ vật tổ truyền thống là con cọp trắng để nhận vật tổ của người Miêu Việt là con rồng làm vật tổ của mình, nhận những ông vua thời Tam hoàng, không chỉ nhân vật chính thống Hoàng đế mà cả Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông làm tổ. Người Mông Cổ và sau này hậu duệ của họ, đã kế thừa hầu hết nền văn hóa phi vật thể của Việt tộc.

Trước hết là tiếp thu ngôn ngữ Việt.

Trong cuốn sách Vịnh Bắc Việt, tác giả Vũ Hữu San dẫn tài liệu của nhà địa lý kiêm toán học Buckminster Fuller cho rằng, có thể tìm ra nguồn gốc các nền văn minh căn cứ vào tỷ lệ thuận giữa trình độ văn hóa, di dân và mật độ nhân số. Từ lý thuyết đó, ông lập Dymaxion World Maps (Bản đồ động thái thế giới). Từ bản đồ của mình, B. Fuller đưa ra giả thuyết: vào thiên niên kỷ IV-III TCN, duyên hải Ðông và Ðông Nam Á chỉ chiếm 5% diện tích thế giới nhưng có tới 54% nhân loại đang sống. Dựa vào sự tính toán của ông, người ra suy ra, vào thời đó, người Việt có thể chiếm 15-20% nhân số thế giới.(37) Trong cộng đồng Ðông Á, người Việt là cư dân có nhân số lớn nhất, giữ vai trò lãnh đạo về văn hoá và ngôn ngữ.  

  Những phát hiện khảo cổ gần đây cho thấy:

- Năm 1999, khai quật 24 ngôi mộ làng Giả Hồ thuộc tỉnh Hà Nam, di chỉ có tuổi 6.600 đến 6200 năm TCN, tiến sĩ Garman Harbottle thuộc Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven, New York, Hoa Kỳ cùng nhóm khảo cổ Trường Đại học Khoa học và công nghệ tỉnh An Huy, Trung Quốc xác định được 11 ký hiệu đặc biệt được khắc trên mai rùa. Harbottle cho biết: Điều rất có ý nghĩa là những ký hiệu trên có sự gần gũi với chữ Trung Quốc cổ. Trong những ký hiệu đó có cả biểu tượng về “mắt’ và “cửa sổ”, số Tám và 20, tương đồng với những ký tự được sử dụng hàng nghìn năm sau vào thời nhà Thương (1700 đến 1100 TCN). Chúng sớm hơn những ký tự được phát hiện tại Mesopotamia hơn 2000 năm. Trong một vài vỏ rùa người ta cũng tìm thấy những hòn sỏi nhỏ. Nhóm nghiên cứu Giả Hồ cho rằng những vỏ rùa chứa đá cuội được dùng làm nhạc cụ phát tiếng kêu lách cách trong nghi lễ Shaman..

Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Antiquity.(38)

* Vỏ rùa tại Giả Hồ (BBC News) (H1) - Chữ "Mục" Giả Hồ (H2) - Ống sáo xương chim Giả Hồ(BBC News) (H3) *

- Cũng tại di chỉ trên, nhóm của Tiến sĩ Garman Harbottle phát hiện những ống sáo làm bằng xương chim hạc. Những ống sáo 9000 tuổi làm bằng xương chim được khoét từ 5 đến 8 lỗ, chiếc dài nhất đo được 24 cm. Đáng chú ý là một trong những ống sáo đó vẫn còn thổi được. Giả Hồ là di chỉ lớn, có tới 300 ngôi mộ được phát hiện, trong đó có nhiều đồ tuỳ táng. Sưu tập sáo Giả Hồ là những ống sáo sớm nhất của người hiện đại được phát hiện, tuy người ta đã biết đến những ống sáo 45.000 tuổi của người Neanderthal tại Slovenia năm 1995.(39)

- Chúng ta biết nhiều về làng Bán Pha (Bon fo) tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc nơi phát hiện mộ Tần Thuỷ Hoàng với hàng nghìn tượng lính đất nung cùng nhiều hiện vật bằng đồng. Năm 2003, ngay dưới làng Bán Pha 3,5 m, di chỉ Bán Pha 2 niên đại 12.000 năm được phát hiện. Tại đây, người ta tìm được một bình gốm dính ở đáy một chất giống như cặn chè. Đặc biệt là bề mặt bình có một văn bản khắc chữ tượng hình giống chữ Trung Hoa cổ, mang tính biểu tượng cao nhưng không giống với tự dạng chữ Hán hiện đại. Nhóm của tiến sĩ Jeff Schonberg Đại học Angelo bang Texas Hoa Kỳ cố gắng tìm mối liên hệ với tiếng Trung Quốc để giải mã câu chuyện. Một câu chuyện đạo đức như là nghi lễ chữa bệnh. Để hiểu hiệu lực của câu chuyện cần tìm hiểu cảnh quan tinh thần vùng Tây An. Miền quê này có nhiều gò đất thiêng mang tinh thần bái vật giáo, được coi như những ông thầy dạy cách canh tác cũng như phép ứng xử… Câu chuyện trên cái bình liên quan đến “hành vi xấu” mà ngôn ngữ ngày nay gọi là “sự kiêu ngạo”. Sự kiêu ngạo này không phải do con người đối xử với nhau mà với thần linh, thể hiện ở chỗ phớt lờ hay không tôn trọng sự khôn ngoan của các vị thần. Câu chuyện trên cho thấy: hành vi xấu làm sa đoạ tinh thần cùng sự cứu rỗi.

1. Có một thời đen tối

2. Thế giới bị đảo lộn.

3. Thời kỳ ảm đạm xảy ra do con người ứng xử tồi tàn và xúc phạm Thuỷ thần.

4. Do vậy con người bị bệnh tật.

5. Quan hệ giữa người và người trở nên rối loạn.

Phương thức cứu chữa:

1. Con người đến thưa với Sơn thần.

2. Sơn thần biết lý do khiến Thuỷ thần giận dữ.

3. Thần khuyên con người phải làm cuộc hành hương cứu rỗi.

4. Trên dải núi xa sẽ thấy một loại cây, hãy mang về chế thành chè uống.

5. Sự tha thứ xảy ra, bệnh sẽ khỏi và bóng tối biến thành ánh sáng.

Dân địa phương cho biết: câu chuyện trên vẫn được truyền miệng trong vùng Tây An. Tiến triển lịch sử cùa Trung Quốc hầu như thúc ép con người hiện nay sống với tâm trạng giận dữ. Có nhiều nguyên nhân nhưng lý do thuyết phục nhất là trẻ con ở đây thường được đưa tới trường rất sớm. Nhà trường giáo dục một lề thói chống lại truyền thống gia đình. Hầu như những đứa trẻ này không trở về làng nữa.(40)

Giáo sư David Keightley của Đại học California, Berkeley, Hoa Kỳ nhấn mạnh đến mối liên hệ của chúng với những nguyên bản đời Thương. Ông nói: “Một khoảng cách 5000 năm mà giữa chúng vẫn có sự liên hệ, thật là điều đáng ngạc nhiên.” “Tuy vậy mối liên hệ cần được chứng minh kỹ lưỡng hơn.”

Nhưng Gs Harbottle nhấn mạnh đến sự liên tục của những ký hiệu xuất hiện tại những vị trí khác nhau dọc theo sông Hoàng Hà suốt từ thời kỳ Đồ đá mới đến đời Thương, khi một hệ thống chữ viết phức tạp được phát hiện. Ông không cho là những ký hiệu thời Đá mới có cùng ý nghĩa với những ký hiệu giống với nó ở đời Thương.

G.s Keightley nói thêm: “Điều này thật khó hiểu và không bình thường; nó có sớm đến mức kinh ngạc. Chúng ta không thể coi đó là chữ viết khi chưa có bằng chứng thuyết phục hơn.”

Ông nhấn mạnh, những chỉ dấu của văn hoá Đá mới Giả Hồ có thể không đủ phức tạp để cần đến hệ thống chữ viết. Nhưng ông cho rằng những ký hiệu đó mang tính biểu tượng hoặc được cách điệu hoá cao. Nó là một dạng đặc biệt của chữ viết Trung Quốc. Chữ “mục” là mắt tương tự với những chữ khắc mới tìm thấy gần đây.

W. Boltz, giáo sư tiếng Hoa cổ Đại học Washington, Seattle: “Cách quãng hơn 5000 năm… Sao quá trình phát triển chữ viết của Trung Quốc diễn ra lâu thế? Suy diễn dựa trên tương quan hình thể đơn độc, dọc khoảng thời gian dài như vậy, gần như vô nghĩa. Bằng cách nào người ta biết rằng hình nọ trong thực tế là hình con mắt?” Theo ông, nó có thể giống ‘con mắt’ với người này, mà cũng có thể là cái khác với người kia. “Không có một văn cảnh, bao gồm cả sự am hiểu về ngôn ngữ liên quan, không thể nói những dấu hiệu này là chữ viết.”

Trong khi đó, Giáo sư Trương Cư Trung - người đứng đầu nhóm nghiên cứu về phía Trung Quốc- khẳng định: cách nay 12000 năm Trung Quốc chưa thể có chữ viết. Chỉ chắc chắn rằng chiếc bình trà nọ có niên đại từ 5000 năm trở lên.”(41)

Chúng tôi cho rằng sự thận trọng thái quá của các nhà khoa học Mỹ ở đây mang yếu tố mâu thuẫn và nguỵ biện. Nói rằng “những chỉ dấu của văn hoá Đá mới Giả Hồ có thể không đủ phức tạp để cần đến hệ thống chữ viết” là không thuyết phục. Một di chỉ lớn, có tới 300 ngôi mộ, tại đó phát hiện nhiều ống sáo bằng xương chim, có những vỏ rùa khắc chữ. Vỏ rùa không chỉ khắc chữ mà còn là dụng cụ bói toán. Những hòn sỏi trong đó có khả năng là những vật dùng trong bói dịch… Chứng tỏ một xã hội phát triển cao, chữ viết là nhu cầu tất yếu.

Chúng tôi không hiểu vì sao, khi phân tích những mai rùa Giả Hồ, nhóm nghiên cứu không hề liên hệ tới văn bản trên bình Bán Pha 2. Văn bản Bán Pha 2 sẽ soi sáng rất nhiều cho việc giải mã những ký hiệu trên mai rùa Giả Hồ. Không những chỉ sớm hơn 3000 năm, văn bản Bán Pha 2 là tập hợp những ký tự được tổ chức theo quy luật nhất định khiến người ta đọc được. So với văn bản Bán Pha 2, những gì trên mai rùa Giả Hồ không còn ‘quá sớm’.

Không hiểu vì sao các tác giả không cho biết chủ nhân của những vỏ rùa hay bình cổ? Khi xác dịnh họ là ai, thì việc giải mã những đồ tuỳ táng sẽ có cơ sở hơn. Chúng tôi nghi rằng đó là những người Indonesien, Melanesien từ Đông Nam Á đi lên. Nếu đúng vậy thì việc phát hiện ra ống sáo và chữ viết không đáng ngạc nhiên. Chúng tôi nhận thấy câu trả lời của Giáo sư Trương không thuyết phục. Một bình gốm tìm thấy trong di chỉ 12.000 tuổi mà ông lại bảo là có niên đại “từ 5000 năm trở lên” thì tính trung thực khoa học phải hiểu thế nào đây? Tuổi của đồ gốm phụ thuộc tuổi di chỉ kháo cổ. Trong trường hợp bình gốm này, nếu trung thực khoa học thì phải nói: “có tuổi từ 12.000 năm trở lên.” Bởi lẽ ai biết bình được làm từ bao giờ, nó theo con người bao lâu? Chỉ vì được chôn xuống cùng con người nên bị định theo tuổi con người?

