TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




. Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

. Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái
trong giấy tờ tuỳ thân 1936.

. Khởi sự viết văn cuối 1952.

. Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

. Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

. Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút - báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

. Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… -

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la banlieue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur - Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).





BÚT KÝ & TRUYỆN


THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 1/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E -mail 2/2

CHÀNG VĂN SĨ ĐẤT TỀ

ĐÊM DÀI TÌNH ÁI

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA -Chương 1 Kỳ 1

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 1 Kỳ 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 2/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3 tiếp theo

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 4

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 4

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 5

CON CHÓ LIÊM SỈ

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 6

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 5

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 7

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 8

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 9

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 10 - KẾT





BIÊN KHẢO


LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 1

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 2

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 3

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 4

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 5

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 6

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 7

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 8

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 9

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 10

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 11

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 12

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 13

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 14

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 15

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 16

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 17

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 18

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 19

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 20






















THAY LỜI DẪN

Lược Sử Văn Nghệ Việt Nam của nhà văn Thế Phong gồm 4 tập, đã được in 2 tập: Tập 1 NHÀ VĂN TIỀN CHIẾN 1930-1945, bản in ronéo đầu tiên ở Sài Gòn gồm 100 cuốn vào năm 1959. Bản tái bàn cuả NXB Vàng Son in 3000 cuốn ở SàiGòn vào năm 1974. Bià cuả họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi được chụp in lại trên đây , do một trong những NXB vô danh ở Mỹ in lậu ở California sau 1975 và Tập 4 : Tổng Luận đã chuyển ngữ A BRIEF GLIMPSE AT THE VIETNAMESE SCENE (from 1900 to 1956) và 2 tập 2 & 3 nói về văn nghệ kháng chiến, nhà văn hậu chiến 1900 - 1956 (văn nghệ quốc gia hay văn nghệ của VNCH) chưa bao giờ công bố trên văn đàn, mặc dù đã được lưu trữ tại một số thư viện TRONG NƯỚC (Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. HCM, Thư viện Khoa học Xã hội Tp.HCM) và NGOÀI NƯỚC như ở Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, Boston, Ithaca-New York, SIU, IOWA vv..hoặc ở Pháp, Đức, Úc..

Newvietart xin đăng tải lại một vài nhận định báo chí, văn giới về Lược Sử Văn Nghệ khi xuất bản lần đầu vào 1959 :

a) Tạp chí Bách Khoa:" ..Ông TPhong vừa cho ra một loạt phê bình văn học. Đó là ai nấy đều mong đợi, bởi vì sau một thời gian khá lâu chưa ai tiếp tay Vũ Ngọc Phan, chốc đà mười mấy năm trời' đúng một thời gian luân lạc cuả cô Kiều...."( số 56, năm 1959, TRIỀU ĐẨU)

b) Ông TP một văn nghệ sĩ thủ đô vừa viết xong và cho phát hành cuốn" Lược sử Văn Nghệ VN", trong đó tác giả phân tích các tác phẩm của văn nghệ sĩ ra đời từ 1930 đến 1945. Cuốn này được quay ronéo có bầy bán tại các hiệu sách. Sách này tác giả đã tốn nhiều công phu và sưu tầm khá nhiều tài liệu để biên soạn (nhật báo Ngôn Luận ngày 8/9/1959- Saigon).

c) ..." Điều thứ ba, sự phán đoán của anh hợp với ý tôi, phần nhiều các tác phẩm anh khen, thì tôi cũng nhận là có giá trị; những tác phẩm anh chê, thì tôi cũng không thích. các nhận xét cuả anh về Triều Sơn, Hoàng Thu Đông đều đúng cả. Đó là nhận xét của tôi; tôi phải phục sức đọc, sức viết, sức nhớ cuả anh. Cảm ơn anh một lần nữa.." (Nguyễn Hiến Lê, 12/3c Kỳ Đồng, Saigon 3- ngày 17/4/1959)

d) Nguyệt san Sinh Lực (1959, Chủ nhiệm: Võ văn Trưng- Saigon) :"...Hôm nay Thế Phong còn có thể ít nhiều nhầm lẫn-nhưng với khả năng rạt rào của tuổi trẻ, với lòng yêu văn nghệ đến đam mê, anh còn nhiều bước đi ngạc nhiên trên lãnh vực nà để đào xới lại mảnh đất hoang phê bình cảo luận bị bỏ quên trong nhiều năm. Sự cố gắng của Thế Phong là sự cố gắng hoàn toàn văn nghệ, cuả một người văn nghệ biết mỉm cười trong sự nghèo túng bản thân mình để hiến chiều dài cho văn học sử. Cũng có đôi khi ta thấy Thê Phong phê phán có vẻ độc tài và tàn nhẫn nữa; nhưng ta vẫn thấy rằng: đó là sự độc tài và tàn nhẫn không có tính cách tự cao, tự đại; hoặc dao to búa lớn; (trái lại) nhiều tinh thần thẩm mỹ, dĩ nhiên là có chủ quan. Ta quí sự nhận thức ấy- vì anh dám nói- cũng như người khác có dám cãi lại hay không là quyền của họ.." (Lê Công Tâm - Thanh Hữu, nhà văn).

e) Le Journal d'Extrême Orient (Saigon, 3 Décembre 1959)" Lược sử văn nghệ Việt nam-Hisotire de la littérature vietnamienne". Histoire sommaire de la littérature vietnamienne, òu l'auteur passe en revue les écrivains d'avant guerre 1930-1945. Cette oeuvre est tirée sur ronéo avec une tirage limitée. Fruit de minuitieuses recherches et d'une riche documentation donnée une vue d'ensemble des diverses époques et tendances des écrivains, des poètes du Vietnam, de leurs oeuvres, d'une littérature riche de plusieurs millénaires suivant le cours de l'Histoire. C'est une synthèse remarquablement coordonné annotée parle critique éminent qu'est ThếPhong qui l'achevée dans les derniers jours de Juin 1956

(đã in ở cuối sách "LSVNVN-Nhà văn tiền chiến 1930-1945 của ThếPhong, NXB Vàng Son Saigon 1974)...

Từ Vũ và Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những người muốn khách quan sưu tra sử liệu .





VÀI DÒNG TÂM SỰ NGƯỜI VIẾT SÁCH

T rước hết cảm ơn bậc đàn anh bước trước: Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh – Hoài Chân ... (chẳng là gần với tài liệu văn học tham khảo, cũng như so sánh).

Viết sách biên khảo hay phê bình, giá trị nhiều hay kém có thể nằm trong vài ý kiến dưới đây: Lập trường người viết phải có trước khi tìm kiếm tài liệu. Ấy là đã phải kể tới kiến thức, học và đọc; khả năng và tâm hồn văn nghệ nhạy cảm của người viết phê bình.

Lại cần kinh nghiệm, nhỡn quan nhìn, phải được chế biến theo lập luận người viết càng nhuyễn, sách càng phong phú. Không thể coi sách tương tự như cours nhà trường, làm thành gọi là biên khảo, phê bình văn học. Cũng như étude, non-fiction, fascicule, étude critique sur critique phân minh rõ ràng.

Tài liệu dồi dào, nhưng tài liệu nào chưa đọc, không nên bao biện. Người viết không định ý, lập luận; hẳn tài liệu phong phú dồi dào đi nữa; cuối cùng người viết chết theo với tài liệu sưu khảo được. Nhớ tới Nguyễn Hiến Lê trong một sách biên khảo bàn về tài liệu, nhất là tìm tài liệu văn học, sử học Việt Nam khó gấp bội phần khi sưu tập tài liệu tương tự ở nước ngoài. Ý kiến thật xác đáng. Nước ta triền miên khói lửa, và tầm mức thẩm định giá trị tài liệu văn học chưa được sử dụng đúng mức, công bằng.

Cộng đời sống thấp kém, ít thời giờ đọc sách, mua sách, bảo tồn sách, nên tủ sách văn học Việt Nam cần cho người viết sử dụng còn ở tình trạng rất thiếu thốn.

Khi viết bộ sách này, khích lệ tôi nhiều nhất phải kể tới một người: đó là anh Nguyễn Đức Quỳnh. Ông nhắn nhủ tôi rằng: “tài liệu nhiều chưa chắc đã là một yếu tố thành công, còn phải dám làm, dám nhận trách nhiệm”.

Đôi khi, chính kẻ dám làm lại liều lĩnh và dám biết mình ngu. Như vậy, chắc chắn tôi biết trách nhiệm khi viết sách. Cảm ơn một lần nữa nhà văn lão thành Nguyễn Đức Quỳnh, ông bạn văn tiền chiến vong niên. Nữa, cho tôi xin cảm ơn thêm vài tấm áo vải lao động: như anh chị Hai Nụ ở Xóm Chùa (Tân Định) làm nghề thợ thêu. Anh chị nuôi sống tôi hai năm trời: cơm và nhà ở. Nhà thuê vào năm viết bộ sách là một trăm năm mươi đồng. Tiền cơm bốn trăm đồng. Chưa hết, ông già Lịch bán thuốc lá, cũng ở đây; cho tôi chịu khoảng hai ngàn đồng tiền thuốc lá. Thuốc lá Ruby khoảng sáu đồng một bao. Sáu tháng liền, tôi chỉ đi ra tới ngõ; xa hơn là 147B Trần Quang Khải (Sàigòn 1) tới tiệm cho thuê sách Đức Hưng. Nơi này đủ gần hết tác phẩm tiền chiến, giấy dó Hàn Thuyên, mướn đem về đọc để làm tài liệu viết. Một người bạn nữa anh Lung cũng ở Xóm Chùa ngập nước, có một tủ sách khá lớn. Anh cho mượn và tôi sử dụng một cách sở hữu chủ. Anh từ miền Bắc vào Nam lâu, có viết báo tài tử, một người thật chân tình. Phải chăng chân tình này làm tôi cảm động, khi nghe kể đoạn đời anh tham gia kháng chiến ở Nam Bộ bị Pháp cầm tù. Đời tù đầy thêm kinh nghiệm sống, đời quất ngọn roi phũ phàng bao nhiêu, nạn nhân chịu nổi hờn đau sẽ sống lâu hơn; sau thì người ấy sẽ được liệt vào bậc tốt nhất xã hội trên mọi phương diện.Và một bạn học cũ Hà Nội : Tạ Văn Tài đạp xe đạp thăm tôi để khích lệ - trước khi anh đậu hai thủ khoa Văn chương và Luật khoa Sài Gòn rồi sang Mỹ du học.

THẾ PHONG





KỲ THỨ 20

Tiết 1

KHÁI QUÁT VÀ ĐỊNH NGHĨA VỀ VAI TRÒ ĐẶC BIỆT CÁC TÁC GIẢ CHIẾN SĨ VĂN NGHỆ

V ăn nghệ kháng chiến không cứ gì nhà văn chuyên nghiệp khai thác hình tượng chiến đấu hay rung cảm trong giai đoạn toàn dân đứng lên tranh đấu sau 80 năm nô lệ Pháp. Ở kháng chiến, có 3 loại người tham gia văn nghệ: Công tác văn nghệ – Chiến sĩ văn nghệ và Văn nghệ sĩ kháng chiến. Loại hai và ba là tác giả được giới thiệu trong tập này.

Tiếng nói của nhà văn trong phần trên có phần nghệ thuật và điêu luyện hơn các tác giả chiến sĩ văn trong phần này, nói chung. Chiến sĩ văn có phần trội về nội dung, đã đành rằng văn nghệ sĩ có thể chỉ nghe qua cảm xúc và sự kể lại viết lại vẫn hay. Ngoài ra, lại còn những văn nghệ sĩ chiến sĩ như Hoàng Cầm, Quang Dũng vv... tham gia mặt trận. Nhưng không phải hoàn toàn văn nghệ sĩ đều như thế cả, sự sống có kinh nghiệm bản thân và có tâm hồn diễn tả bao giờ cũng đúng với rung cảm; ý nghĩa hơn. Chiến sĩ nhà văn chiến sĩ ghi lại rung cảm của mình sâu sắc qua sáng tác, bày tỏ qua thơ, văn, tạp bút. Nguyễn Đình Thi nhận định về vai trò chiến sĩ văn trong tiểu luận “Tiếng nói văn nghệ” như sau:

“… Chúng ta nhận của những nghệ sĩ vĩ đại ấy không những là mấy học thuyết luân lý, triết lý, mà tất cả những say sưa, vui, buồn, yêu ghét, mơ mộng, phấn khích và biết bao nhiêu tư tưởng của từng câu thơ, từng trang sách, bao nhiêu hình ảnh đẹp đẽ mà đáng lẽ – chúng ta không nhận ra được hàng ngày chung quanh chúng ta một ánh nắng, một lá cỏ, một tiếng chim, bao nhiêu bộ mặt con người, trước kia ta chưa biết, nhìn thấy, bao nhiêu vẻ mới mẻ, bao nhiêu vấn đề mà ta ngạc nhiên tìm ra ngay trong tâm hồn chúng ta nữa. Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào tất cả bên trong chúng một ánh sáng riêng không bao giờ nhòa đi, ánh sáng ấy từ bây giờ biến thành của chúng ta và chiếu tỏa trên mọi sự việc ta sống, mọi con người ta gặp, làm cho sự thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ. Những nghệ sĩ lớn đem tới cho tâm hồn ta cả thời đại họ một cách sống..."

Chiến sĩ văn ở đây, qua rung cảm Nguyễn Đình Thi nhìn về họ, có lý lẽ của sự khám phá cơ hội căn bản là mới lạ. Chứ chưa hẳn có cơ hội mới lạ là thành văn nghệ sĩ chuyên nghiệp. Cách sống một người tù chính trị cách mệnh, rồi nảy ra ý nghĩ diễn đạt tâm hồn mình có nghệ thuật – nếu nhà văn chuyên nghiệp không sống trong cảnh tù đày, sẽ bị thua sút khi làm công việc tương tự. Đã đành rằng tưởng tượng ưu thế của họ; nhưng tả cái chết của người nông dân có sống khi diễn đạt lại thì thiếu sâu sắc như Chateaubriand, trí tưởng tượng của nhà văn vẫn cần căn cứ vào sự thực đời sống cảm nhận được. Tố Hữu là tác giả tiêu biểu; bởi lẽ ông rung cảm chân thành trong bốn bức tường thép, dây sắt chăng điện, xà lim, buồng hẹp, giam cầm ngày qua đêm, âm thanh xích sắt, hình ảnh cơm nửa mo, cứt nửa bãi, đã nói lên hình tượng bữa cơm tù, chẳng ai nhắc ai cũng tự động tìm ăn. Thì chẳng ai bảo ai, mỗi lần nghe gọi tên mình là một lần nghĩ đến cảnh cùm, kẹp, tra tấn. Tâm hồn người tù chính trị, cách mệnh, nảy ra ý nghĩ làm thơ, nếu biết làm thơ, hát lên nếu có khiếu nhạc. Và vì thế Phan Bội Châu có Ngục Trung Bút. Tố Hữu có Trăng Trối hay W.Churchill kể lại hồi ký của mình về thế chiến thứ hai; tất cả đều muốn làm giảm sự đau khổ chồng chất lên trí não, cơ thể, phổ biến sự đấu tranh trường tồn cho những người đến sau nhận kinh nghiệm kẻ đi trước. Văn nghệ trở thành lợi khí nối liền gạch nối giữa con người và con người qua thế hệ liên tiếp. Nhận định được vậy, văn nghệ là sức sống vô hình nối lại khoảng cách quãng khi xã hội chuyển tiếp, hoàn thành đường thịnh trị nhân sinh thành một giây không ngắt quãng.

Tiết 2

SAO ĐỎ (16)

Tiểu Sử.

Ông thuật lại chuyện Đánh Trường Bay của Tiểu Đoàn 110, mà chúng tôi cho trích đoạn theo đây. Ông tả tỉ mỉ từng thái độ, động tác của một trung đội xung phong vào trường bay. Hoàng, một chiến sĩ chỉ huy trưởng cầm quân nhớ đến một đồng chí đã chết trong lần trước, lần này anh phải phục thù. Cần, một trung đội phó rất hăng hái. Đông, em liên lạc viên táo bạo. Sau khi trung đội của anh đốt máy bay thì Hoàng bị thương, Cần cứu thoát Hoàng rồi Cần lại bị thương nặng. Địch đến gần, trung đội của Hoàng mất thêm Cần từ đêm ấy; lẽ là Cần tự hủy mình và địch cũng bị thiệt hại theo. Qua âm hưởng truyện dưới đây, gây cho người đọc ấn tượng ý niệm tranh đấu, nói lên được lòng chiến sĩ ngoài trận địa đấu tranh mãnh liệt, cứu nguy xứ sở trong giai đoạn kháng chiến.

ĐÁNH TRƯỜNG BAY

Lúc ấy gần nửa đêm.

Những vệt sáng dài quét xuống sân cỏ, chạy tuột ra mãi đằng xa tít và dừng lại bên bờ sông Đuống. Tất cả khu trường bay Gia Lâm đã chìm đắm trong đêm tối, lác đác vài khung cửa sổ để lọt ra, ánh sáng nhờ nhờ ghi những chỗ ăn chơi đàng điếm của bầy lũ thực dân.

Hoàng mắt đăm đăm nhìn mục tiêu, bên cạnh Hoàng, các đội viên lặng lẽ bò rạp xuống đất, khi ngừng khi tiến theo hiệu tay của Hoàng. Toàn đội nằm chờ, không một tiếng động, không một cử chỉ ai nấy đều nắm chặt khẩu súng trong tay.

Hoàng cảm thấy thời gian lâu quá. Hoàng muốn nhảy chồm lên và xông vào ụ súng của giặc cách đấy không bao xa.

Hoàng phải triệt để tuân thủ theo quân lệnh: trung đội Hoàng và trung đội Hồng Kỳ sẽ đột kích vào trường bay đúng mười một giờ đêm nay, tấn công sẽ ghi bằng quả pháo lệnh. Vẫn không rời mục tiêu, Hoàng thì thầm hỏi:

– Sẵn sàng chưa đồng chí Cần ?

– Đã.

Hoàng nghĩ tới lần một tiểu đội trưởng có tài gan dạ tạm quyền trung đội phó trung đội Hoàng. Rồi Hoàng lại vụt nghĩ tới Hân, nguyên trung đội phó.

Mất Hân, Hoàng mất một đồng chí chân tay đắc lực, tài giỏi và đêm nay Hoàng thề quyết trả thù cho người bạn xấu số đã chết trong một đêm tập kích trường bay như đêm nay. Cả trung đội đều im phăng phắc, ngót bốn mươi con người như chung một ý tưởng “ra đi là không trở về”.

– Đoàng.

Quả pháo lệnh là mồi lửa châm vào lòng rạo rực của các chiến sĩ. Ngót bốn mươi con hùm sám xông vào vị trí quân Pháp.

Những tiếng quái gở bật ra.

Tiếng súng đủ các cỡ nổ sé trời.

Hỏa pháo tứ tung bay.

Hoàng hô anh em tiến, Hoàng xông pha giữa làn mưa đạn cả đội mạnh dạn tiến theo sau.

– Giết, giết...

Những tiếng kêu uất hận, những tiếng thét căm hờn từ đáy lòng dũng sĩ Việt Nam.

Đây là những kẻ giết cha, anh, vợ, con tàn sát đồng bào ta. Đây là lũ dâm dục đã hãm hiếp bao đàn bà con gái.

– Giết.

– Giết! Đoàn quân say máu, vì đã thấy bao nhiêu khổ nhục, đã thấy bao nhiêu cảnh đau lòng đã uất ức căm hờn máu trào đến tận cổ. Họ sọc lưỡi lê vào những thằng Pháp, họ lăn sả vào thúc mạnh lưỡi dao găm vào thịt quân thù. Giết...