Chúng tôi biết, việc hạ thấp tuổi bình Bán Pha 2 và phủ định chữ viết 12000 năm không đáng ngạc nhiên. Tại sao Giáo sư Trương lại đưa ra con số 5000 năm mà không phải con số khác? Phải chăng cần bỏ đi 7000 năm để cho chiếc bình nằm trong phạm vi văn minh Trung Hoa? Phải chăng đó là tiếp nối truyền thống của những Sanxingdui?(42)

Việc phát hiện ra chữ trên mai rùa 9.000 năm ở Giả Hồ, bản văn trên bình gốm 12.000 năm ở Bán Pha là điều hợp quy luật. Từ bản văn Bán Pha, từ kí hiệu trên vỏ rùa Giả Hồ, ta có thể rút ra 2 kết luân:

1/ Đấy chính là chữ viết của người Việt cổ, những người đã sống 40.000 năm trên đất Trung Hoa. Ở thời điểm 12.000 năm đã có văn bản Bán Pha thì khởi đầu chữ viết của người Việt phải có từ sớm hơn.

2/Chữ của người Bách Việt là tiền đề cho chữ viết đời Thương.

Truyện cổ Bán Pha là thông điệp xưa nhất mà tổ tiên gửi tới con cháu lời cảnh báo về mối hiểm nguy do thái độ kiêu ngạo trong ứng xử với thiên nhiên. Bằng lương tri của mình, chúng ta cần có hành động cứu rỗi để hoá giải tai ương. Chắc chắn đấy là con đường trở về với truyền thống nhân bản của người Việt. Thiết nghĩ không phải ngẫu nhiên mà vào năm tháng này chúng ta nhận được từ tổ tiên thông điệp giầu ý nghĩa như vậy.

Đấy là những điều diễn ra trong quá khứ xa xôi, gần hơn, ta thấy:

Giả thuyết của B. Fuller đã ủng hộ cho công trình khảo cứu Tiếng nói và chữ viết của người Việt cổ của luật sư Cung Ðình Thanh. Tác giả dẫn lại lịch sử nghiên cứu tiếng Việt và đưa ra kết luận mới nhất của giới ngôn ngữ học: vào khoảng thiên niên kỷ IV TCN, ngôn ngữ Môn-Khmer của người Việt giữ vai trò lãnh đạo vùng Ðông và Ðông Nam Á cả về xã hội cả về ngôn ngữ.(43)

Trong khi đó, ngôn ngữ học thế giới cho thấy, ở thời đểm trên, ngôn ngữ Hán Tạng (Sino-Tibétan) chỉ tồn tại trong số ít người sống ở vùng Thiểm Tây, Cam Túc.

Khi thấy được toàn cảnh phân bố dân cư và ngôn ngữ Ðông Á như trên, trong trí ta tự nhiên hình thành hai câu hỏi:

1/ Tại sao tiếng Việt là ngôn ngữ lớn từng giữ vai trò thống trị trên đất Trung Hoa lại tự nhiên biến mất?

2/ Vì lẽ gì trên lục địa Trung Hoa ngôn ngữ Sino-Tibétan của một nhóm thiểu số lại bành trướng trở thành ngôn ngữ lớn nhất trong vùng?

Chỉ có thể giải thích như sau: một là, những cư dân nói tiếng Môn-Khmer sống trên Hoa lục vì lý do nào đó bị tuyệt chủng. Ðiều này không hề xảy ra. Lịch sử cho thấy người Việt không bị diệt chủng mà có sự chung sống khá hòa thuận với người Mông Cổ chiếm đóng. Vì vậy chỉ có thể là nguyên nhân thứ hai.

  Suốt thế kỷ XX, do thiếu tư liệu và do bị chi phối bởi quan niệm Hoa tâm (lấy Trung Hoa làm trung tâm) nên giới học thuật cho rằng tổ tiên dân tộc Việt là nhóm người thiểu số từ cao nguyên Thiên Sơn theo sông Dương Tử xuống vùng Hoa Nam, sau bị người Hán săn đuổi đã tràn vào đất Việt, tiêu diệt người bản địa, lập nhà nuớc Văn Lang. Lịch sử dân tộc Việt là một cuộc Nam tiến. Do bị phương Bắc đô hộ suốt một thiên niên kỷ, người Việt chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Hoa, cả về huyết thống cả về văn hoá. Giới ngôn ngữ học lịch sử do chịu ảnh hưởng của viện sĩ Maspero (1912) cho ngôn ngữ Thái giữ vai trò chủ đạo trong thời tiền sử Ðông Á nên khi làm những nghiên cứu so sánh ngôn ngữ học đã đem chữ Hán được điển chế hàng ngàn năm đối chiếu với chữ Việt Latinh hóa mới chừng hơn trăm tuổi và thống kê được, trong tiếng Việt có đến 70% vay mượn từ tiếng Hán! Sở dĩ có sự lầm lẫn lớn này là do tiếng Việt không còn văn tự gốc, tức không còn chữ Hỏa tự hay chữ Khoa đẩu nên các nhà phục nguyên Hán ngữ chỉ theo những văn bản chữ Hán rồi mặc nhiên coi chữ của người Hán có trước, vì thế bất cứ tiếng Việt nào cũng có trong ngôn ngữ Hán đều bị coi là mượn từ tiếng Hán!

Theo quan niệm trên, nhiều nhà ngữ học quốc tế cũng như Việt Nam (Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim…) cho rằng, tiếng Việt mượn đến 70% từ tiếng Hán.

Những người không tán thành cùng lắm cũng chỉ có thể ấp úng nói rằng: tuy có mượn nhưng không mượn tới mức như vậy! Họ cố tìm những từ thuần Việt. Qua nhiều cuộc tranh luận chứng tỏ đó là những cố gắng vô vọng. Những người ít vốn cổ văn thường bị đánh gục bởi những học giả chữ nghĩa cùng mình, viện dẫn hàng núi sách Tây Tàu. Và cho đến nay, con em chúng ta vẫn bị nhồi nhét giáo điều đó!

Ở đây chúng tôi muốn chứng minh sự thật ngược lại: tiếng Việt đã góp phần lớn để tạo thành ngôn ngữ Trung Hoa.

Quy luật phổ quát của nhân loại là những bộ lạc du mục thường mạnh về vũ trang nhưng văn hoá kém phát triển. Trong khi đó dân nông nghiệp có nền văn hoá cao nhưng lại kém trong chiến trận. Là tộc người giữ vị trí lãnh đạo cộng đồng Bách Việt nông nghiệp về xã hội và ngôn ngữ, người Lạc Việt có vốn ngôn ngữ phong phú vượt trội so với người thiểu số Mông Cổ. Ngôn ngữ học thế giới cho thấy, vào khoảng thiên niên kỷ IV TCN, ngôn ngữ Môn-Khmer của người Việt giữ vai trò lãnh đạo vùng Ðông Á cả về xã hội cả về ngôn ngữ. Trong khi đó, ngôn ngữ Hán Tạng (Sino-Tibétan) chỉ tồn tại trong số ít người sống ở vùng Thiểm Tây, Cam Túc. Sự vượt trội còn thể hiện ở chỗ số lượng từ vựng của người Lạc Việt nhiều, có khả năng biểu cảm cao đồng thời có nhiều từ thể hiện những khái niệm trừu tượng, đủ sức làm nên kinh Thi, kinh Dịch... 

Khi sống trong cộng đồng cư dân mới, người gốc Bách Việt – mà kẻ xâm lăng gọi là lê dân, tức dân có nước da đen – vẫn dùng tiếng nói và cách nói của mình. Cùng với thời gian, họ học thêm những từ mới của người láng giềng Mông Cổ. Cũng như vậy, người Mông Cổ bổ sung từ ngữ của lê dân vào tiếng nói của mình. Dần dần toàn bộ từ vựng trở thành của chung. Điều này cũng giống như ngôn ngữ Việt hiện đại: sau năm 1975 trong giao tiếp cũng như viết lách có việc dùng trộn trạo tiếng Bắc lẫn tiếng Nam.

Từ vựng hoà đồng khá dễ dàng nhưng người gốc Mông và gốc Việt vẫn giữ cách nói hay ngữ pháp riêng của mình. Ngữ pháp là yếu tố khá bền vững của ngôn ngữ và làm nên sự phân biệt giữa tộc người này với tộc người khác. Cách nói của người Mông có những nét khác biệt người Việt. Do sống dưới sự thống trị của người Mông nên người Việt phải tuân theo cách nói của kẻ cầm quyền. Quá trình này là lâu dài và được chi phối bởi quy luật: Các vùng đất trong một quốc gia thường học theo cách nói của trung tâm, của kinh đô. Người Mông thống trị tập trung ở các đô thị, ra mệnh lệnh, giấy tờ theo cách nói cách viết của mình. Lê dân, dù ngày thường nói và viết theo thói quen của người Việt nhưng khi lên thủ đô, khi viết những văn bản hành chính buộc phải theo cách nói cách viết của chính quyền. Rồi trường học được mở, học trò phải nói và viết theo “chuẩn”. Cứ như vậy dần dần cách nói cách viết của người Hán trở thành thống lĩnh. Ban đầu tiếng nói được ký tự bằng chữ Khoa đẩu của người Việt. Khi chế ra chữ vuông, tất cả từ vựng chuyển sang viết bằng chữ vuông: tiếng Việt biến thành tiếng Hán cả về từ vựng cả về ngữ pháp.

Ở trên là một phác hoạ lịch sử đồng thời là giả thuyết mang tính nguyên lý về quá trình hình thành của ngôn ngữ Trung Hoa hay quá trình hội nhập của tiếng Việt vào ngôn ngữ Hán. Nhưng dù sao đó cũng chỉ là suy đoán mang tính tư biện. Vấn đề là phải chứng minh bằng chứng cứ thuyết phục.

Dấu vết ngữ pháp Việt trong thư tịch cổ Trung Hoa.

Nếu tiếng Việt là bộ phận cấu thành ngôn ngữ Trung Hoa, thì theo luật biện chứng, tất phải có những vết tích của ngôn ngữ Việt trong thư tịch Trung Hoa.

Ngôn ngữ gồm hai bộ phận hợp thành là từ vựng và ngữ pháp. Từ vựng là sinh ngữ nên chịu biến đổi theo thời gian và sự giao lưu giữa các tộc người trong không gian. Vì vậy việc truy tìm nguồn gốc của một từ là không dễ dàng. Với ngôn ngữ nói chung đã vậy mà riêng trong quan hệ ngôn ngữ Hán - Việt lại càng phức tạp hơn. Đi theo hướng này, chúng ta gặp những từ như Thần Nông, Nữ Oa, Đế Minh, Đế Lai, Đế Du Võng, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đế cốc, Đế Chí. Không thể chối cãi được đó là những tên Việt. Nhưng vì lý do nào những danh từ riêng đó tồn tại trong ngôn ngữ Trung Hoa là điều bí ẩn. Tham vọng tìm ra những từ thuần Việt thường vấp phải sức phản kháng rất lớn. Ít năm trước, có tác giả cho rằng một số địa danh vùng đất Phú Thọ như Kẻ, Mơ… là những từ gốc Việt. Nhưng giả thuyết vừa ra đời liền bị phản bác. Người ta đưa ra những cuốn sách vĩ đại như Từ Hải, Khang Hy tự điển, Tứ khố toàn thư… để chứng minh rằng “kẻ” cũng là từ gốc Hán, là những từ “cái”, “giới”, “giái” của Hán ngữ được người Việt muợn. Khi nhập tịch Việt Nam, nó được Việt hoá thành “kẻ”. Tương tự như vậy, “mơ” cũng là con đẻ của “mai” tiếng Tàu! Một vài từ xem chừng có vẻ Việt nhất thì cũng “Trăm phần trăm Hán, đều Made in China!” Trong con mắt những học giả này, dân Việt chỉ là đám Hán lai, văn hoá Việt nghèo nàn, chỉ là sự học mót người Hán chưa đến đầu đến đũa! Bất cứ những gì cả Hán lẫn Việt cùng có thì chỉ là Việt học Hán! Đáng buồn là giới khoa bảng Việt chưa ai cãi nổi họ.

Không đủ tài trí để tìm những từ thuần Việt, chúng tôi đi theo hướng khác: tìm dấu vết ngữ pháp Việt trong Hán ngữ. Tới đây một câu hỏi nảy sinh: cái gì là đặc trưng nhất cho ngữ pháp tiếng Việt? Dựa vào luật “chính trước phụ sau” của nhà ngữ học người Pháp Léopold Cadiere với nội dung: “Trong một câu đơn, các từ ngữ nối tiếp nhau theo một trật tự như thế nào mà mỗi từ đi sau làm rõ ý nghĩa của từ đi trước hay của một trong những từ đi trước » , Giáo sư Cao Xuân Hạo đưa ra nhận định: «Nhìn chung, tiếng Việt rất nhất quán trong cách xử lý trật tự từ ngữ (chính trước, phụ sau, nhất là khi so với tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Hán, trong đó không thể có một nhận định tổng quát nào về trật tự từ ngữ.) Trong tiếng Việt, những từ ngữ Hán-Việt làm thành một trường hợp lệ ngoại nổi bật đến mức người không có học bao nhiêu cũng biết đó là một trật tự “ngược”, nếu không kể những trường hợp lệ ngoại như những tổ hợp [vị từ tình thái+ ngữ vị từ] như các kết cấu mở đầu bằng bất hay vô vốn được xử lý như mọi tổ hợp [vị từ+ bổ ngữ] khác (chính trước phụ sau). Tuy vậy cũng không hiếm những kết cấu sai ngữ pháp Hán nhưng đã trở thành vốn văn học dân gian như cách nhại tiếng kêu của con đa đa (gà gô) là Bất thực cốc Chu gia (không thèm ăn lúa nhà Chu) được gán cho Bá Di và Thúc Tề (lẽ ra phải là Bất thực Chu gia cốc mới đúng ngữ pháp tiếng Hán).”(44)

Từ luật “chính trước phụ sau” nêu trên, soi vào những thư tịch Hán văn, ta dễ dàng bắt gặp cấu trúc ngữ pháp dạng Trung + danh từ như “trung tâm” (trong lòng), “trung đình” (trong sân): Trung tâm rạng rạng, Trung tâm dao dao, Trung cấu chi ngôn (kinh Thi); thứ nhị, thứ tam (kinh Thư); bệ thăng thiên, thần thọ (thần cây) ở Lục độ tập kinh. Trong những kết cấu trên, đúng là trật tự chính trước phụ sau được tuân thủ. Rõ ràng đó không phải là cấu trúc cú pháp Hán mà là cấu trúc cú pháp Việt. Nếu chỉ có một vài trường hợp trong một cuốn sách nào đó thì là chuyện ngẫu nhiên. Nhưng sự việc trở thành không bình thường khi phát hiện hàng loạt trường hợp tương tự trong nhiều thư tịch:

Kinh Thi:

- Túc túc thỏ ta, thi vu trung lâm (Thỏ ta: trong rừng)

- Hước lãng tiếu ngạo, trung tâm thị niệu (Chung phong: trong lòng áy náy)

- Hồ vi hồ trung lộ (Thức vi: trong sương)

- Trung tâm rạng rạng (Nhị tử thừa chu: trong lòng áy náy )

- Trung tâm hữu vi (Cốc phong: trong lòng băn khoăn)

- Di vu trung cốc (Cát đàm: trong hang)

- Trung tâm dao dao (thử ly: trong lòng nao nao)

- Tại bỉ trung hà (Bách châu: giữa dòng sông)

- Trung cấu chi ngôn (Tường hữu từ: lời nói trong buồng kín )

Những "hòn sạn" chữ nghĩa kia nói lên điều gì? Phải chăng là sự vô tình? Phải chăng là những người biên tập, san định, chú giải Thi vì "dốt" nên không thấy cái "sai" ấy? Mấy nghìn năm nay chưa ai giải thích điều này. Vì sao qua hàng nghìn năm phấn đấu xa đồng quỹ, thư đồng văn, qua biết bao lần nhuận sắc, chú giải, những đại nho Hán tộc không sửa chữa, không lượm đi những "hạt sạn"? Ðúng là chữ nghĩa thời kinh Thi chưa ổn định và có khác thời Hán thời Ðường. Nhưng thử hỏi, nguyên nhân của sự không ổn định ấy là gì? Theo thiển ý, ở chính trong lịch sử hình thành ngôn ngữ Trung Hoa: Ngôn ngữ thời kinh Thi nằm trên đường chuyển hóa từ cách nói của người Việt sang cách nói của người Hán.

Không chỉ ở Thi mà chúng tôi gặp trong kinh Thư :

1. Thiên Vũ Cống câu 31: Hàm tắc tam nhưỡng, thành phú trung bang. (thuế ruộng chỉ lập thành ở trong nước - tại chính nước của thiên tử mà thôi)

 2. Thiên Hồng Phạm câu 4: Sơ nhất viết ngũ hành. Thứ nhị viết: kính dụng ngũ sự. Thứ tam viết: nông dụng bát chính. Thứ tứ viết: hiệp dụng ngũ kỷ. Thứ ngũ viết : kiến dụng hoàng cực. Thứ lục viết: nghệ dụng tam đức. Thứ thất viết: minh dụng kê nghi. Thứ bát viết: niệm dụng thứ trưng. Thứ cửu viết: hướng dụng ngũ phúc.

(Trù thứ nhất gọi là ngũ hành. Trù thứ hai gọi là kinh dùng năm việc. Trù thứ ba là, trù thứ tư là…)

 Đây là lần duy nhất trong kinh Thư có cấu trúc “thứ nhị, thứ tam” theo cách nói của người Việt. Ở các thiên sau được viết “nhất viết, nhị viết” theo cách nói của người Hán.  

3. Thiên Tử Tài câu 6: hoàng thiên ký phó trung quốc dân, việt quyết cương thổ vu tiên vương. (vì rằng trời đã trao cho đấng tiên vương nhân dân bờ cõi đất đai trong nước)  

4. Thiên Thiệu Cáo câu 14: Kỳ tự thời trung nghệ. Vương quyết hữu thành mệnh (Có thể ở giữa nước cai trị nhân dân . Như thế nhà vua sẽ trọn vẹn được mệnh trời, nay được tốt đẹp cả.)  

5. Thiên Lạc Cáo câu 23: kỳ tự thời trung nghệ, vạn bang hàm hưu (nhà vua ở trung tâm cả nước trị dân, muôn nước nhỏ đều được tốt đẹp)  

6. Thiên Vô Dật câu 11 Văn Vương thụ mệnh duy trung thân, quyết hưởng quốc ngũ thập niên (Vua Văn Vương chịu mệnh làm vua chư hầu suốt đời, cả thảy 50 năm)

Kinh Dịch (45):

1/ Khổng Tử có câu: “Thánh nhân dĩ thiên hạ vi nhất gia, dĩ trung quốc vi nhất nhân” (Thánh nhân xem người thiên hạ như người một nhà, xem người trong nước như người thân của mình.) Trang 64.

2/ Đắc thượng vu trung hàng (vào trong hàng ngũ có nghĩa theo đúng đạo.) Trang 216.

3/ Tượng viết, phiên phiên bất phú, giai thất thực dã, bất giới dĩ phú, trung tâm nguyện dã (trong lòng đã muốn sẵn vậy) Trang 221.

4/ Tượng viết, trung hành độc phục (đi giữa bầy ác mà một mình theo đạo thiện nhân.) Trang 376

5/ Tượng viết, trung hành độc phục, dĩ tòng đạo dã (đi giữa bầy ác mà một mình vẫn theo đạo.) Trang 377

6/ Lục nhị, vô duy tuỵ, tại trung quỵ, trinh cát (con dâu con gái không trách nhiệm, lo việc trong nhà, tốt.) Trang 539.

7/ Tương việt, kỳ tử hoạ chi, trung tâm nguyện dã (nghe tiếng gáy mà hoạ ngay tại trong lòng muốn vậy) trang 825

8/ Trung tâm nghi giả, kỳ từ chi (trong lòng nghi ngờ, lời nói không chắc chắn) Trang 929

Rất may mắn, trong cuộc truy tìm của mình, chúng tôi được sự trợ lực quý báu của học giả Lê Mạnh Thát:

“Ngoài kinh Thi, Lễ ký cũng bốn lần xử dụng cụm “trung tâm”. Một lần ở thiên Biểu ký của Lễ ký chính nghĩa 54 tờ 12a3-4, dẫn đoạn ba của bài Thấp tang của kinh Thi: (Mao thi chính nghĩa 15/2 tờ 7a12). 

Tâm hồ ái hỉ 

Hà bất vị hỉ

  Trung tâm tạng chi 

Hà nhật vong chi. 

Ba lần kia ở thiên Lễ vận và thiên Biểu ký của Lễ ký chính nghĩa 22 tờ 10a7 và tờ 4a7 và tờ 5a1 “trung tâm vô vi”, “trung tâm thảm đát” và “trung tâm an nhân giả, thiên hạ nhất nhân nhi dĩ hỹ”. Trong cả ba lần này, Trịnh Huyền không có giải thích gì thêm, còn Khổng Dĩnh Đạt vẫn giữ nguyên khi viết lời sớ của mình. Tuy nhiên, không phải Lễ ký không biết đến lối viết tiêu chuẩn “tâm trung”. Cụ thể là thiên Nhạc ký của Lễ ký chính nghĩa  tờ 9b10. “Tâm trung tư tu, bất hòa bất lạc”. Đặc biệt hơn nữa, khi giải thích chữ “trung” trong câu “lễ nhạc giao thố ư trung, phát hình ư ngoại” của thiên Văn Vương thế tử của Lễ ký chính nghĩa 20 tờ 7b13-8a1, Trịnh Huyền đã viết: “Tâm, trung tâm giả”. Như thế rõ ràng đến thế kỷ thứ II sdl, qui định về vị trí của chữ "trung" đối với các danh từ và đại từ được tuân thủ. 

Thực vậy, kiểm soát toàn bộ văn liệu tiếng Trung Quốc từ thế kỷ thứ nhất sdl đến thời Khổng Dĩnh Đạt viết Mao thi chính nghĩa Lễ ký chính nghĩa vào năm 638, ta thấy cụm “trung tâm” rất ít khi dùng tới. Trong ba thế kỷ từ thế kỷ thứ I -III ngoài Dương Hùng, ta chỉ gặp ba lần dùng cụm “trung tâm”. Một là trong lá thư của Phùng Diễn (k.1-65) do Lý Hiền dẫn trong truyện của Diễn ở Hậu Hán thư 58 hạ tờ 14a4-6 viết cho Tuyên Mạnh: “Cư thất chi nghĩa, nhân chi đại luận, tư hậu hòa chi tiết, lạc định kim thạch chi cố. Hựu tư thương tiền tào bất lương, tỷ hữu khử lương phụ chi danh, sự thành bất đắc bất nhiên, khởi trung tâm chi sở hảo tại!” Hai là trong tờ chiếu cải cách lịch của Hán Chương đế viết tháng 2 năm Nguyên Hòa thứ 2 (86) trong Hậu Hán thư 12 tờ 2a5, ta có câu “trung tâm nục yên”. Ba là ngày Đinh Hợi tháng giêng năm Cảnh Sơ thứ 3 (240) Minh đế Tào Duệ băng hà, Tề vương Tào Phương lên ngôi. Tháng 2, Tào Sảng nhằm giảm bớt quyền hành của Tư Mã Ý, đã sai em là Tào Hy viết biểu đề nghị phong Ý từ thái úy lên thái phó. Bài biểu này chép trong Ngụy thư, mà Bùi Tùng Chi cho dẫn trong Ngụy chí 9 tờ 13a12, trong đó có câu “trung tâm quí dịch”. 

Hà Yến và Đặng Dương cùng nhóm với Tào Sảng. Thế thuyết tân ngữ phần hạ của quyển trung tờ 30b11-13 chép việc Yến và Dương nhờ Quản Lạc xủ quẻ. Xủ xong, Lạc dặn phải cẩn thận. Yến lại dẫn 2 câu cuối của bài thơ Thấp tang: 

Trung tâm tạng chi 

Hà nhã vong chi 

để trả lời. Hai câu này, Tôn Tú cũng dùng đễ trả lời Phan Nhạc về mối hận với Thạch Sùng, như Thế thuyết tân ngữ phần hạ của quyển hạ tờ 38a8 đã ghi. 