Hoàng sau khi phá vỡ ụ súng máy, hướng dẫn anh em xông vào nhà để máy bay. Cần, tiểu đội phó nguyên trung đội phó theo sát Hoàng. Đoàn dũng sĩ ùa vào nhà tối như hủ nút, họ giơ hai tay quờ quạng… đây là bánh xe của máy bay, còn đây là cánh quạt mờ mờ trong gian nhà lạnh lẽo.

Phải rồi, đây là những miếng mồi ngon của những con hùm sám, của trung đội Hoàng.

– Anh Hoàng!...

Hoàng quay lại và nhận ra ngay giọng của Đông, em liên lạc của trung đội Hồng Kỳ.

– Gì thế em?

– Anh Hồng Kỳ bảo em đến báo cho anh trung đội của anh ấy đã vào tới sân bay và đang tính toán với bọn Pháp.

–Được.

Em liên lạc vụt chạy mất.

Hoàng hô anh em lấy “ét xăng cờ–rếp”(17) ra đốt máy bay. Thế là các chai cứ choang choang vào thân máy, rồi một que diêm xòe lửa. Là con chim sắt khổng lồ hàng ngày nhả đạn, tuôn bom khủng bố đồng bào Việt Nam bốc cháy. Cả gian nhà rộng rãi sáng rực. Ánh sáng tỏa trên bãi cỏ, ngoài sân. Mùi sơn, mùi dầu xăng sặc sụa!

Rồi hàng tràng liên thanh T2 ly7 và 13 ly 2 thi nhau sả vào chỗ sáng vèo vèo. Hoàng và anh em đã rút khỏi bãi lửa, nhưng một tiếng thất thanh:

– Trời ơi!

Hoàng đi sau cùng loạng choạng ôm bụng hô lớn:

– Anh em cẩn thận, rút lui mau.

Hoàng cố đi , máu bên máu mạng sườn trao ra ướt đầm cả cánh tay áo đầu gối Hoàng run run thỉnh thoảng lại khuỵu xuống muốn ngã.

Theo lệnh của Hoàng, toàn thể rút lui khá xa. Súng liên thanh bắn đuổi theo không ngớt. Hoàng lại ngã, đau lắm. Hoàng cố trỗi dậy theo anh em, nhưng kiệt sức rồi máu ra nhiều quá. Hoàng nằm im, tiếng rên rỉ khi to, khi nhỏ ngân rền. Ra khỏi vị trí Pháp, Cần kiểm điểm lại trung đội. Cần hoảng lên.

– Có ai thấy anh Hoàng ở đâu không?

– Thưa anh không ạ.

Cần không ngờ Hoàng đi sau lại chậm chậm như vậy. Anh giao toàn đội cho một tiểu đội trưởng phụ trách dẫn về địa điểm, rồi băng mình về phía trường bay.

Anh y tá Đương cũng chạy theo.

Cần hăm hở tức tối, con dao găm nắm chắc trong tay vung lên như muốn cắm vào ngực quân thù. Hoàng nằm phục sau bức tường mà Cần vừa leo vào. Hoàng đang rên rỉ giơ tay đón. Cần vừa leo lên định nhảy xuống thì một loạt liên thanh xả tới và hắt Cần nhào xuống. Y tá Dương cõng Hoàng qua lại hốt hoảng gọi Cần nhưng Cần đứng dậy lảo đảo:

– Mang ngay anh về đi. Kệ tôi mà… à!

Thấy Dương ngần ngừ, Cần thét:

– Mau lên, mệnh lệnh là mệnh lệnh!

Y tá Dương thoăn thoắt cõng Hoàng đi. Thấy hai bạn chiến đấu đi rồi, Cần nhăn nhó ôm bụng, tay vẫn cầm khu khư con dao nhọn hoắt và… ngã gục xuống, thở hổn hển; nhưng lại cố ngóc đầu dậy... Tiếng giầy lệt sệt và tiếng nói sì sồ của bọn Pháp tuần tiễu đã đi tới.

Cần sức đã tàn, ngoắt tay rút quả lựu đạn khỏi dây lưng rồi rút kíp nín thở đợi chờ. Toán địch cách Cần 15 thước, quả lựu đạn của Cần vút bay tới với tiếng thét:

– Giết.. Giết.

– Đoàng!

Những thây to lớn đổ xuống

Tiếng quái gở lúc này lại tái diễn nổ rên ư ử theo tiếng nấc của Cần. Trung đội Hoàng mất Cần từ đêm ấy.

SAO ĐỎ

(trích trong tập san Nhất Trí của tiểu đoàn 110)

Tiết 3

LÊ MINH

Tiểu Sử.

Lê Minh là tác giả Hành quân trú quân, được trích dẫn dưới đây, của một chiến sĩ văn viết thật cảm động. Hình ảnh một chiến sĩ được nhìn thấy cảnh hành quân trên màn ảnh quân đội đế quốc, đi đâu có xe đưa đến đó. Có khi ngủ một giấc dài rồi mới đến chỗ hành quân. Là chiến sĩ nhược tiểu dân tộc đấu tranh cho độc lập, chiến sĩ trong truyện như tác giả tả tất phải lam lũ, vất vả trên đường độc đạo. Súng nặng hàng chục cân, đi bộ, trèo đèo, vượt suối, vừa đi vừa ngủ, vừa dìu nhau vào mặt trận. Đôi khi chiến sĩ đi qua nơi thị trấn bị tàn phá, lòng xót xa: “Quang cảnh chết! Thôi còn đâu nữa Đ.T thơ mộng, Đ.T nhộn nhịp với những hiệu tạp hóa xanh, đỏ, với những quán trà, quán cơm thơm phức, mùi phở sào và mùi cà phê, người đi lại đông đúc như Hàng Đào...Tàn phá và đổ nát..” Rồi đến cảnh ngụy trang, từ thô thiển đến tinh vi từ thiếu kinh nghiệm đến dày kinh nghiệm, tác giả diễn tả lại rất sống động. Có một điều đặc biệt, đáng chú ý nhất là dù mệt mỏi gian lao bao nhiêu, người chiến sĩ vẫn tin tưởng vô biên trong cuộc chiến đấu. Đọc văn Lê Minh để hiểu cảnh khó nhọc chiến sĩ, nhưng không vì thế mà chán nản.

HÀNH QUÂN TRÚ QUÂN

“Thật thế, kể từ khi bước chân ra khỏi Thủ Đô, chúng tôi đã lăn vào một cuộc hành quân dài đặc. Một cuộc trường chinh. Có thể nói thế – chúng tôi đã vượt qua hàng ngàn cây số, qua không biết bao nhiêu sông, không biết bao nhiêu suối, bao nhiêu rừng. Chỉ có thể nói là đi liên miên, từ miền đồng bằng đến các tỉnh miền Việt Bắc.

Trong những ngày cuộc hành quân dài nhất của chúng tôi, có thể kể cuộc hành quân trong thời kỳ Việt Bắc bị tấn công.

Từ ngày 10 –10 –1947 nghĩa là ba ngày sau khi quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn, cho tới ngày 3 – 2 –1948 là ngày chúng thất bại, chúng tôi trở lại hậu tuyến tạm nghỉ. Tiểu đoàn chúng tôi đã đi tới một ngàn năm mươi cây số. Hỏi tới hành quân? Tôi lại nhớ tới ngày xưa đi xem chiếu bóng, những phim quay nhiều mặt trận. Chà! Những cuộc hành quân trong phim ảnh mới thú vị làm sao! Hàng chục xe vận tải, hàng chục chuyến xe lửa tốc hành chở quân ra mật trận. Đồ đạc, quần áo lương thực có chuyến xe lửa riêng. Ngoài đồ vũ khí nhẹ, người lính chả phải mang gì nặng nề, cứ việc lên xe ngồi. Thế là từ nơi đóng quân ra đến mặt trận xa hàng trăm cây số. Trong nháy mắt, họ đã đến nơi, không mệt nhọc, không mệt nhọc gì cả; có khi lại còn làm được một giấc ở trên xe rồi cũng chưa biết chừng. Thật là mộng!

Lại nghĩ đến hành quân của chúng tôi bây giờ mà khiếp. Đi hàng chục cây số. Có lần ở chợ mới, Bắc Cạn, một ngày một đêm đi luôn năm chục cây số đường xấu và đường rừng núi mà lại đi bộ, đi chân không, người thì đầy võ khí, đồ đạc quần áo.

Nhất là những chàng vác súng máy mới rầy. Nặng gần đến chục cân có ít đâu. Nguyên bộ chân khẩu Browning, là hạng súng máy nhẹ hơn cả, cũng đến bảy cân rồi còn gì! Lại còn phải đạn nữa chứ, những hòn đạn nặng chĩu phải mang lấy, nếu không có ngựa để thồ. Anh vác Bazooka cũng khó nhọc không kém còn nữa, còn nhiều thứ nặng nề mà không mang theo được. Ấy thế mà anh em đi đã đi được đấy, đi một cách nhanh chóng và gọn gàng nữa là đằng khác. Mà nào các anh có to, có khỏe gì cam. Anh nào cũng gầy giơ xương sườn. Ngày 10 tháng 10 bắt đầu hành cuộc hành quân. Buổi tối hôm ấy, chúng tôi được lệnh xuất phát. Qua phố Đ.T nhà cửa vừa có lệnh phải phá. Gạch ngói ngổn ngang. Không khí sặc mùi khói tro khét lẹt.

Quang cảnh chết! Thôi còn đâu nữa Đ.T thơ mộng, Đ.T. nhộn nhịp với những hiệu tạp hóa xanh đỏ, với những quán trà, quán cơm thơm phức mùi phở sào và mùi cà phê, người đi lại đông đúc như Hàng Đào. Tàn phá và đổ nát. Ôi chiến tranh thật là phũ phàng! Chúng tôi nhớ lại đêm nào rút khỏi thành Hà Nội, cảnh tượng cũng chẳng khác thế này.