Đến thế kỷ thứ IV, Thế thuyết tân ngữ phần thượng của quyển hạ tờ 9a2-7 chép Chi Tuần (352 - 404), sau khi người bạn đạo của mình là Pháp Kiên tịch, đã nói: “Tri kỷ đã mất, nói ra không ai thưởng thức, trong lòng dồn nén, ta cũng mất thôi”. Câu “trong lòng dồn nén” là dịch cụm “trung tâm uẩn kết”, mà sau khi viết truyện của Tuần trong Cao tăng truyện 4 ĐTK 2059 tờ 349c15-167, Huệ Hạo đã ghi lại và là một lời nhái câu “ngã tâm uẩn kết” của bài thơ Tố quan trong Mao thi chính nghĩa 7/2 tờ 4b6. 

Qua các thế kỷ V-VI không thấy dùng nữa. Đến đầu thế kỷ thứ VII, khi viết Biện chính luận 7 ĐTK 2110 tờ 541a20-22 vào năm 622, Pháp Lâm mới có dịp dùng “trung tâm” trong bài thơ Thanh sơn (Núi xanh) mà bốn câu cuối cùng đọc: 

Huyên phong bạch vân thượng 

Quải nguyệt thanh sơn hạ 

Trung tâm dục hữu ngôn  

 Vị đắc vong ngôn giả. 

Như vậy cụm từ “trung tâm” từ thế kỷ thứ VI tdl, khi Khổng Tử san định kinh Thi, Thư Lễ trở về trước, đang còn được sử dụng khá phổ biến. Nhưng từ thế kỷ thứ I sdl về sau cho đến thời Khương Tăng Hội, việc sử dụng nó cực kỳ hiếm hoi, như ta đã thấy. Trong khoảng 300 năm, nó chỉ được sử dụng ba lần, một trong lá thư của Phùng Diễn, một trong tờ chiếu viết năm 86 của Chương đế và một trong bài biểu năm 240 của Tào Sảng. Những lần do Hà Yến, Tôn Tú và Phan Nhạc dùng tới thì đều đọc lại hay nhái theo thơ của kinh Thi, nên không cần kể ra ở đây.”

Điều thú vị là hiện tượng cấu trúc ngữ pháp Việt tồn tại trong bản văn chữ Hán còn gặp trong 3 bản kinh Phật bằng chữ Hán tồn tại từ thế kỷ II, đó là Cựu tạp thí dụ kinh, Tạp thí dụ kinh Lục độ tập kinh. Theo học giả Lê Mạnh Thát, đó là những bản kinh do thiền sư Mâu tử và Khương Tăng Hội dịch từ những bản kinh tiếng Việt sang chữ Hán. Quá trình này như sau: Khương Tăng Hội mà trong nhiều thư tịch Trung Hoa viết là người Hồi Hồi (Pakistan) thì chính là con một người lái buôn Tây Trúc. Người này sang Giao Châu làm ăn, lấy vợ người Việt, đẻ ra Khương Tăng Hội. Hội thông thạo tiếng Việt, theo đạo Bụt rồi học chữ Hán và dịch kinh Phật ra Hán ngữ. Ban đầu do chưa thành thạo chữ Hán nên ông đã chuyển nguyên xi một số cú pháp Việt từ bản tiếng Việt sang bản chữ Hán. Cũng theo Lê Mạnh Thát:

“Lục độ tập kinh hiện nay có cả thảy 91 truyện. Kiểm tra 91 truyện này ta thấy xuất hiện một hiện tượng ngôn ngữ khá bất bình thường, đó là những kết cấu ngôn ngữ học không theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc. Ngược lại, những cấu trúc được xây dựng theo ngữ pháp tiếng Việt:

1.      Truyện 13 ĐTK(Địa Tạng kinh-HVT) 152 tờ 7c 13: “Vương cập phu nhân, tự nhiên hoàn tại bản quốc, trung cung chính điện thượng toạ, như tiền bất dị…”

2.      Truyện 14 ĐTK 152 tờ 8c5: “…Nhĩ vương giả chi tử, sinh ư vi lạc, trưởng ư trung cung… ” Tờ 9b27: “…lưỡng nhi đồ chi, trung tâm đảm cụ…”

3.      Truyện 26 ĐTK 152 tờ 16b2: “… thủ thám tầm chi. tức hoạch đắc hĩ, trung tâm sảng nhiên, cầu dĩ an chi…”

4.      Truyện 39 ĐTK 152 tờ 21b27: “… trung tâm hoan hỉ”

5.      Truyện 41 ĐTK 152 tờ 22c12: “… Vương bôn nhập sơn, đổ kiến thần thọ.

6.      Truyện 43 ĐTK 152 tờ 24b21: “… trung tâm chúng uế…”

7.      truyện 44 ĐTK 152 tờ 25ầ; “… trung tâm nục nhiên, đê thủ bất vân.”

8.      Truyện 72 ĐTK 152 tờ 38b25: “ Thần sổ tôn linh vô thượng chính chân tuyệt diệu chi tượng lai trung đình, thiếp kim cung sự.”

9.      Truyện 76 ĐTK 152 tờ 40a8: “Thần thiên thân lãnh, cửu tộc quyên chi, viễn trước ngoại dã. ĐTK 152 tờ 40b5: “Vị chúng huấn đạo trung tâm hoan hỉ.”

10.  Truyện 83 ĐTK 152 tờ 44c1: “Ngô đẳng khước sát nhân súc, dĩ kỳ cốt nhục vi bệ thăng thiên. ” ĐTK 152 tờ 45a19: “ Ngô đương dĩ kỳ huyết vi bệ thăng thiên.

11.  Truyện 85 ĐTK 152 tờ 47b26: “… trung tâm gia yên.”

Trong những trường hợp nêu trên, rõ ràng ngữ pháp tiếng Hán Trung Quốc đã không được tuân thủ. Muốn nói "trong lòng" mà nói "trung tâm" theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc là không thể chấp nhận. Như thế, những trường hợp "trung tâm" vừa dẫn phải được viết theo ngữ pháp tiếng Việt. Những trường hợp "thần thọ" để diễn tả ý niệm "thần cây" và "bệ thăng thiên" để diễn tả "bệ thăng thiên" cũng thế. Chúng đã được xây dựng theo ngữ pháp tiếng Việt. Những trường hợp ngôn ngữ khá bất bình thường này chỉ cho ta điều gì? Làm sao lý giải sự có mặt của những cấu trúc ấy?”(46)Một câu hỏi thú vị.

Phải chăng việc làm của Khương Tăng Hội vô hình trung lặp lại quá trình chữ Việt chuyển hóa thành chữ Hán hơn ngàn năm trước?

Vết tích ngữ pháp Việt trong những thư tịch trên nói lên điều gì? Nó cho thấy, tới thế kỷ VI TCN, trong xã hội Trung Hoa còn tồn tại song song cả cách nói Việt lẫn cách nói Hán. Cách nói Việt không chỉ lưu hành trong tầng lớp bình dân sáng tác ca dao làm ra kinh Thi mà còn được trí thức quý tộc sử dụng. Trong bài viết trước (Việt mượn Hán hay Hán mượn Việt-talawas) chúng tôi có nói đại ý trong khi san định kinh Thi, Khổng Tử có ý đồ ém đi những cấu trúc ngữ pháp Việt. Nay xét kỹ, thấy không phải vậy. Sự thực là Khổng Tử không chỉ dùng nhiều cấu trúc Việt để viết kinh mà còn sử dụng ngay cả trong câu nói thường: “Thánh nhân dĩ thiên hạ vi nhất gia, dĩ trung quốc vi nhất nhân.” Hiện tượng này chứng tỏ, vào thời của ông, cả hai cách nói Hán Việt cùng tồn tại. Ta có thể ngờ rằng do mang trong mình gene Việt nên cách nói Việt đã sâu đậm trong máu huyết vì vậy khi viết, một cách vô thức Khổng Tử dùng cách nói Việt?

Những điều trình bày ở trên là bằng chứng không thể bác bỏ về sự có mặt của tiếng Việt trong quá trình hình thành ngôn ngữ Trung Hoa. Ngay cái câu “Bất thực cốc Chu gia” biết đâu cũng là cách người Việt nhại tiếng kêu chim đa đa từ thời Xuân Thu vọng tới hôm nay?

Đến đây, tất nảy sinh câu hỏi: Nếu sự có mặt của tiếng Việt trong ngôn ngữ Hán là có thật thì về định lượng, đóng góp đó bao nhiêu? Nhà ngôn ngữ học lịch sử phải trả lời câu hỏi này. Chúng tôi chỉ có thể đoán rằng: Người Lạc Việt là nhân tố lãnh đạo cộng đồng Bách Việt về xã hội và ngôn ngữ thì tiếng Việt phải là phần chủ thể tạo thành ngôn ngữ của cộng đồng dân cư mới. Làm cuộc phiêu lưu ngược thời gian trở về 4600 năm trước, ta sẽ thấy nhóm người Mông Cổ da sáng lọt thỏm trong biển dân đen bản địa. Đám quan quân du mục với tiếng nói nghèo nàn thật vất vả, khổ sở giữa rừng từ vựng quá đa dạng, quá phong phú của dân nông nghiệp lúa nước. Kẻ xâm lăng phải học tiếng nói, văn hoá bản địa. Người bản địa cũng học văn hoá, tiếng nói của kẻ xâm lăng…Cùng với thời gian, tất cả hoà trong một cộng đồng về máu huyết, văn hoá, tiếng nói. Cố nhiên, chủ thể ngôn ngữ của cộng đồng không ở nơi kẻ nắm quyền mà phải là của số đông có văn hoá cao. Quy luật tất yếu của lịch sử là thế. Kịch bản này được diễn lại vào thời nhà Thanh. Tộc Mãn thống trị Trung Hoa chỉ bảo lưu được bản sắc văn hoá duy nhất là cái đuôi sam. Sau vài trăm năm, triều Thanh đổ, đuôi sam bị cắt…tất cả đã trở thành Hán! Sau bốn ngàn năm trăm năm, với một đại Hán tộc có đến 1 tỷ người, khó ai hình dung nổi một cội nguồn máu huyết cũng như tiếng nói đã bắt đầu như vậy!

Ðến thế kỷ XX, giới ngôn ngữ học lịch sử khi làm những nghiên cứu so sánh ngôn ngữ học đã đem chữ Hán được điển chế hàng ngàn năm đối chiếu với chữ Việt Latinh hóa mới chừng hơn trăm tuổi và thống kê được, trong tiếng Việt có đến 70% vay mượn từ tiếng Hán! Sở dĩ có sự lầm lẫn lớn này là do tiếng Việt không còn văn tự gốc, tức không còn chữ Hỏa tự hay chữ Khoa đẩu nên các nhà phục nguyên Hán ngữ chỉ theo những văn bản chữ Hán rồi mặc nhiên coi chữ của người Hán có trước và vì thế bất cứ tiếng/chữ nào giống với tiếng/chữ Hán đều bị coi là mượn từ tiếng Hán!

Sai lầm như vậy cũng dễ hiểu bởi khi đó còn chưa biết đích xác nguồn gốc của người Việt. Giới sử học còn bị chi phối bởi quan điểm của Aymonier cho người Việt là một nhánh của người Hán di cư từ cao nguyên Tây Tạng xuống. Giới ngôn ngữ học còn chịu ảnh hưởng của viện sĩ Maspero (1912) cho ngôn ngữ Thái giữ vai trò chủ đạo trong thời tiền sử Ðông Á.

Chỉ đến hôm nay, nhờ những phát hiện về gốc gác người Việt, về văn hóa và ngôn ngữ Việt, chúng ta mới bắt đầu có cái nhìn khác đi. Sự thật lịch sử cho thấy: ngôn ngữ của cộng đồng Việt trên Hoa lục không biến mất mà cùng với con người chuyển hóa thành người Hán thì tiếng nói cũng thành ngôn ngữ Hán.