Đoàn chúng tôi đi. Trời đêm ấy mát mẻ, có trăng suông. Lại xa mặt trận. Đi ung dung giữa đường dài, cầu chưa phá, đường chưa xẻ. Cuộc hành quân quả có dễ chịu. Đi mất một ngày, bốn giờ chiều hôm sau tới Q.V. Ở đó chúng tôi ở lại hai hôm rồi đi C.Đ. Cuộc hành quân bắt đầu vất vả. Chúng tôi phải đi gấp. Hành quân suốt ngày đêm. Anh em lâu không đi nhiều cũng thấy hơi toái phở. Chúng tôi đi đã mấy đêm rồi. Đêm nay lại đi. Tuy không mệt lắm vì ban ngày chúng tôi được nghỉ nhiều: nhưng buồn ngủ dữ. Đi được vài giờ cơn ngủ ở đâu đã kéo đến. Mấy thằng chúng tôi mắt cứ dính lại. Chân bước đi mà mắt thì cứ nhắm. Chúng tôi đi lảo đảo. Chân nọ đá chân kia. Sau nghĩ ra được một cách, cứ hai thằng dựa vào nhau đi. Mới đầu còn thằng nhắm mắt, thằng mắt mở. Về sau cả hai thằng cùng chập chờn, nhưng vẫn không dám nghiền mắt lại thật mà ngủ lịm đi bao giờ không biết. Ấy thế mà chân cứ bước đều.

Chúng tôi ngủ như vậy cho đến lúc hự một cái. Cả hai thằng cùng choàng mở mắt thấy mình đứng dưới hố. Cảnh tượng ngộ nghĩnh quá. Chúng tôi nhìn nhau phì cười đến đứt hơi.

Qua quãng đường xẻ, chúng tôi không dám ngủ. Nhưng đi khỏi nơi ấy, đường láng. Không thằng nào bảo thằng nào chúng tôi lại tiếp tục theo nhau gật lìa gật lịa. Tài tình một cái là vừa đi vừa ngủ như thế mà vẫn không đâm ra ngoài hàng. Có anh chàng đi kém quá, ngã đến năm sáu cái, mở mắt ra mà còn chửi đổng:

– Cây khỉ gì vậy lại mọc giữa đường!

Qua một cái cầu khó đi. Đầu tốp hành quân dừng lại. Thế là như chuyến tàu hãm phanh, chúng tôi đâm mình vào nhau, thằng dưới nằm ngã đè lên thằng trên dúi dụi. Nhưng chỉ những đêm nào tối trời, lại đi giữa đường cái, hoặc đường khá tốt mà thẳng mới xảy ra những chuyện ngủ đường như thế. Chứ phải hôm trời mưa đường trơn mà ngủ như thế thì cứ gọi là ngã trật mắt. Những đêm hành quân dưới trời mưa, trái lại là những điều chúng tôi phải chú ý nhất. Tinh thần luôn luôn căng thẳng. Không dám lơ đễnh một chút nào.

Đường đất thịt trơn lắm. Nhất là những quãng đường xẻ hoa mai; đất vừa trơn lại vừa gồ ghề, đi càng trơn tợn. Chúng tôi đi sát vào nhau, vì như thế thì một anh ngã là ngã cả nút. Anh nào cũng chuệnh choạng như say rượu mặt cúi gằm ngón chân lấy xòe ra và bám chặt xuống đất. Chà! Trơn dữ quá càng bấm chân xuống đất mạnh lại càng trượt đi. Chỉ nên chọn những điểm đất trũng có nước hay lầy mà đặt bàn chân thì mới vững được. Nhưng trời vẫn tối lắm, làm thế nào mà trông thấy được chỗ đất lầy với đất trơn. Đành cứ là đi phứa phựa. Bàn chân bị phủ một lượt đất thịt lại đi lên chỗ đất thịt hai mặt trơn cọ vào nhau, nó trôi tuột đi. Ấy thế là chân chổng lên giời thế là "phèo", là ngã. Có võ lắm mới không việc gì chỉ trượt chân và lảo đảo một tí thôi. Nhưng những vố hụt như thế cũng đủ làm toát mồ hôi lưng và dựng tóc gáy. Chốc chốc lại nghe đánh huỵch một cái. Một anh vồ ếch. Mới con đầu còn có tiếng cười rúc rích, nhưng về sau, nhiều vồ ếch quá, mà anh nào ít nhất cũng ngửi hơi ếch đến hơn một lần thì thôi không còn ai buồn cười nữa. Hành quân trời mưa quả có vất vả và mỏi mệt nữa. Mõi cả vật chất lẫn tinh thần. Và không phải chỉ chân với mình phải làm việc tợn, mà mắt và nói chung, tất cả giây thần kinh đều căng thẳng dồn hết vào sự chú ý xuống đôi bàn chân để chỉ có một công việc là đi khỏi ngã. Đã thế mà thôi đâu còn lạnh còn buốt nữa chứ. Những hạt mưa như từng nắm kem ném vào mặt người đi đường. Nó đọng trên tóc, trên lông mày rồi chảy dòng dòng xuống mắt, xuống mũi, xuống mồm, lấy lưỡi liếm thì hạt mưa có chất mặn. Ra mưa có lẫn cả mồ hôi và có lẽ cả nước mắt nữa. Quần áo dưới trời mưa ướt sũng, cả ba lô cũng ướt. Chăn màn cũng ướt nốt. Thế là đêm nay, anh em đành cởi trần ôm nhau mà ngủ vậy.

Đi đường cái thì trơn. Đường đá vì bị xẻ và đào lên nên cũng trơn, có khi còn trơn hơn đường đất vì lần đất thịt ở dưới bị đào lên chất thành đống. Mưa lâu, đất bết vào nhau, quánh lại trơn không thể nói được. Đi đường tắt cũng lội. Qua khe, qua cầu, những cái cầu dài làm sơ sài bằng hai ống tre ghép lại, hay chỉ bằng một khúc gỗ tròn. Trời mưa, đi nhiều nó bị phủ một lượt đất trơn như mỡ. Khi qua phải đi từng người một, không thì lăn xuống khe mất mạng. Qua những rừng nứa hôm trời mưa cả là một cái nạn ghê gớm. Soạt! Soạt! Anh vừa chạm phải những ngọn nứa. Lập tức anh sẽ thấy nhấp nhoáng ở gáy. Đưa tay lên vuốt, anh tóm ngay được một chú vắt xanh lè, nhỏ bằng que tăm đang sắp sửa rút vào cổ anh mà hút máu. Những con vắt nhanh như cắt và liều lĩnh không thể tưởng tượng được. Trên cây cỏ, vắt, dưới đất lại còn nhiều nữa, anh thử cúi xuống mà xem các kẽ chân anh đã thành những ngăn đựng vắt. Anh khiếp à? Anh bắt không xuể đâu. Anh còn đi nó còn bám. Bắt vô ích. Chỉ nên đi nhanh lên thôi. Có cu cậu sợ vắt, mỗi lần trời mưa phải hành quân qua rừng nứa là run người lại. Đi một lúc lại cúi xuống dòm chân. Thế rồi cậu thấy một con vắt đen xì bám vào bụng chân. Cậu giẫy nẩy lên, kiếm cho mau chóng một cái que gạt nó xuống đất. Ác là nó bám chặt quá, cậu phải gạt thật mạnh bật cả máu ra nó mới chịu bám xuống bên đường. Về sau bị bám tợn quá, cu cậu gạt không kịp đành cắn răng mà đi không dám nhìn xuống chân nữa. Rồi dần dần nó cũng quen đi. Vắt không còn là một sự ghê gớm nữa. Người ta phớt nó đi như phớt khi đá phải vành khăn xếp, nói nhỏ: “tiếng văn hoa của bãi phân trâu”. Rồi đến nơi ở đua nhau mà bắt để thi ai có nhiều vắt bám nhất. Hành quân đường tắt mà đi ban đêm không thấy nhau rồi. Mở mắt cũng như nhắm mắt, chẳng còn nhận ra cái gì nữa. Chúng tôi cứ việc nắm lấy áo nhau mà đi theo em liên lạc. Chân bước thấp bước cao, chẳng còn biết là mình dẫm lên cái gì, và đi qua những chỗ nào đang đi mà vô phúc anh nào vấp ngã thôi thế là đứt liên lạc.

Anh nhỏm dậy bước gấp đuổi theo đoàn quân vẫn bước đều đi thật nhanh. Tay anh giơ ra phía trước xoa xoa hòng tóm được cái vai hay cái ba lô của người đi trước. Đuổi kịp thì thật là may. Anh sẽ thở đến phào một cái nhẹ nhõm. Rủi lại chạy đâm vào một ngách khác, chạy mãi không thấy người đi trước đâu. Thế là anh cất tiếng gọi sẽ? Không thấy tiếng trả lời anh hú lên. Mới đầu còn khẽ và dè dặt. Sau anh đâm cuống hú tướng mãi lên, kỳ nghe thấy tiếng trả lời mới thôi.

Những đêm hành quân thường xảy ra chuyện mất liên lạc như thế và tiếng hú cứ nổi lên, đây một tiếng; đó một tiếng vang cả rừng. Hết cả bí mật. Về sau bị sạt tợn quá, và để tránh cái nạn bị bỏ rơi, anh em nghĩ cách bắt đom đóm bỏ vào trứng và nhặt những là mục có lân tinh sáng gài vào ba lô của nhau để đi khỏi bị đứt liên lạc. Những cuộc hành quân của chúng tôi thường về đêm như thế vì chúng tôi ở ngay sát mặt trận. Nhưng cũng có lần hành quân giữa ban ngày. Hành quân ban ngày phải ngụy trang cẩn thận nghĩa là phải lấy lá gài khắp người thật kín. Xa trông như những bụi rậm rạp. Mới đầu ngụy trang do kỹ thuật còn kém, có anh chỉ gài phất phơ mấy cành cây to tướng cắm lên lưng nhác trông như một cái cây biết đi. Về sau thì chúng tôi ngụy trang đã nghề lắm, có tổ chức thống nhất. Từng tiểu đội ngụy trang một thứ lá cây giống nhau dùng dây bện thành những tầng áo lá rậm kín và nhẹ. Lúc đi chỉ việc choàng vào người buộc lại, thật tiện mà chắc chắn. Ngụy trang vào trông anh em cũng dữ dội lạ. Nhất là khi đi, gió thổi làm đám lá trên mũ và trên vai bay phất phới, trông oai ghê có vẻ chiến sĩ lắm.