Trong khi đó, trên đất Việt, cùng với người Lạc Việt, ngôn ngữ Việt vẫn được bảo tồn. Cố nhiên, với thời gian, ngôn ngữ Việt cổ Môn-Khmer có sự chuyển hóa thành ngôn ngữ Việt-Mường nhưng trong đó nhiều yếu tố của ngôn ngữ xưa xẫn được duy trì. Khi so sánh với chữ Hán, các nhà phục nguyên học phát hiện ra trong tiếng Việt 70% từ Hán thì, vì những nguyên nhân kể trên, cho là Việt mượn của Hán mà không ngờ rằng, sự việc trái lại: đấy chính là cái vốn từ mà người Việt xưa góp vào để làm nên tiếng Hán, chữ Hán! G.s Vũ Thế Ngọc trong bài viết rất thuyết phục Ý nghĩa quốc hiệu Lạc Việt (Website VietNam giapha 20/01/2005) cho biết, khi tra từ điển tiếng Hán cổ của Karlgren, ông gặp cả ba chữ Lạc (bộ Mã, bộ Truy, bộ Thủy) đều được đọc là lak (nay người Bắc Kinh đọc là Lo), chính là ký âm của từ "lạc" tiếng Việt. Tương tự vậy, mơ của Việt chuyển thành mai của Tàu. Bao tiếng khác cũng được chuyển hóa như vậy làm phong phú vốn từ vựng Trung Hoa.

Khi viết những dòng này, không phải chúng tôi quên kiến thức cơ bản là luôn có sự vay mượn về ngôn ngữ giữa các tộc người. Nhưng đó là chuyện khác. Ở đây phải khẳng định, không phải là Việt mượn của Hán mà là người Việt đã góp vào cho ngôn ngữ Hán! Cái phần 70% từ và ngữ vẫn ngộ nhận là vay của Hán thì phần lớn trong đó chính là của Việt mà người Lạc Việt còn giữ được trên mảnh đất dung thân cuối cùng của Bách Việt.

Bị người Hán đuổi tiếp, người Việt từ Ngũ Lĩnh trở về Việt Nam góp phần xây dựng nước Văn Lang. Chính những người Việt trở lại mái nhà xưa này đã mang về những yếu tố ngôn ngữ từng để lại bên sông Hoàng Hà: cả từ vựng, cả những địa danh. Ðiều này cắt nghĩa vì sao bên ta có nhiều địa danh giống bên Tàu. Chính là do ông bà ta đặt cho vùng đất mình mới khai phá những cái tên thân thuộc phải bỏ lại ở phía Bắc. Ðó cũng là điều trả lời cho thắc mắc của ông Huệ Thiên: vì sao có sự phiên âm thống nhất một số địa danh trên địa bàn rộng.

Chúng ta được dạy rằng: Người Việt là đám Tàu lai bị người Tàu xua đuổi trôi dạt xuống, tiêu diệt người bản địa, lập nên nước Việt. Văn hóa Việt là thứ văn hóa Tàu dần dần được bản địa hóa! Chúng ta cứ hồn nhiên tin thế cho tới 30 năm trước mới có một người Việt là học giả Kim Ðịnh dám nghi ngờ tín điều trên, đòi lại kinh Thi, kinh Dịch, kinh Thư... cho người Việt. Tiếp đó là nhiều học giả khác như Gs Lê Văn Sửu với "Nguyên lý thời sinh học cổ Ðông phương" và "Học thuyết âm dương ngũ hành", Gs Bùi Văn Nguyên "Kinh Dịch Phục Hy" rồi Nguyễn Tiến Lãng "Kinh Dịch-sản phẩm sáng tạo của người Việt"... cùng chung ý hướng trên.

Từ ngôn ngữ cũng như sức sống mới nảy sinh do kết hợp Mông Việt, những trí thức Mông tộc cùng trí thức Miêu Việt tiến hành ghi chép những điều hay lẽ phải trong cộng đồng Việt tộc cũng như Hán tộc để chế tác kinh điển. Những kinh, thư đã ra đời như vậy. Trong Luận ngữ, Khổng Tử nói: "Ngô thuật nhi bất tác." (ta chỉ ghi lại mà không trước tác). Ðó là lời trung thực, nói lên đúng thực chất những gì ngài đã làm. Trong Ngũ kinh làm nên cơ sở của văn hóa Trung Quốc thì Khổng Tử đã san định kinh Thi, kinh Thư, kinh Dịch, kinh Lễ, kinh Nhạc và làm ra kinh Xuân Thu. Thử xem Việt tộc đóng góp được gì trong những kinh điển này?  

Kinh Thi (47):  

Kinh Thi là tuyển tập những bài dân ca và ca dao đẹp nhất, hay nhất xuất hiện trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ VI TCN trở về trước trên lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử. Theo Tư Mã Thiên viết trong Sử ký thì ban đầu có tới 3000 bài, Khổng Tử san định đã bỏ đi 9 phần 10, chỉ giữ lại có 311 bài. Ðấy là tác phẩm văn học cổ điển có ảnh hưởng sâu rộng đến tâm hồn và trí tuệ phương Ðông, quan trọng đến mức Khổng Tử nói bất học thi vô dĩ ngôn! (Không học kinh Thi biết gì mà nói). Thời nhà Tần nó cũng bị đốt nhưng sau đó được khôi phục và xếp vào Ngũ kinh.

Hàng nghìn năm nay, kinh Thi mặc nhiên được coi như sản phẩm đặc hữu của Hán tộc, không có ai nghi ngờ hay bàn cãi. Vì vậy, ba chục năm trước, khi học giả Kim Ðịnh cho rằng kinh Thi là quyển kinh điển của Việt tộc (VLTN tr. 125) đã gây nên sự phản ứng của không ít người. Dễ hiểu thôi, thay đổi một thói quen từng hằn vào cân não người ta hàng nghìn năm đâu phải là việc một sớm một chiều!

Ba nghìn bài thơ, rút lại còn 300, tồn tại ngót 3000 năm, qua lửa thiêu và qua nhuận sắc chú sớ của bao lớp Hán nho, Tống nho... cái còn lại đến với chúng ta hẳn đã thay đổi không ít.

Ðiều dễ nhận ra là kinh Thi đã bị đánh tráo: những sáng tác dân gian sinh ra nơi ruộng lúa nương dâu bị biến thành sản phẩm cung đình, một thứ văn chương xu phụ chuyên ca tụng ông vua này ông vua khác cùng bà hậu phi nào đó! Chính ở đây, tầng lớp Hán nho đã ăn cắp tác quyền của dân gian trao cho vương triều. Ðiều này dễ thấy. Còn cách đánh tráo, ăn cắp tác quyền khác tinh vi hơn thì khó nhận ra. Khó về học thuật và càng khó hơn trong tâm lý: đứng trước nền văn hóa khổng lồ của người láng giềng phương bắc, chúng ta cảm thấy mình nhỏ bé đi, đến mức chỉ còn là cậu học trò ngu ngơ trước ông thầy vĩ đại! Tâm lý ấy khiến chúng ta hèn đi, không dám nghĩ đến cái điều bị coi là hoang tưởng thậm chí phạm thượng: kinh Thi là quyển kinh điển của Việt tộc.

Ðể tìm hiểu điều này, ta phải xét từ cội nguồn: kinh Thi được hình thành như thế nào? Có lẽ là từ thời vua Vũ nhà Hạ (2205-1783 TCN), các nước chư hầu dâng cống vật cho thiên tử thì trong phương vật, có cả những câu ca của dân quê nơi thôn dã. Thiên tử xem những câu ca ấy để hiểu thuần phong mỹ tục trong thiên hạ, để đánh giá sự cai trị của vua chư hầu. Cái lễ cống tồn tại dài dài mãi sau này nhưng việc cống những câu ca nơi thôn cùng xóm vắng chỉ tồn tại đến thời nhà Chu (1134-247 TCN). Nhưng thử hỏi thiên hạ Trung Hoa thời đó là ai? Lịch sử cho thấy, lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Trung Hoa thời đó là lê dân, là dân đen tức những người Tam Miêu. Một đặc điểm nổi bật của dân Miêu Việt là sống hồn nhiên vui vẻ, ưa ca múa, khá thoải mái trong chuyện luyến ái gái trai. Kinh Thư ghi nhận, khi vì bất bình mà người Miêu Việt nổi dậy, dẹp không được, vua Thuấn phải sai ông Quỳ dùng ca múa phủ dụ mới yên. Từ kinh nghiệm trên, các ông vua hiền thời cổ ở Trung Quốc đã phần nào dựa vào những lời ca cất lên nơi thôn cùng xóm vắng mà biết nguyện vọng của dân để kịp thời điều chỉnh chính sách của mình. Chính những lời ca dân dã ấy được thu thập lưu giữ trong tàng thư của nhà vua. Và từ những thư tịch trong cung vua nhà Chu, Khổng Tử (551- 479 TCN) đã đem ra san định thành kinh Thi.

Không phải bỗng dưng mà ta thấy tinh thần nông nghiệp Việt tộc bàng bạc trong kinh Thi ngay từ bài đầu tiên và quan trọng nhất: Quan thư.

Quan quan thư cưu

Tại hà tri châu

Yểu điệu thục nữ

Quân tử hảo cầu.

Bài ca là hình ảnh một bãi nổi trên sông với những loài chim nước cặp đôi cùng người trai, người gái tình tự phản ánh cuộc sống hồn nhiên của dân cư nông nghiệp miền sông nước. Hảo cầu là từ đa nghĩa. Tản Ðà dịch là tốt đôi vợ chồng nhưng theo Kim Ðịnh, một bản Latinh lại dịch là giao cấu (copulary). Dịch như vậy mới phản ánh đúng cái thần câu ca: quan hệ tính giao tự nhiên như vậy chỉ có ở văn hóa phồn thực của Viêm Việt nông nghiệp. Dịch như Tản Ðà là dịch theo quan điểm thanh giáo mà Hán nho rồi Tống nho áp đặt để xuyên tạc kinh Thi.

Một bài khác cũng mang cái phong vị trữ tình như vậy, bài Hán Quảng :

Trên bờ sông Hán ai ơi,

Có cô con gái khó ai mơ màng

Mênh mông sông Hán sông Giang

Lặn sang chẳng được, bè sang khó lòng.

Sông Hán là chi lưu của sông Dương Tử, miền đất châu Kinh, châu Dương, châu Hoài... địa bàn cư trú lâu đời của người Bách Việt, một bằng chứng cho thấy người Việt là chủ nhân những câu ca trên. Một bài khác Thảo trùng: người con gái lên núi hái rau, nhìn thấy châu chấu theo nhau bay nhảy liền mong tưởng đến chồng trở về: Diệc ký kiến chỉ, diệc ký cấu chỉ, ngã tâm đắc di.

Tản Ðà dịch:

Bao giờ cho thấy mặt chàng,

Cho ta vui vẻ nở nang tấm lòng.

Dịch vậy là quá khéo, bởi chữ cấu có nghĩa là giao hoan. Nở nang tấm lòng vừa có nghĩa vui mừng lại có nghĩa thai nghén sinh nở!

Bài Dã hữu tử huân (con nai chết trên đồng) có câu:

Có cô con gái xuân tình,

Cậu giai tốt đẹp dỗ dành muốn ve

cũng là bằng chứng của lối sống phồn thực Viêm Việt. Cuộc sống phồn thực luyến ái tự nhiên là đặc điểm của văn hóa Việt tộc. Ta thấy điều này trong sinh hoạt hội mùa xuân: đến hội xuân, tất cả trai gái làng này đến hát đối với trai gái làng bên cạnh (là hai bộ lạc). Trai chưa vợ, gái chưa chồng xem mặt nhau rồi chọn lựa trong lúc hát hò. Tan đám hát, họ chia nhau từng đôi, tặng nhau kỷ vật rồi dẫn nhau vào những lùm cây, bãi cỏ giao hoan, gọi là dã hợp. Không ai chê bai, ngăn cản việc này. Những đứa trẻ sinh ra trong cuộc hôn phối tự nhiên ấy là điềm may. Chỉ khi các thánh hiền phương Bắc xuất hiện mới coi là xướng ca vô loại, chê là dâm bôn, ra sức cấm đoán rồi vỗ ngực ca ngợi công việc ấy của mình là cải hóa phong tục của man di! Nếu trong cuộc đời thực, Hán nho, Tống nho tiếp tay cho vương triều phong kiến xóa bỏ văn hóa Việt tộc thì trên phương diện chữ nghĩa, họ cũng một mặt ăn cắp tác quyền những dân ca và ca dao Việt trao cho vua chúa, mặt khác chú giải Thi theo hướng có lợi cho vương triều, cổ xúy chủ nghĩa thanh giáo. Việc làm này của Hán nho là có ý thức. Tuy nhiên, cái việc vụng trộm ấy cũng không hoàn toàn vô tang mà đã để lại dấu vết. Không những không thể xóa hết tinh thần Viêm Việt bàng bạc trong khắp tập kinh mà ở nhiều bài còn lộ rõ dấu vết trong cách đặt câu, trong cú pháp như đã trình bày ở trên.  

 Kinh Dịch

Kinh Dịch là cuốn sách đầu tiên, cổ nhất của văn hóa phương Ðông. Trải hàng nghìn năm tìm cách ghi chép tư tưởng của mình, có lẽ sau lối thắt nút dây làm ký hiệu cùng chữ hình ngọn lửa, chữ hình nòng nọc, con người đã tìm ra cách dùng những vạch đứt và vạch liền để ghi lại nhận thức của mình về nhân sinh và vũ trụ. Có lẽ đó là cuốn sách đơn giản nhất trong lịch sử loài người vì toàn bộ cuốn sách chỉ gồm hai ký hiệu nên là cuốn sách dễ nhất: chữ dịch cũng có nghĩa là dị (dễ dàng). Nhưng rồi hậu thế nhận ra, đó cũng là một trong những cuốn sách khó đọc nhất của nhân loại, được viết bằng hệ ký hiệu nhị phân, theo tư tưởng toán học hiện đại nhất...

Về nguồn gốc của kinh Dịch, Hệ từ truyện viết: "Ðồ xuất hiện ở sông Hà, Thư xuất hiện ở sông Lạc, đấng thánh nhân bắt chước theo." (Hà xuất Ðồ, Lạc xuất Thư, thánh nhân tắc chi.) Hà đồ, Lạc thư chính là nền tảng của vũ trụ quan phương Ðông. Từ Ðồ, Thư các bậc thánh nhân làm ra Tiên thiên, Hậu thiên Bát quái rồi làm ra Dịch.

Nhưng tới đời Hán, không biết căn cứ vào đâu, Khổng An Quốc viết: "Ðời vua Phục Hy có con long mã xuất hiện trên sông Hà. Nhà vua bèn bắt chước theo những vằn của nó để vạch ra bát quái, gọi là Hà đồ. Ðời vua Vũ có con thần quy xuất hiện trên sông Lạc. Nhà vua nhân đó mà xếp đặt thứ tự làm thành chín loại, gọi là Lạc thư"(48)

Sau Khổng An Quốc, nguồn gốc của kinh Dịch bị cuốn vào rừng rậm những thuyết dị đoan huyền bí:

Sách "Tống thư phù thụy chi" kể: "Khi vua Vũ quan sát sông Hà để trị thủy, thấy một người mình cá rất dài xuất hiện. Người này nói: Ta là Hà tinh đây! Nói xong trao Hà đồ cho vua Vũ, bàn việc trị thủy xong, bèn lui xuống vực sâu"(49) Sách Vĩ thư phần Xuân thu , thiên Nguyên mệnh bào viết: "Vua Nghiêu ra chơi hai sông Hà, Lạc thấy một con rồng đỏ mang tấm đồ xuất hiện."

Sách Thượng thư trung hậu nói: Vua Thuấn đến Hạ tắc thì thấy con rồng vàng mang đồ xuất hiện.

Sách Luận ngữ sấm ngôn bảo: Khi cả vua Nghiêu và vua Thuấn cùng đi chơi tới sông Hà và núi Thủ thì thấy năm ông lão báo cáo cái ngày con long mã ngậm tấm đồ xuất hiện.

Sách Hà đồ, thiên Ðĩnh tá phụ cho rằng không phải Nghiêu Thuấn mà là Hoàng Đế: "Thiên lão (một ông quan) tâu với Hoàng Đế sông Hà có Long đồ, sông Lạc có Quy thư. Nhà vua nghe lời, ra chơi sông Quỳ thủy thấy một con cá lớn xuất hiện. Khi cá lặn thì tấm đồ hiện ra." (50)

Ðến Sơn hải kinh của Quách Phác thì sự việc được đẩy tới cao trào. Sách này cho rằng cả ba đời Phục Hy, Hoàng Đế và Thần Nông (Liệt Sơn) đều có Hà đồ xuất hiện. Ðiều này dẫn đến việc Lý Quá trong sách Tây Khê dịch thuyết viết rằng, cứ mỗi khi thánh nhân ra đời thì Hà đồ xuất hiện, chứ không riêng đời Phục Hy: "Căn cứ theo Sơn hải kinh, ta thấy Phục Hy được Hà đồ thì người nhà Hạ nhân đó nói Thần Nông; Hoàng Đế được Hà đồ thì người Chu nhân đó nói Quy tàng (Quy Tàng là họ của Hoàng đế); Thần Nông được Hà đồ thì người Chu nhân đó nói Chu dịch. Như vậy Hà đồ không phải đặc xuất thời Phục Hy." Bởi thế nên Phục Hy, Hoàng đế, Thần Nông thị đều được Hà đồ mà làm Dịch."(51) Quả là đa thư đã dẫn tới loạn mục! Thật rối như canh hẹ, chẳng ai biết đâu mà lần!

Nhìn vào bức tranh loạn thuyết trên, ta không khỏi tức cười cho mấy vị Hán nho. Khổng Tử chỉ viết: "Hà xuất Ðồ, Lạc xuất Thư, thánh nhân tắc chi." Vậy mà cháu ông, Khổng An Quốc bịa ra chuyện thần quy, long mã rồi kéo cả Ðại Vũ vào chia việc với Phục Hy. Phục Hy làm ra bát quái - tức 8 quẻ rồi dừng lại ở đó. Phải hơn hai nghìn năm sau (từ 4480 đến 2205) Hạ Vũ mới biết cách làm một việc đơn giản chồng 8 quẻ lên nhau thành 64 quẻ Dịch!

Không phải không thấy An Quốc vô sở cứ, có điều các Hán nho khác cứ cố tin cách lý giải có lợi ấy mà theo đà tô vẽ mãi. Nhưng con ễnh ương không bao giờ trở thành con bò được! Như Cao Biền dậy non, các phù thủy Hán nho không điều hành nổi đội quân ma nên chúng làm loạn, đến mức quá hoang đường không ai tin nổi! Ðiều này tất dẫn tới cuộc tranh cãi không thôi hàng ngàn năm.

Du Diễm đời Tống căn cứ vào lời của Khổng Tử trong Dịch hệ thượng, đã nói: "Phục Hy bắt chước theo Hà đồ, Lạc thư mà hoạch quái. Thế mà Khổng An Quốc lại bảo Phục Hy hoạch quái phải bắt chước theo Hà đồ, còn Ðại Vũ bày Cửu trù phải bắt chước theo Lạc thư. Vì sao họ Khổng chia làm hai như vậy? Sách Cửu kinh biện nghi của họ Trần xét theo Ngọc Xuyên văn tập có nói: "Nếu bảo Phục Hy hoạch quái, gốc ở Hà đồ thì Khổng Tử chỉ cần nói Ðồ xuất hiện ở sông Hà, đấng thánh nhân bắt chước theo là đủ rồi, hà tất phải nói gồm cả Lạc thư vào nữa làm gì? Ðã nói: bắt chước theo Ðồ, Thư để làm Dịch thì như thế Ðồ thư đều phải có từ thời Phục Hy, chứ sao lại phải đợi mãi tới khi vua Vũ trị thủy sau này mới có Lạc thư. Thế mà Khổng An Quốc dám bảo: Thời Phục Hy có con long mã mang Ðồ xuất hiện ở sông Hà, nhà vua thấy vậy bèn bắt chước theo để vạch Bát quái, gọi là Hà đồ, và thời Ðại Vũ có con thần quy mang Thư xuất hiện ở sông Lạc, nhà vua thấy vậy bèn nhân đó xếp đặc điểm số để lập thành Cửu trù, gọi là Lạc thư. Họ Khổng căn cứ vào đâu vậy?"(Du Diễm sđd q.3 tr.11) Ông còn nói: "Thời vua Phục Hy chưa có văn tự. Nhà vua nhân những nét chấm của Hà đồ, Lạc thư mà hoạch quái, chứ chẳng phải Ðồ Thư có những số trời sinh sẵn để cho ngài lấy dùng! Nếu Hệ từ nói: Ngửa trông tượng ở trên trời, cúi xem phép ở dưới đất, quan sát hình nét ở chim muông cùng với sự thích nghi của đất, gần thì lấy ở mình, xa thì lấy ở vật, do đó mới vạch Bát quái; vậy thì Phục Hy hoạch quái há chỉ riêng Hà đồ và Lạc thư thôi sao?" (Du Diễm sđd tr 11)

Tới đời Nguyên, Tiền Nghĩa Phương cũng đả kích Hán nho. Ông chê cả Chu Hy vì họ Chu đã nghe theo bọn Khổng An Quốc, Lưu Hâm đời Hán: "Hiền tài như Chu tử mà cũng không thoát khỏi lời nói quanh co bất minh, cuối cùng cũng chẳng thông hiểu vấn đề"(Tiền Nghĩa Phương: Châu Dịch đồ thuyết q thượng tr 19) Ông còn nói thêm: "Ðức Khổng Tử nói: Bào hy ngửa trông cúi xét, để vạch Bát quái, thế mà An Quốc dám bảo Bào Hy bắt chước Hà đồ để vạch Bát quái! Lưu Hâm tin thuyết của An Quốc nên nối gót lý luận. Thực ra An Quốc lầm ở trước, Lưu Hâm lầm ở sau; hậu thế tin theo, ngàn thu nhất luật! An Quốc chính là người có tội đối với Dịch!" (Khổng An Quốc thành Dịch chi tội nhân!) (Sđd tr 11)

Như vậy là đã rõ, chính các học giả Trung Hoa đời Tống đời Nguyên đã bác tà thuyết của Hán nho để trả lại tác quyền của Phục Hy với kinh Dịch.

Tại sao Hán nho lại tự mua dây trói mình như thế? Khổng Tử nói: Hà xuất đồ, Lạc xuất thư. Ông nói vậy cũng như từng nói ngô thuật nhi bất tác là ông vô tư chính nhân quân tử. Nhưng cháu chắt ông lúc này nhiễm nặng tư tưởng đại Hán tộc bỗng nhận ra: nếu Phục Hy làm ra Dịch thì chẳng phải Dịch là sản phẩm của người Bách Việt, người Tam Miêu sao? Và với vai trò của con cháu thánh nhân lại nắm giữ cổ thư ông ta đã bịa ra chuyện long mã, thần quy rồi đặt cái việc trùng quái vào tay Hạ Vũ để chia phần. Rất có thể đây nằm trong ý đồ gắn công làm ra Dịch với Hán tộc!  

Sách sử cũng cho biết, Phục Hy làm dịch là nhờ ở óc quan sát, từ những hiện tượng trong tự nhiên của trời đất của chim muông... đã phát minh ra tám quẻ rồi chồng lên thành 64 quả kép. Ngoài công việc góp phần vào văn minh cho Ðông Á, Bát quái cùng các Trùng quái còn bước sang nhiều lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, xã hội... Hệ từ truyện ghi: "Ngài thắt dây lại mà làm ra cái vó cái lưới để đi săn, đánh cá, đó là ngài đã lấy tượng ở quẻ Ly" Rồi "Họ Bào Hy mất. Họ Thần Nông lên thay, đẽo gỗ làm lưỡi cày, đem cái lợi về sự cày bừa dạy cho thiên hạ; đó là ngài lấy tượng của quẻ Ích." Họ Thần Nông lại còn dạy dân họp chợ, giao thương: "Mặt trời đứng bóng thì họp chợ, đưa dân trong thiên hạ đến, tụ góp hàng hóa của thiên hạ lại, giao dịch xong rồi trở về, ai cũng được như ý; đó là ngài lấy tượng ở quẻ Phệ hạp."