Đến nơi đóng quân, chúng tôi ngồi nghỉ, tháo tấm áo ngụy trang, thấy nhẹ nhõm cả người, bộ quần áo rách mướp của chúng tôi lại được phơi ra ánh mặt trời. Những chỗ rách ở vai, ở khuỷu tay, ở đầu gối bay như cờ đuôi nheo ngạo nghễ. Tiếng cười nói sau này vang thành một điệu hát “chúng ta cười nhìn gió bay là tung manh áo tả tơi”.

LÊ MINH

Tiết 4

VŨ LINH

Tiểu Sử.

Vũ Linh cũng như chiến sĩ văn nghệ khác trong kháng chiến, tác giả Hành quân chiến đấu. Khác với Lê Minh, câu truyện ghi lại hình ảnh một cảnh sau buổi giao tranh nóng hổi. Sặc mùi khói lửa. Hành quân chiến đấu giữa đêm khuya khoắt, gió, mưa. Lòng hăng hái của chiến sĩ đấu tranh quên đói, quên mệt nhọc. Sau đó, tác giả đói quá và thái độ ấy được diễn tả linh động như sau: “Tôi vừa “tước” được của anh đại đội trưởng một bắp ngô sống nhưng bị “xung phong ngay”. Đề cao sự chia xẻ và lòng yêu thương chiến sĩ đối với nhau. Cho nên không nỡ ăn cả một chiếc bắp ngô. Anh đại đội trưởng nhường; tác giả bị anh em đồng đội xung phong mất, rồi chia mỗi người được vài chục hột. Đẹp bao nhiêu! Lòng phấn khởi, khi đọc xong mẩu chuyện yêu thương của chiến sĩ kháng chiến giành độc lập cho xứ sở. Tình cao cả của chiến sĩ đến gần với chúng ta hơn như thế, là nhờ ở những mẩu truyện linh hoạt sống động.

HÀNH QUÂN CHIẾN ĐẤU

Đêm càng khuya mưa càng nặng hạt như trút nước xuống. Anh em được lệnh lên trên một trái núi mà hầu như xưa nay chưa ai bước chân tới bao giờ để ngủ. Mệt. Mấy đêm nay xuyên sơn; ai nấy ngủ lăn lóc, bạ chỗ nào đặt mình chỗ ấy, anh nằm xuôi nằm ngược. Mặc cho có vắt và những trận ngâu liên miên, tiếng xì xào ngớt hẳn. Yên lặng. Thỉnh thoảng vài tiếng o o ngáy vang lên, tuy bị những trận mưa cố át đi. Năm sáu người một chỗ, họ gục đầu vào gối ngủ, anh kia dựa lưng vào gốc cây ngủ. Có anh tính cẩn thận, không muốn lăn ra đất ra bùn, lên những cành cây hốc đá trải chiếc áo mưa ra để nằm. Nhưng chiếc áo mưa không thấm nước ai ngờ đã trở nên cái vũng nước để cứ tát đi hết một lượt thì mưa, rồi nước từ trên cao tràn xuống và vũng nước bằng chiếc áo mưa lại đầy. Đoàn người ra đi vạch lau rẽ cỏ thẳng gò núi tiến, qua nhiều đồi tranh quang quá phải ngụy trang vừa đi vừa nhìn vị trí địch hai cái lều vừa dựng, một lá cờ ba sắc hai tên lính Thổ đứng trên gò nhìn xuống vị trí Đ.. Thỉnh thoảng tiếng súng ở vị trí địch lại vang lên. Mặc. Đoàn người vẫn tiến. Hôm sau bắt đầu hết gạo, đường lại khó đi hơn, trời lại cứ mưa tầm tã, phải trèo qua những rặng đá răng mèo lởm chởm và nhọn hoắt, có chỗ phải theo dây leo mà tụt xuống, chốc chốc lại đứng lại để phát đường nhìn phương hướng mà lấy lối đi. Xâm xẩm tối tới một làng nhiều nhà nhưng không thấy người qua lại chỉ trừ một nhà có đốt lửa và thấp thoáng mấy bóng người: không phải là dân chúng mà là tiểu đội tiếp tế của địch. Chúng tôi chuẩn bị sẵn sàng. Một đồng chí xung phong vào đầu bắn một phát, một tên ngã, định bắn phát thứ hai thì bị ngay một viên đạn địch bắn trả lại xuyên báng vào nách và ra đằng sau. Anh quỵ xuống. Một tên trông thấy đồng chí Kế ở cửa dơ báng súng đánh một cái. Kế vội dơ súng đỡ và bị gãy báng súng. Vội vã anh xông vào ôm cổ địch, hai bên cùng hăng hái vật nhau, mãi đến khi đồng chí Hùng ở trong nhà chạy ra đánh tên giặc và lấy được khẩu súng.

Sau cuộc chiến đấu gay go, đột ngột chúng tôi lại ra đi và được hai cây số lại gặp địch. Lần này kịch chiến, anh em tỏ ra hăng hái. Đồng chí Hùng thét lên: “Các đồng chí ở trên cứ yên chí, có chúng tôi ở đằng sau đây”. Đoạn anh nhắc khẩu "Bờ ren" lên lia một chập sang vị trí địch. Địch rút lui. Cảnh vật lại em lìm. Mây đen kéo đến rất nhanh bao trùm lên núi rừng trở nên âu. tiếng dế kêu buồn bã hòa lẫn với tiếng thác đổ mơ hồ dội vào lòng những kẻ quen với súng đạn những ý nghĩ không đâu. Lòng họ tê đi, vì dọc đường này, họ đã rỏ máu, họ đã mất những đồng chí thân yêu mà trước đây hai giờ còn chung sống, cùng họ cam khổ, vạch lau rẽ lối để làm tròn nhiệm vụ. Vụt một cái lòng họ sôi lên căm thù đầy ứ. Và đoàn người vẫn tiến trong đêm tối. Họ tiến cho tới khi có lệnh cho nghỉ thì họ lại lăn ra ngủ, quên hết mọi khó khăn.

Đoạn đường khổ đâu đã hết. Mưa càng ngày càng nặng hạt hơn, không ngớt một phút nào, họ co ro tìm những hốc đá, hốc đất mà ngủ vì chăn, áo quần, ba lô cho tới cả thân họ đều ướt và rét, vắt vô kể, cầm sờ mà vất đi, chập chờn thức ngủ như vậy cho tới sáng.

Sau mấy bữa không có gì vào bụng, bụng cồn cào, chân mỏi mỏi, dốc lại cao, đại đội thẳng tiến qua những trái đồi chót vót, trèo dốc dựng đứng. Mặc, vẫn cứ đi. Qua những rừng chuối đều bị ngả nghiêng bóc lõi ăn. Đói quá. Một đồng chí bứt một thứ quả gì bé bằng ngón tay xanh ăn thấy ngon. Ai nấy đều thi nhau ăn, tuy chát vô cùng. Tôi vừa "tước" được của anh đại đội trưởng một bắp ngô nhưng bị xung phong ngay, và rốt cuộc cũng chỉ còn được mấy chục hạt. Thế rồi đến chiều nay. Anh em reo lên, còn có tí sức nào cũng cố mà reo lên, vì sau ba ngày đói, mưa nắng, đánh nhau, leo núi, chúng tôi đã toại nguyện và khoan khoái trong tiếng hoan hô gặp bộ đội bạn: biên phòng.

Trích báo tay đại đội

VŨ LINH

Tiết 5

NGUYỄN TRINH CƠ

Tiểu Sử.

Nguyễn Trinh Cơ là một y sĩ trong ngành quân y chiến đấu. Tác giả Em Ngọc, một mẩu truyện đầy cảm động mà chúng tôi trích dẫn dưới đây. Viết Em Ngọc Nguyễn Trinh Cơ muốn đề cao lòng yêu nước của một em bé.

Ngọc là liên lạc viên. Tâm trạng khi đưa em đến bệnh viện là sợ bị cưa tay. Em hỏi bác sĩ như vậy. Vì không muốn cho bệnh nhân thất vọng, bác sĩ đành phải nói dối trái với sự nhận định xác thực của ông. Lòng thắc mắc và tâm tư bị xáo động. Tác giả ghi lại tỷ mỷ từng thái độ nhỏ nhặt của em, nhưng vô cùng tinh tế. Từ thái độ minh chứng em Ngọc có tác phong người lớn, em không kêu đau, vòi, làm nũng cùng các nữ y tá đều nhận như vậy cả. Nhưng đến khi mẹ em vào thì tình thương ấy lại trở về đúng chỗ của tình mẹ con: “dăm ngày sau, bà mẹ được tin lại thăm em và ở lại chăm nom. Mỗi lẫn đi thăm em, tôi vẫn thấy em tươi tỉnh, ngoan ngoãn. Nhưng các chị cứu thương cho biết rằng nhiều lúc vắng người, em hay làm nũng bà mẹ, đò bà quạt, rót nước luôn miệng. Mỗi lần ăn phải chính tay bà và cho em từng miếng một”. Tâm lý rất sâu sắc, quan sát kỹ lưỡng. Ông còn cho chúng ta thưởng thức một đoạn văn linh động của em Ngọc trao lại cho bác sĩ một bài học về tâm lý thời chiến tranh sau khi trở về đơn vị. Và chính tác giả là người ham học; cho nên mới dám nhận bài học trường đời, không cứ gì ở một người hơn tuổi, bằng tuổi. Ở đây đến cả một người kém tuổi: “Tôi đi thăm các thương binh cũ của tôi lúc ra về, vì muốn đến thăm tiểu đoàn bộ, tôi đứng xa hỏi thăm em Ngọc địa điểm tiểu đoàn. Không trả lời, em Ngọc vội chạy lại chỗ tôi, lấy tay phải còn lại níu áo tôi, nghểnh hai chân lên vươn mình lên. Tôi hiểu ý cúi mình xuống kịp để đón câu trả lời của em, câu trả lời nhỏ như tiếng: “Tiểu đoàn bộ ở làng A.S.”. Tôi ôm chặt em bé vào lòng, thành thật nhận lấy bài học về kín đáo mà vô tình em đã dạy tôi”. Văn nhẹ, thoát, tế nhị, nhiều đoạn đặc sắc, tinh thần thông minh của một em bé được mô tả có nghệ thuật. Trong cuộc kháng chiến. Nguyễn Trinh Cơ muốn chúng ta cùng nhận định còn biết bao nhiêu là em Ngọc tham gia cuộc giải phóng xứ sở như thế!