Hai nghìn năm trăm năm nay người ta vẫn tin thế nhưng chúng tôi xin được phép nghi ngờ!

Phải chăng chính Phục Hy là người suy ngẫm từ tượng quẻ Ly rồi làm ra tấm lưới đầu tiên? Hoàn toàn không phải vậy! Làm ra tấm lưới đầu tiên phải là người đánh cá. Tát cá ở ao đầm, dùng gậy đập chết cá ở chỗ cạn hay dùng mồi câu... là công việc từ rất xưa của người tiền sử. Tới một lúc, người đánh cá tình cờ nhìn thấy con cá bị dắt lại trong đám rễ cây. Theo bản năng, người đó vui mừng tóm lấy tặng vật trời cho. Nhưng rồi khi tĩnh trí lại, anh ta tự hỏi tại sao con cá lại bị dắt ở chỗ đó mà không ở chỗ khác? Tới một lúc, ánh sáng trí tuệ bừng lên trong đầu: nếu mình dùng những sợi dây như rễ cây kia kết lại với nhau tạo thành một màng "rễ cây" đem chắn ngang dòng nước? Ðúng là thế: văn hóa kết thừng xuất hiện, lưới đánh cá đã được phát minh như vậy, và hẳn là có trước Bát quái nhiều! Cũng có thể là thế này: thoạt kỳ thủy con người kiếm ăn bằng săn bắt hái lượm. Một hôm kia trong rừng, anh ta gặp con thú bị dắt lại trong đám bùng những dây leo gai góc. Cố nhiên anh ta bắt lấy con thú nhưng rồi từ đó anh ta tìm được cách kết những sợi dây lại thành tấm lưới. Lưới săn thú được chuyển xuống nước... Tấm lưới được làm ra như thế, hẳn trước Phục Hy nhiều! Và chắc rằng chiếc cày cũng xuất hiện như vậy: người trồng lúa nước nhận ra, nếu đất được xới lên rồi cấy trồng thì mùa sau lúa sẽ tốt hơn. Bắt đầu đất được xới bằng những que gỗ. Que gỗ chóng mòn và không thể xới được ở những nơi đất cứng. Từ đấy mà làm ra những chiếc cuốc bằng đá. Rồi một hôm họ xúm nhau kéo một vật cứng và nhọn trên đất. Vô tình, trên con đường vật đó đi qua một luống đất được cày lên. Tia sáng bừng lên trong những mái đầu thông thái: nếu làm cho vệt kéo đó sát liền nhau thì cả thửa ruộng được xới lên, nhanh hơn từng nhát cuốc nhiều! Và con người nghĩ ra cái dụng cụ dùng người kéo để xới đất... Chiếc cày ra đời ! Có thể Phục Hy hay Thần Nông vốn là người đánh cá hay cuốc đất đã làm ra tấm lưới, chiếc cày. Nhưng có điều chắc là các vị không phải người đầu tiên làm ra chiếc cày tấm lưới: hàng vạn năm trước đó, tấm lưới đã xuất hiện trên con đường thiên di kiếm sống của những đoàn người hái lượm săn bắt lang thang trong rừng già châu Phi rồi Ðông Nam Á. Và ít nhất 5000 năm trước thời Phục Hy, con người đã thuần hóa được cây lúa và làm ra chiếc cày... Có một thời, các học trò của cụ Cao Xuân Huy trong lớp Hán học chuyền tay nhau đọc cuốn sách hiếm của Sử Thiếu Vi trong đó nói: Thần Nông ăn lá cây, một ngày chết đi sống lại đến năm lần rồi tìm ra thuốc chữa bệnh bằng cây cỏ. Hiên Viên do "Kiến chuyển bồng nhi chế thừa xa" có nghĩa là nhìn cỏ bồng xoay theo gió mà chế ra xe. Toại Nhân thì dùi cây tìm ra lửa. Ðấy là cách nhìn khoa học, khách quan về quá trình sáng tạo vật dụng của người xưa. Rõ ràng là, không thể chỉ từ suy ngẫm về tượng quẻ Ly quẻ Ích mà làm ra lưới ra cày! Ngược lại, phải từ thực tế quan sát việc kết lưới đẽo cày và hàng trăm công việc khác, người tiền sử mới đúc kết ra Ðồ, Thư, Bát quái! Marx nói chí lý: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi từ tư duy trừu tượng đạt đến trực quan sinh động ở mức cao hơn! Nói từ quẻ Ly quẻ Ích mà nghĩ ra tấm lưới chiếc cày là Khổng Tử theo lối tư duy lộn ngược, đã làm cái việc mà người ta gọi là đặt cái cày trước con trâu! Trên thực tế đã diễn ra tiến trình ngược lại: từ quan sát thiên nhiên và con người với việc cấy cày, đánh cá, trí tuệ tập thể của dân gian làm ra Ðồ, Thư. Thánh nhân tiếp thu trí tuệ dân gian khái quát hóa thành Bát quái, Trùng quái để đưa tư duy lên mức cao hơn: khám phá vũ trụ và con người. Dịch không thể giúp làm cày làm lưới mà giúp con người biết thiên, địa, nhân để tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.

Như vậy, không phải Phục Hy là người trực tiếp làm ra Dịch, đúng như Khổng Tử viết: "Ðồ xuất hiện ở sông Hà, Thư xuất hiện ở sông Lạc, đấng thánh nhân bắt chước theo." Ðúng là thánh nhân bắt chước theo. Nhưng bắt chước cái gì đây? Như ta thấy, hoàn toàn không phải bức Ðồ trời cho trên mình long mã, Thư trên mai rùa thần mà là bắt chước những Ðồ, Thư từng tồn tại trong dân gian bên bờ sông Hoàng Hà và Lạc Thủy. Có thể hàng ngàn năm trước, những tư tưởng về âm dương, ngũ hành đã xuất hiện trong cộng đồng Bách Việt nông nghiệp rồi dân gian đúc kết thành Ðồ, Thư... Tài năng và công lao của Phục Hy là việc ông phát hiện ra Ðồ, Thư của dân gian rồi chuyển hóa nâng cao thành Bát quái, Trùng quái... chúng tôi chắc rằng sự thật đã diễn ra như vậy!

Tới đây một câu hỏi nảy sinh: Vì sao Khổng Tử lại tước bỏ đóng góp của dân gian rồi quy công cho Phục Hy? Ðiều này không lạ vì chính người cũng từng quy cho Hoàng đế những công lao mà đến thánh thần cũng không làm nổi! Ðấy chẳng những là thói quen công quy vu trưởng của người xưa nói chung mà trong trường hợp này còn có lý do riêng. Nếu công bằng ghi công cho dân gian thì cũng có nghĩa là ghi công cho Viêm Việt, cũng tức là loại Hán tộc khỏi vũ đài văn hóa! Bởi lẽ thời Phục Hy dân bên sông Hà sông Lạc là người Bách Việt còn người Hán thì vẫn chăn cừu đuổi dê nơi đồng cỏ phía Bắc. Dù có là thánh nhân nhưng Khổng Tử cũng không chấp nhận cái công lớn ấy lại thuộc về lê dân về Di, Ðịch! Một lối thoát danh dự: quy công cho Phục Hy vì lúc này ông vua Viêm Việt đã biến thành vua của Hán tộc! Ðiều đó không phải không có lý: 2000 năm sau trận Trác Lộc, con cháu của Hoàng đế đã hòa huyết tới mức hòa đồng với chắt chít của Phục Hy nên chẳng còn phân biệt đâu là Hán đâu là Việt mà tất cả cùng là hậu duệ của cụ viễn tổ Phục Hy. Khổng Tử nhận kế thừa di sản của họ Bào Hy cũng là hợp pháp!

Kinh điển ghi Hà xuất đồ, Lạc xuất thư và tuyệt nhiên không phải của trời cho trên thân long mã hay thần quy. Ðồ và Thư chính là sản phẩm của trí tuệ Bách Việt nông nghiệp, của những người rời bỏ cuộc sống hái lượm du cư để định cư bên thửa ruộng của mình. Khi cắm cây lúa xuống, họ phải trông trời trông đất trông mây, trông mưa trông nắng... Từ đấy những quy luật vận hành của thiên nhiên được phát hiện và lịch pháp ra đời. Tới một lúc từ trực quan sinh động, tư duy trừu tượng nảy sinh và Ðồ, Thư ra đời như cuốn sách đầu tiên ghi lại những khái quát về nhân sinh và vũ trụ. Có thể đoán chừng thế này: tạo ra Ðồ, Thư là công của dân gian. Khái quát thành Bát quái, Trùng quái là cống hiến siêu việt của những bậc thánh. Thánh ở đây không có nghĩa thần thánh mà là những người có thiên tài kiệt xuất. Người đó hẳn phải là con người cụ thể nào đó nhưng được truyền thuyết hóa thành họ Bào Hy. Sau Nhân hoàng thì Bào Hy là dòng vua thứ hai của người Bách Việt.

Kinh điển cũng ghi rằng, Phục Hy làm ra Bát quái, Trùng quái. Ðó là một cuốn sách quá đơn giản chỉ gồm hai ký tự. Cuốn sách đơn giản đó tàng chứa hàm lượng trí tuệ vô cùng lớn lao. Nhưng đáng tiếc, sự giải mã nó quá khó đến mức trở nên gần như không thể hiểu với đại bộ phận trí thức. Phải hơn 3000 năm, nhờ trí tuệ cùng lao động của nhiều bậc thánh nhân như Văn vương, Chu Công, Khổng Tử chúng ta mới có được cuốn Dịch hôm nay!

Người đầu tiên đặt vấn đề kinh Dịch là của người Việt một cách hệ thống và công khai là giáo sư Lương Kim Ðịnh trong bộ Triết lý An vi của ông xuất bản những năm 70 thế kỷ trước. Tiếp đó là nhiều học giả khác như Gs Lê Văn Sửu với "Nguyên lý thời sinh học cổ Ðông phương" và "Học thuyết âm dương ngũ hành", Gs Bùi Văn Nguyên "Kinh Dịch Phục Hy" rồi Nguyễn Tiến Lãng "Kinh Dịch-sản phẩm sáng tạo của người Việt" Thực tế lịch sử này từ lâu bị khuất lấp, và Ðoàn Nam Sinh trong công trình khảo cứu về thời Ðông Sơn cho rằng người Việt cổ đã khắc hình Hà đồ trên mặt trống đồng:

"Hà đồ thời Tống là sự sắp xếp các "số" từ 1 đến 9 theo các phương vị nhất định, trong đó "số" 5 được phân bố hai vị trí và "số" 1 (vòng) có 6 vị trí. Tất cả các chi tiết về các "số" ấy thể hiện đầy đủ trên mặt trống Ngọc Lũ 1.

Hình Hà đồ có 15 vị trí, 5 ở trung tâm, 3 ở phía trên, 3 ở phía dưới của hướng ngang, 2 ở phía phải và 2 ở phía trái của hướng dọc.

So với các phù điêu hay nhóm phù điêu trên mặt trống thì có 11 vị trí đúng hướng, 9 vị trí vừa đúng hướng vừa đúng sơ đồ phân bố của Hà đồ thời Tống. Còn lại các vị trí 6 và 7 vòng ("tượng" của số 6 và 7) xoay đi một góc vuông. Tượng số 8 và 9 trên mặt trống được thấy ở trục 1&2- ngược hẳn hình đồ 1, chúng tôi cho rằng người xưa xoay đi một góc vuông ngược chiều kim đồng hồ, tức là chiều của đàn chim bay, người và thú đi. Toàn bộ các chi tiết đều linh động ấy đã nói lên tính không dừng của dịch lý.

Các "tượng" số 1, 2, 6, 7, 8, 9 đều "đọc" được trên vành phù điêu trong, tức vành phù điêu thứ nhất.