EM NGỌC

Đây không phải một thiên tiểu thuyết. Chuyện mà em Ngọc kể ra chỉ cốt ghi lại một kỷ niệm trong đời sống kháng chiến của một người thầy thuốc. Hôm ấy từ hai giờ sáng tiếng súng nổ ran sau mấy ngày yên tĩnh. Tiếng liên thanh kéo dài như những tràng pháo, đạn moóc chê nổ ầm rền vang trong đêm yên lặng. Sáu giờ sáng chúng tôi ở bệnh viện đã dậy và người nào việc nấy. Theo lệ thường, sau những tiếng dồn dập nhân viên đều sửa soạn sẵn, hấp đồ mổ thu xếp chỗ để chờ cứu chữa số binh sĩ bị thương nơi mặt trận về. 9 giờ, 10 giờ việc thăm thương binh cũ và băng bó đã xong mà vẫn chưa có thương binh mới đến. Chúng tôi vẫn chờ. Vào quãng 11 giờ, một cái cáng từ từ tiến vào “nhà chờ” nơi các thương binh mới đến nằm nghỉ tạm trước khi vào nhà mổ. Đi sau cáng là một anh cấp trung đội mà tôi quen. Không chờ anh đến gần, tôi đã hỏi dồn:

– Thế nào anh, có nhiều không?

– Chỉ có một em bé này thôi ạ.

Lúc ấy tôi nhìn kỹ vào cáng: một thân hình nhỏ bé thu gọn vào lòng cáng chiếc khăn màu xám phủ kín người, để lộ mặt ra, khuôn mặt đều đặn sáng sủa của một em bé 11, 12 tuổi. Em bé nhìn tôi bằng đôi mắt mở to và nở nụ cười để chào hỏi. Tôi vỗ nhẹ vào má em để an ủi và mở băng xem vết thương. Một chị nữ cứu thương khẽ đỡ đầu em quay đi chỗ khác.

– Chị không phải giữ chị ạ. Chị cứ để em xem vết thương của em.

Nghỉ một chút em bé lại tiếp, lần này nói với tôi:

– Tay em có phải cưa không bác sĩ?

– Em cứ yên tâm.

Tôi nói lảng, bằng một giọng cố bình tĩnh để dấu một nỗi buồn, khuỷu tay em đã nát, không còn cách nào giữ được. Chị nữ cứu thương tiêm cho em Ngọc một ống thuốc trợ lực và để em nằm nghỉ một lúc. Tôi ra hiệu cho nhân viên sửa soạn ở phòng mổ, rồi cùng anh trung đội đi vòng sân nói chuyện.

Tôi ngậm ngùi bảo anh:

– Nát hết tay rồi, không thể giữ được.

– Tiếc quá. Em Ngọc giỏi lắm. Gan dạ, táo bạo, và đã giúp được nhiều việc. Rồi thong thả, anh kể cho tôi nghe rõ tại sao em Ngọc bị thương. Từ đêm địch bắn sang vị trí ta. Đến gần sáng, bộ đội gần đấy đoán được sẽ có cuộc hành quân của địch. Ban chỉ huy cần liên lạc gấp với bộ đội ở phía sau. Em Ngọc nhận lệnh ra đi sau lời căn dặn kỹ càng của anh chỉ huy. Khỏi đường qua đê thì đến gần luồng đạn của địch. Em Ngọc ngừng lại một lúc, định đi vòng ra sau cho chắc chắn. Nhưng nhớ lại anh chỉ huy nói là việc cần kíp lắm, em mạnh bạo bước thẳng. Khỏi vài chục thước, một viên đạn moóc chê nổ làm em nằm rạp xuống. Ở tay thấy đau chói. Em Ngọc cởi khăn quàng buộc chặt lấy chỗ tay đau, ép vào ngực rồi đứng dậy cố lần bước tiến thẳng. Em đến nơi, mặt xanh nhợt. Anh y tá bộ đội buộc vết thương cho em xong thì em xin phép đi nằm. Rồi thản nhiên ngủ một giấc yên lặng như không có việc gì vừa xảy ra.

Trong phòng mổ đã sẵn sàng. Em Ngọc nằm thẳng trên bàn mình che dưới những miếng vải trắng bóc. Trong phòng yên lặng. Hộp kền sáng loáng. Mùi cồn, mùi vải hấp bốc lên. Cái khung cảnh quen thuộc dễ làm cho người say mê công việc. Tôi đi rửa tay và mặc áo hấp. Cùng lúc ấy, người đánh thuốc mê chụp máy lên mặt em Ngọc. Trong phòng ngủ yên lặng, chỉ có tiếng phập phồng của cái bong bóng ở máy thuốc mê lên xuống theo nhịp thở của em Ngọc. Bỗng em rẫy mạnh và la to: “Thực dân liệu hồn. Sao mày bắn gãy tay ông?”. Tất cả chúng tôi trong phòng mổ đều mỉm cười vì câu nói đột ngột ở miệng đứa trẻ. Rồi tiếp luôn một cơn dãy dụa mạnh nữa tiếng khóc xen và những câu nó dồn dập: “Thực dân nó bắn gẫy tay tô..i rồ..i. nước mắt tôi còn đang đánh nhau với nó kia mà. Hu.. hu. Để tay cho tôi, tôi đánh nó. Đuổi nó đi. Đu.. ổi..”. Tiếng em Ngọc bé dần, mất đi trong giọng ú ớ. Rồi em Ngọc bắt đầu ngủ say.

Trong một phút tất cả nhân viên trong phòng mổ đều ngưng tay. Người nào cũng cố ý nhìn đi chỗ khác. Một vài chị nữ cứu thương quay mặt đi lấy vạt áo giấu giếm lau một giòng nước mắt.

Em Ngọc thành ra bệnh nhân được cưng nhất trong bệnh viện. Luôn luôn có người ngồi nói chuyện hay đọc báo cho em nghe. Quà bánh nhiều đến nỗi em ăn không hết. Mỗi lần thay băng, vài ba chị cứu thương xúm xít quanh em, hát hay pha trò cho em quên đau. Nhưng lần thay băng nào em Ngọc cũng cười, nụ cười nửa miệng, không thành tiếng, nhưng nó làm cho nét mặt em tươi hẳn lên và khiến cho người gần em lây cái vui của em cũng theo em nói cười.

Dăm ngày sau, bà mẹ được tin lên thăm em và ở lại chăm nom. Mỗi lần đi thăm em, tôi vẫn thấy em tươi tỉnh ngoan ngoãn. Nhưng các chị cứu thương cho biết rằng nhiều lúc vắng người, em hay làm nũng bà mẹ, đòi bà quạt, rót nước luôn miệng. Mỗi lần ăn phải chính tay bà và cho em từng miếng một. Làm nũng mẹ có lẽ là tính tự nhiên của tất cả các trẻ em. Sau đó nửa tháng vết thương em Ngọc lành hẳn. Hôm em về, tôi tiễn em ra đến tận cổng làng bắt tay em thật chặt như bắt tay một người bạn nhớn. Rồi bẵng đi một dạo đến năm sáu tháng tôi không được biết tin tức về em Ngọc.

Lần ấy, tôi đi thăm một An dưỡng đường ở cách bệnh viện tôi vài chục cây số. Đến một tổ vừa bước chân vào nhà đã thấy em Ngọc chạy vội ra chỗ tôi, thòng thòng một tay áo quá dài. Em kể cho tôi nghe hiện giờ em giữ vị liên lạc cho tiểu đoàn ở đây. Tôi đi thăm các thương binh cũ của tôi. Lúc ra về vì muốn đến tiểu đoàn bộ, tôi đứng xa hỏi em Ngọc địa điểm tiểu đoàn. Không trả lời, em Ngọc vội chạy lại chỗ tôi, lấy tay phải còn níu áo tôi lại, nghển hai chân, cố vươn mình lên. Tôi hiểu ý, cúi mình xuống kịp để đón câu trả lời của em, câu trả lời nhỏ như tiếng thở: “Tiểu đoàn bộ ở làng H.S.” Tôi ôm chặt em bé vào lòng, thành thực nhận lấy bài học về sự kín đáo mà vô tình em vừa dạy tôi.

Tôi nhìn lại khuôn mặt đầy đặn, sáng sủa của em Ngọc, rào rạt trong lòng một niềm tin vô hạn về thế hệ ngày mai. Người tò mò đọc những dòng trên đây có lẽ cố tìm cho biết em Ngọc là ai? Ở bộ phận nào? Cái tên của em có quan hệ gì? Em Ngọc mà cũng có thể là Bình, Hải, là Chương, là những em nhi đồng đang ghé vai bé nhỏ chia một phần công tác kháng chiến cùng các anh nhớn tuổi.

Em Ngọc ở đâu? Thuộc bộ đội nào? Chúng ta cần gì phải biết rõ. Một bộ đội nào chiến đấu trên đất Việt Nam này mà không có em Ngọc?

NGUYỄN TRINH CƠ

Tiết 6

KHUYẾT DANH

Tiểu Sử.

Đây là ba mẩu nhật ký trích trong báo “Chiến Thắng” của Trung đoàn Thủ đô. Tác giả là các chiến sĩ của trung đoàn ấy. Nhưng dấu tên. Mẩu Nhật ký của một pháo binh, tác giả ghi nhận vào mùa đông độ rét đậm miền núi Tu Vũ (Mộc Châu) trong cuộc hành quân. Văn bình dị, nhẹ nhàng, nhưng không kém phần sắt máu.

Dưới Bèo, tác giả cặn kẽ tả trạng thái chịu đựng độ rét của một trinh sát viên nằm dưới nước để dò vị trí địch. Ý chí nung nấu ấy là góp cho sự chiến đấu chung của tổ quốc.

Mùa xuân đã tới, chiến sĩ thương binh là một phần tử của Trung đoàn thủ đô cần được nhắc nhở. Sự săn sóc của một nữ đồng chí khiến người chiến binh cảm động. Bọc băng, mua thuốc lá cho chiến sĩ, với cả lòng thương yêu tương trợ giữa đồng đội, khiến những người còn một nửa sống cảm động và nhìn thấy trước mặt mình một màn trong sáng mùa xuân.

1– NHẬT KÝ MỘT PHÁO BINH

Thật vậy, trận Tu Vũ ngày 18 – 3 – 48 bị một mẻ rét mà nay tôi chỉ có thể viết là “rét không thể tả được”. Trước còn run như người lên cơn sốt rét sau rét cứng người hẳn lại. Tiểu đội tôi hai giờ đêm thì khiêng súng đạn tới vị trí. Làm xong công sự trời đổ mưa dữ dội. Anh trung đội trưởng ra lệnh cấp tốc lấy chăn che làm bạt cho đạn khỏi ướt. Đạn để rải rác nhiều đống, lại cả ngòi máy cắt đạn. Anh trung đội trưởng đi xem chỗ bố trí của đội yểm trợ, còn chúng tôi lại thay nhau gác.

Mưa càng to, gió càng tạt mạnh, anh tiểu đội trưởng ra thăm đạn và kêu lên. “Nguy quá!” Hai chăn mà nước vẫn thấm, mọi người cuống cuồng vì đạn ướt thì đến sáng bắn làm sao được, chăn thì có mấy cái để phủ cả. Chỉ còn cách cởi trần ra lấy áo phủ. Năm anh yếu được miễn. Phủ xong áo, chúng tôi xúm xít vào nhau như đàn gà để mong được hơi ấm truyền từ người này sang người khác. Người có áo đứng ngoài thành vòng tròn che cho người không áo. Gió vẫn rít, mưa vẫn rơi. Ba tiếng sau, chúng tôi được lệnh sửa soạn bắn thì vừa lúc mưa bắt đầu ngớt hạt. Chúng tôi ai vào việc nấy; bỗng lại thấy anh tiểu đội trưởng kêu lên, cả đoàn xô đến anh. Anh đã ngã gục vì rét quá. Chúng tôi rút vắt nước đi đắp lên cho anh. Một lúc sau anh tỉnh lại và câu nói đầu tiên của anh là “rét không thể tả được”.

2 – DƯỚI BÈO

Trời rét buốt, anh trinh sát đi dò vị trí của địch phải nhảy xuống ao gần giặc, giấu mình dưới đám bè. Dù suýt chết giá dưới nước, anh cũng đem về được những điều bộ đội ta cần biết để đánh giặc. Dưới đây là lời anh kể:

“Nước giá buốt quá. Ướt đến đâu biết đến đấy. Tôi tưởng như có hàng ngàn, hàng ức mũi kim châm vào da thịt. Khi nước đến cổ. Hai tay cứ run rẫy quờ bờ phủ mặt, hở có mũi và mồm. Nhưng bây giờ thì cố nằm im. Rễ bèo man mác và êm êm vào cả kẽ mặt và lỗ mũi. Nước bùn đọng ở rễ từ từ theo dòng mắt tuôn vào miệng. Trước nó chỉ chườn qua môi rồi dần xuống má, xuống cổ nhưng bây giờ thì không giữ nổi nữa. Hàm răng cứ đập vào nhau cồm cộp. Dù có hãm mặc lòng. Và mỗi lần há miệng ra, nước bèo lại ồ vào. tôi không nhớ uống tất cả bao nhiêu ngụm nữa và không rõ hương vị thế nào?

Người tôi cứ lững lơ như ở một quãng không. Chả biết nó đã tê cứng hay đã chín trong khối nước lạnh rồi. Mới đầu tôi còn thấy buốt ngoài da sau lần lần da ngoài cũng mất. Hình như có một người lột da rồi cầm một tảng đá lướt từ sống lưng xuống đến ngực, đến bụng, khắp các thớ thịt. Và cứ thế, một lần lột lại một lần xoa đá. Khi đến lần cuối cùng, nghĩa là vòa đến tim phổi, các mạch máu tưởng đến ngưng lại được. Khổ nhất là mỗi lần có gió nổi lên. Mũi cứ như bị xẻo bớt thịt đi. Tệ hơn nữa là không đau nhói một cái. Sự đau cư tê dại dần; đi lê thê như không bao giờ hết. trong lúc khổ sở, tôi cố hình dung một cái gì để vững tinh thần”.

3 – MÙA XUÂN ĐÃ TỚI

Tôi nổ ba phát súng liền lên ổ súng địch đặt trên cửa sổ tầng gác nhà Lục lộ. Ba phát mất tích. Thằng Pháp cát két trắng nhấp nhô sau bị đất. Nó tìm. Phát súng thứ tư, từ nòng khẩu khai hậu của tôi trúng ngay vào bị đất đó, bụi mù. Nhưng thằng Pháp đã tìm thấy tôi rồi. Nó liền trút một tràng. Nó bắn khá lắm. Lỗ bắn của tôi sát mặt đất, rộng một viên gạch, thế mà cách ba trăm thước nó bắn trúng lỗ. Tôi bị đạn vào mắt tóe đỏ lòm. Cả một câu chuyện dài trên đây để đưa tôi vào trạm, cứu thương khu. Tôi kính mời các bạn cùng tôi vào thăm cái nơi yên lặng mà chúng ta bước tới, với một mối cảm động rưng rưng và kính cẩn.... Tôi mang một cái mặt đỏ lòm vào cái cửa “nhà thương du kích” này thì một chị đã vội vàng chạy ra đón tôi. Chị tưởng tôi bị thương nặng. Nhưng tôi từ chối sự ân cần.

– Thưa chị, tôi bị đạn vào mắt, không đau lắm nhưng máu chảy nhiều, chị xem cho.

Tôi ngồi xuống ghế. Ê te dội lên vết thương máu cầm và sạch. Tôi bị mảnh đạn đum đum vào mắt. Mảnh đạn được bác sĩ gắp ra và tôi được băng bó. Chuyện chỉ có thế các đồng chí ạ. Nhưng… có cái lạ này….

– Không việc gì anh ạ. Ba hôm nữa anh sẽ khỏi, vết thương nhẹ không thôi mà. Ấy anh ngồi yên, tôi băng bó thật tốt cho anh ra trận ngay bây giờ cũng được. Nhưng đừng ra vội nhé… ở nhà tịnh dưỡng vài hôm đã. Anh hút thuốc không? Chúng tôi bận cả ngày mãi hôm qua mới ra được Hàng Buồm mà chả biết mua gì, mua luôn gói thuốc lá cho các anh hút.

Tôi cảm động quá các anh ạ. Tôi ngồi yên. Băng vải nõn luôn lượn nhảy trên mắt tôi, quanh đầu tôi. Chị cứu thương nói nhiều, nói nhiều. Mà tôi thì loáng thoáng nghe, câu được câu chăng. Vì trời ơi! Tôi đương mơ một cái gì xanh tươi như cỏ cây, cái gì trong sáng như ánh mặt trời trên làn nước phẳng. Gió mát phương Nam thổi đâu đây và có tiếng hát êm lạ và hay lạ. Mùa xuân, mùa xuân dịu dàng tươi sáng, luôn líu lo trên cành.

Trích báo “Chiến Thắng”

Tiết 7

ĐÌNH QUANG

Tiểu Sử.

Tác giả Bàn Tay thuật lại câu chuyện một anh thương binh mất bàn tay. Tả lại tâm trạng của một chiến sĩ kháng chiến cụt tay, hình tượng thèm khát một bàn tay mà biết bao nhiêu người đến thăm đều không mang lại cho chiến sĩ một bàn tay. Tản văn trích dưới đây đăng trong báo Trung đoàn 77, là một trong những truyện hay nhất của chiến sĩ văn. Người đọc thử hình dung một chiến sĩ cụt tay mong muốn đến độ nào: “Hôm nay các mẹ có đem đến cho một bàn tay đâu? Chỉ có một bàn tay, có lẽ họ cũng biết thế nhưng Không bao giờ họ dám bàn đến nó. Tôi thấy nó, chiếc bàn tay nát rời, ở khắp nơi, mọi nơi...”

Thật đã đạt được độ rung cảm cao, sâu sắc, thâm trầm. Hình tượng ấy nếu không là một người đã sống giữa lòng cách mệnh, giữa trái tim của họng súng, giữa tâm hồn; làm sao diễn tả được sự mong muốn vô cùng giản dị của thương binh cần một bàn tay. Cho đến cả: “anh vụt giơ tay cao lên. Anh ngưng nói. Một lát đưa chỗ thương mới khỏi xuống sát mặt, anh thở dài đút nó vào túi áo. Đâu cũng có nó nhưng không bao giờ được cầm lấy nó, đỡ lấy một chút hơi nóng của nó truyền ra. Anh ơi thế này mới bực chứ anh xem đây này" còn bao nhiêu thái độ, động tác nữa. Ý nghĩ mà chính là nạn nhân không bộc lộ diễn tả, dù nhà văn tài ba đến đâu cũng khó tưởng tượng nổi, từ thái độ con ruồi đậu mà không phủi được, hay bâng khuâng trong giấc mộng; khi gặp bàn tay nát về với mình.

Nếu cuộc sống là đề tài cần thiết để làm bối cảnh cho tác phẩm; Đình Quang đã trả lời rõ rệt qua một truyện hay tột độ Bàn Tay. Ngoài giá trị đề cao chiến đấu còn nói lên tính nhân bản một cách tha thiết, chỉ nói riêng đến khía cạnh thương binh.