(Hình của Đoàn Nam Sinh)

 

(Hình của Đoàn Nam Sinh)

Các "tượng" số có phảng phất sự trung gian giữa Hà đồ và Lạc thư ở các chuyển vị 6, 7, 8, 9 nhưng phân biệt âm dương rõ ràng hơn các đồ khác, cho thấy các tổng 4+6, 7+3, 8+2, 9+1 và 5+5 dễ dàng. Hình "Hà đồ" trên trống Ngọc Lũ I cho thấy các tổng bằng 15 rất giống với cách định vị Lạc thư.

Hình đồ 2, sắp xếp theo trống Ngọc Lũ I, thì "tượng" số 1, 2 ở trong, "tượng số 3, 4 ở ngoài có vẻ hợp với tự nhiên hơn. Song 6, 7, 8, 9 cũng ở trong mà 3, 4, 5 ở ngoài lại không giống với lề thói tư duy logic. Trong khi đó, theo Hà đồ Tống thì hai hàng 5 ở trong mà 1, 2 ở ngoài cũng hơi trái với tuần tự của dãy số (?)

Qua "Hà đồ" trên trống Ngọc Lũ này, Dịch học sẽ có cơ sở giải thích tại sao Hà đồ phân bố trên hình tròn (tượng trời) còn Lạc thư phân bố trên hình vuông (tượng đất). Ðó là lời giải thích thỏa đáng câu hỏi từ bao đời nay.

Hơn nữa, "Hà đồ" trên mặt trống hẳn đã giúp tiền nhân tính toán phát triển nghề nông, hái thuốc, chữa bệnh, vượt sông biển, phát triển lịch pháp, thiên văn, binh pháp...để đạt tới đỉnh cao tri thức lúc bấy giờ."(52)

Có một điều canh cánh bên lòng là chúng ta vẫn nghĩ, với hoa văn trên trống phong phú và tinh xảo đến vậy hẳn ông bà ta phải ký thác trong đó những gì rất quan trọng, trong đó không thể thiếu cái quan trọng nhất của trí tuệ Việt là Hà đồ, Bát quái.

Phát hiện của Ðoàn Nam Sinh là mới mẻ, đáng trân trọng, chúng ta cần bỏ tâm sức nghiên cứu sâu thêm.

Cũng về vấn đề này, các nhà phong thủy Việt Nam có những đề xuất đáng chú ý:

Trong các bản văn kinh Dịch trước thời Hán không có đồ hình Hậu thiên bát quái và Tiên thiên bát quái, kể cả đồ hình Hà Lạc. Dấu ấn của những đồ hình này chỉ được nhắc tới một cách mơ hồ trong Hệ từ: "Hà xuất đồ, lạc xuất thư; thánh nhân tắc chi". Từ thời Tây Hán nó được Khổng An Quốc, Kinh Phòng nhắc tới. Cho đến đời Tống, các đồ hình này mới được các Ðạo gia công bố mà chính họ cũng thừa nhận truyền thuyết có từ đời Hán. Vì tính mơ hồ của lý thuyết nên nhiều người bỏ công giải thích. Nhưng các sách như Sơn Hải kinh, Thủy Kinh chú, Tinh lịch khảo nguyên... giải thích đều chưa thỏa đáng nên đến nay các nhà nghiên cứu vẫn lúng túng.

Trong cuốn Tìm về cội nguồn kinh Dịch tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh cho rằng: "Hậu thiên bát quái đổi chỗ Tốn/Khôn và liên hệ với Hà đồ chính là nguyên lý của vũ trụ quan phương Ðông: 4 quái chính Khảm, Chấn, Ly, Ðoài hoàn toàn nằm đúng về hành và phương vị cũng như độ số trên Hà đồ. Lạc thư không thể hiện điều này. Bản chất của Hà đồ là độ số thể hiện sự vận động có quy luật tương hợp của ngũ tinh (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) với Âm, Dương (mặt Trời, mặt Trăng). Bởi vậy, sự phi tinh trong phong thủy chính là sự tính toán hiệu ứng của các sao gần gũi với Trái Ðất trong sự vận động thể hiện độ số của Hà đồ. Còn Lạc thư chính là biểu thị sự cô đọng của Lạc thư cửu tinh đồ. Vị trí các sao trong Lạc thư Cửu tinh đồ ổn định trên bầu trời. Vì vậy không thể lấy độ số ổn định để tính phi cung trong phong thủy vốn là sự vận động của ngũ tinh.

Từ cơ sở Hậu thiên bát quái liên hệ với Hà đồ tạo ra khả năng phục hồi và lý giải tất cả các trường hợp bí ẩn của văn hóa Ðông phương liên hệ tới thuyết Âm dương ngũ hành và khả năng không giới hạn cho việc phát triển một siêu lý thuyết thống nhất vũ trụ. Ngược lại, Hậu thiên bát quái liên hệ với Lạc thư trong cổ thư chữ Hán không nói lên điều gì, ngoài sự giải thích mơ hồ như đã nói trên. Không có cơ sở nào khẳng định sự phi cung trên Lạc thư là đúng, ngoại trừ việc nó vẫn đang được ứng dụng hàng ngàn năm nay mà người ta chẳng hiểu làm sao lại ứng dụng như vậy. Do không có tính kế thừa cùng những sai lệch có tính nguyên lý rất căn bản nên có cơ sở khẳng định âm dương ngũ hành cùng kinh Dịch không thể là sản phẩm của Hoa Hạ. Và thật kỳ lạ, nguyên lý căn bản của học thuật phương Ðông này đã được ghi nhận trong một di sản văn hóa phi vật thể nổi tiếng của Lạc Việt là bức tranh Ngũ hổ phường Hàng Trống Hà Nội với dòng chữ "pháp đại uy nỗ." Chính nền văn hóa Lạc Việt với những di sản phi vật thể sẽ là chiếc chìa khóa mở bức màn bí ẩn của văn hóa phương Ðông." (53)

Như vậy, nếu như dân gian Việt tộc làm ra Ðồ, Thư rồi Bát quái, Trùng quái thì trí thức Hán Việt góp công lớn giải mã Dịch khiến nó trở thành cuốn sách hữu dụng trong cuộc sống.

Cũng như kinh Thi, kinh Dịch là sản phẩm của cuộc hôn phối tốt đẹp giữa hai nền văn hóa Việt Hán, trong đó Việt tộc mở ra những trang đầu tiên và quan trọng nhất. Vì vậy, người Việt chúng ta, kẻ nối dõi cuối cùng của dòng Bách Việt xứng đáng nhận về mình quyền kế thừa tổ tiên xưa.  

Kinh Thư  

Ðây là tập sách do Khổng Tử san định khi đọc Tam Phần và Ngũ Ðiển trong văn khố nhà Chu. Ông bỏ đi sách Tam Phần viết về các đời Phục Hy, Thần Nông, Hoàng đế, Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Cao Tân, chỉ giữ lại từ đời Ðường Ngu trở xuống. "Ngài bớt những chỗ phiến loạn đi, nêu những điều đại cương để làm khuôn mẫu cho đời sau."

Tuy là cuốn sách cho ta biết chút ít sử liệu thời thượng cổ nhưng Thượng Thư không phải là cuốn sử mà là cuốn sách đạo đức, dạy cách làm vua làm quan. Ở đây Khổng Tử mượn những nhân vật và sự kiện lịch sử để chuyển tải ý tưởng của mình nhằm chống đỡ cho bức tường đạo đức của thời hoàng kim đã xiêu lệch.

Ngày nay khi đọc Thư, ta có lý do để ngờ rằng, Khổng Tử bỏ đi Tam Phần không chỉ vì sử liệu thời đó không xác thực, phong tục chưa thuần hậu mà còn vì nguyên nhân khác: đấy là thời của Miêu Việt và của cuộc chiến khốc liệt chiếm đất của người Việt. Không thể đặt những sự kiện như vậy lên đầu cuốn sách giáo khoa mang ý nghĩa lịch sử văn hóa hàng đầu của Hán tộc, nhất là sau đó chép những chuyện rợ Tam Miêu nổi loạn, đày rợ Tam Miêu đi xa.

Nhưng do tính độc lập khách quan của sử liệu, ta vẫn thấy trong đó hiện lên tinh thần Việt tộc:

"Bèn sai ông Hy và ông Hòa kính theo định luật của trời, xem xét độ số mặt Trời, mặt Trăng, các ngôi sao và truyền bá rất kính cẩn trong dân gian biết những thời hậu cấy gặt sớm, muộn thế nào." (54) Việc sai Hy, Hòa làm lịch rồi quan sát thời tiết để cày cấy chứng tỏ đây là xã hội nông nghiệp. Thiên hạ lúc này là thiên hạ Miêu Việt. Theo truyền thuyết, Hoàng đế lấy nước của họ Thần Nông, truyền được 7 đời đến vua Nghiêu trị vì năm 2679 TCN. Tuy người Hán thống trị nhưng xã hội lúc này vẫn sâu đậm tính chất Việt.

Kinh Thư cũng cho thấy cuộc đấu tranh không kém phần gay gắt của dân Tam Miêu chống lại kẻ thống trị: "Cấm cố rợ Tam Miêu ra đất Tam Nguy."(Nghiêu điển, câu12). Câu 21 trong thiên Ðại Vũ mô là bức tranh sinh động mô tả xã hội Trung Hoa trong buổi đầu cuộc hôn phối Hán Việt: "Trong 3 tuần, rợ Hữu Miêu vẫn còn phản nghịch. Ông Ích bàn với vua Vũ rằng: chỉ có đức trạch cảm động đến trời dù xa cũng tới. Ai hay tự mãn thì tổn thương; khiêm tốn thì được ích lợi, ấy là đạo trời. Xưa vua Thuấn ở núi Lịch Sơn, khi ra ngoài đồng ruộng, ngày thường kêu khóc với trời vì chưa được lòng cha mẹ. Tự mình nhận lấy tội lỗi, phụng sự ông Cổ Tẩu rất cung kính sợ hãi, ông Cổ Tẩu cũng nguôi lòng. Bụng thành kính cảm thông cả đến thần minh, huống chi rợ Hữu Miêu. Vua Vũ nghe lời nói phải, lạy rồi nói rằng: Phải lắm! Rồi đem quân về, chấn chỉnh quân lữ. Vua bèn ban các văn hóa và đức giáo khắp mọi nơi. Sai múa cái mộc và quạt lông ở hai bên thềm trước sân rồng. Bảy tuần sau, rợ Hữu Miêu xin đến qui phục."

Cố nhiên, tranh chấp Miêu-Hán là tranh chấp kinh tế, chủng tộc... nhưng gay gắt hơn cả là tranh chấp văn hóa. Dù đày ra vùng hoang vu, dù dùng vũ lực cũng không dập tắt được sự đối kháng. Sách lược cuối cùng là dùng nhạc, dùng văn: Không khuất phục trước sức mạnh đàn áp nhưng biết nghe lẽ phải, biết sống trong hòa hiếu. Ðấy là bản sắc văn hóa Việt.

Có thể nói cả kinh Thư là tinh thần nhân bản của Viêm Việt. Tinh thần này thể hiện trong đức độ, trong công tích của những thánh nhân như Nghiêu:

Xét đời xưa, vua Ðế Nghiêu đáng khen là phóng huân, nghĩa là công nghiệp rất to tát. Nói về đức tính thì cung kính thông minh, văn chương rõ rệt, ý tứ sâu xa, tự nhiên mà không miễn cưỡng. Lại hay kính cẩn khiêm nhường..." (Nghiêu điển, câu 1) Hay tỏ đức tốt để thân với người trong họ chín đời. Các người trong họ chín đời hòa mục rồi, ngài tỏ đức tốt cho cả dân trăm họ. Trăm họ sáng tỏ rồi, ngài hòa hợp cả đến muôn nước chư hầu, bấy giờ nhân dân trong thiên hạ đều hòa vui, bỏ điều ác mà làm điều thiện."(Nghiêu điển, câu 2)

Những điều dẫn trên cho thấy, là nhà giáo dục lớn, Khổng Tử đã đem những tư tưởng khởi nguyên tốt đẹp của Việt nho làm tấm gương sáng dạy cho muôn đời sau.



CÒN TIẾP ...




© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ VÀ NEWVIETART .



TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ TRUYỆN NGẮN NHẬN ĐỊNH