BÀN TAY

Lúc ấy tôi không kịp biết đau, cũng không kịp nghĩ gì nhiều nữa. Tôi man mác một nỗi tiếc có bao giờ tôi còn có thể tìm thấy nó nữa… Trời! Chiếc bàn tay tôi cụt, máu phụt ra, bắn vào lòng bàn tay trái một vật cứng. Máu ra mãi, người tôi yếu dần, mắt tôi mờ đi tôi còn nghe như có một tiếng lựu đạn thứ hai nữa, tôi ngã xuống, thế rồi…

Tiếng cười bạn thương binh trầm trầm, ẩm và ướt hơn, trong phòng tiếng ngáy đều đều. Anh khẽ chống khuỷu tay, xoay mình sang phía tường. Ánh sáng sao lạnh lẽo tỏa trên mảnh vườn trước nhà. Anh nằm cong úp thìa hai tay ôm màng tai anh, anh muốn giấu hai giọt nước mắt đọng ở thái dương.

– Thế rồi anh có biết không, sau hơn nửa ngày mê mệt với những cơn ác mộng, tôi tỉnh lại nhìn xung quanh tối om, tiếng đồng hồ đâu đâu buông hai tiếng gọn.

Đêm về khuya đã lâu rồi. Không có một tiếng động. Tối quá anh ơi tôi muốn tìm chút ánh sáng mà không được. Tôi sợ cái màu đen của giấc mơ lắm rồi. Giá khi đó cũng có anh nằm bên tôi như bây giờ này thì tôi cũng đủ thấy đời đáng quý. Tôi nhìn mãi, ráng nhìn về phía dưới chân ngọn đèn bệnh xá lọc qua bao lần màn đen đến chỗ tôi chỉ còn là tia yếu ớt. Tôi muốn ngửng đầu lên co chân lại gọi lên một tiếng, nhưng không được, óc tôi cũng không đủ nhớ rõ, dù là một hình bóng. Đau đớn thế là cùng! Mai mỉa thế là cùng! Tôi khóc, anh đừng cười tôi nhé, tôi khóc thật anh ạ, tôi chưa bao giờ khóc nhiều hơn thế, tôi đau đớn hơn khi bố mẹ tôi chết cái buồn tử biệt ấy nó có thể quên dần được khi người ta không bị xáo động nắm tro lạnh ở trong lòng. Nhưng mà bàn tay nó ám ảnh tôi mãi tôi có quyền có nó như tất cả mọi người khác cơ mà, anh có nhận như thế không? Thế mà tôi đã mất nó, đã mất rồi …

Những ngày nằm liệt ở bệnh xá, là một chuỗi ngày sống khắc khoải. Tất cả bác sĩ, các chị cứu thương, các bạn đồng ngũ, họ biết tôi buồn tủi lắm họ thương tôi, họ cố làm cho tôi vui, họ hát, họ hỏi chuyện, họ an ủi. Tôi biết thế, tôi gượng cười vì họ. Hàng ngày các mẹ đến thăm tôi, các mẹ muốn đem đến cho tôi sức sống náo nhiệt ở bên ngoài. Khổ! Họ hết sức đấy, họ làm hết cách cho tôi tươi lên rồi đấy, nhưng có bao giờ tôi nghe thấy: “Hôm nay các mẹ đem đến cho con một bàn tay đây ?” Chỉ một bàn tay có lẽ họ cũng biết thế nhưng không bao giờ họ dám bàn đến nó. Tôi thấy nó chiếc bàn tay nát rồi, ở khắp mọi nơi, mọi lúc. Tôi thấy nó ở đình màn, trong nếp chăn, trên mặt chị hai, trong tà áo mẹ hiền, đâu cũng có nó. Anh vụt giơ tay cao cụt lên. Anh ngừng nói, một lát đưa chỗ thương mới khỏi xuống sát mặt, anh thở dài đút nó vào túi áo. Đâu cũng có nó nhưng không bao giờ được cầm lấy nó; đỡ lấy một chút hơi nóng của nó truyền ra. Anh ơi “... thế này mới bực nữa, anh xem đấy này …”.

Anh rút cánh tay đưa sang, đầu ống xương bắp thịt khẽ động đậy, miếng khâu còn lại vài đường xám nhạt. Anh cười gằn một trang, vùng ngồi dậy người loạng choạng. Tôi giơ vai cho anh dựa.

Không gì bực bằng tôi bị tù. Phải kể ra thì bị tù thật, tôi bị câu thúc một cánh tay. Gặp lúc ngứa bắp trên tay trái thì chỉ cười trừ thôi, cười như nắc nẻ đến khi các chị cứu thương sợ chạy hết rồi, thì đưa khăn lên mà lau má. Những đường gân tôi chưa bị liệt đâu, đường gân ngón trỏ ngón, tay cái, ngón út nữa đây này. Thỉnh thoảng tôi thoáng quên như bàn tay đang còn, tôi giơ ra bắt tay một người bạn, đường gân chuyển là lạ, thân thể mất thăng bằng xòe tay ra không được, nắm lại cũng không được, tôi bị như một sức mạnh nào bó chặt lấy tay, Chao ôi ! còn nhiều cái bực mình như thế nữa kể không hết ! Từ đó tôi mất cả hi vọng sau tôi nghĩ rằng tôi chỉ còn một tay, tôi phải làm việc gấp đôi để theo kịp những người khác, không thể dung túng những tư tưởng yếm thế đứng trên cái lụn bại để trông người khác tiến và có thế mới xứng đáng với bộ áo xanh này chứ anh nhỉ. Kể ra thì tôi cũng chưa đáng buồn lắm! Còn có người cụt hai tay, cái chân chết nữa cơ mà. Độc lập còn cần nhiều bàn tay rơi rụng anh đừng cho tôi là tự kiêu nhé, càng hi sinh nữa…

Tôi tập viết tay trái, làm việc tay trái, tập quên dần tay phải nhưng cũng có lúc sực nhớ đến nó, lúc giơ tay chào Quốc kỳ, đỡ lấy tờ mệnh lệnh chẳng hạn. Thế rồi đêm nay tôi thấy nó về gắn liền vào cổ tay, tôi không lầm đâu thật mà tôi không lầm : rõ ràng tôi cầm lấy nó hẳn hoi tôi đếm từng ngón sờ từng cái móng tôi mừng quá tôi lấy ngay bút viết một bức thư báo tin cho tất cả những người thân mến, thảo một bài báo đăng tin bàn tay đã trở về với thương binh. Tôi cầm mân mê nó mãi nắn bóp nó, bấu nó để giữ lại xúc giác. Tôi không thấy đau, tôi bấu mạnh nó vội vàng biến mất. Tôi giật mình tỉnh dậy thì thấy anh giựt tay lại chính tay đó là tay anh. Từ đó tôi không còn nhắm mắt được nữa, tôi ước mơ cứ kéo dài dài mãi để được sung sướng sống đầy đủ tứ chi như anh… như tất cả người khác, dù chỉ là một giấc mơ thôi…

Trích từ Tập san TRUNG ĐOÀN 77

ĐÌNH QUANG

Tiết 8

AN BÁ ĐẢM

Tiểu Sử.

Sự diễn đạt tình cảm qua tác phong sống mới của đoàn quân đi, là phản ảnh một trong những đề tài cách mạng. Đình Quang tả tình người sống động trong tâm hồn; thì An Bá Đảm tả cái sống động bên ngoài hình ảnh của đoàn quân lên đường mang theo lý tưởng chiến đấu cho dân tộc diễn biến qua nhiều thái độ hi sinh. Ý kiến của một chiến sĩ văn tuy bộc lộ có phần ít nghệ thuật, nhưng bao giờ cũng chân thành, Ở đoạn này chúng ta nhận định rằng rong hầu hết tác phẩm của chiến sĩ văn là chép đúng sự vật, như một máy ảnh chộp đúng khách quan, và ảnh đẹp hay xấu là tùy theo máy tốt xấu: "Anh đại đội trưởng luôn luôn thúc giục thế mà hàng ngũ vẫn sộc sệch. Nghĩ mãi mới tìm ra cách động viên anh mỉm cười:

“Gần đến phủ lị đấy nhé. Đi đứng cho hùng dũng, hát cho to lên “Bàn dân thiên hạ cười cho đấy”. Nghe đồn đây “chất Thủ đô tản cư về”.

Vui tươi thì có vui tươi, nhưng không tế nhị mà chỉ là một hình ảnh khám phá cái xấu của một cơ hội căn bản cần cho tiểu tiết phóng sự. Tuy nhiên mỗi mẩu đời ký sự gồm hai phần: hay và không hay hoặc chưa hay, mỗi người nhìn một khía cạnh chép lại… để ráp lại một cuốn phim dài đầy công lao trường kỳ kháng chiến dân tộc.

ĐOÀN QUÂN ĐI

Trời nắng chang chang. Đi một mạch gần hai chục cây số, anh nào anh ấy mệt nhoài, chân không buồn bước, mặt nóng bừng bừng khát nước khô cả cổ thở hổn hển : Dăm sáu anh yếu sức từ từ tụt hậu rồi xin phép ở lại sau, tinh thần như bị căng thẳng. Cái ba lô lúc mới đi nhẹ thế, bây giờ nặng như đá quẳng được đi thì khoan khoái con người quá. Những anh lém lỉnh nhất giờ cũng thực hành ngậm miệng chủ nghĩa. Anh đại đội trưởng luôn luôn thúc giục thế mà hàng ngũ vẫn xộc xệch. Nghĩ mãi mới tìm ra các động viên anh mỉm cười:

– Gần đến phủ lỵ đấy nhé! Đi cho hùng dũng, hát cho to lên “bàn dân thiên hạ cười cho đấy. Nghe đồn đây lắm “ chất Thủ đô” tản cư về.

Hành quân toàn đi ban đêm cả, ít được ngắm sơn thủy hữu tình chỉ thấy sương mù bao phủ, rừng núi lu bù.

Hành quân ban ngày tuy có cái hại là lộ bí mật quân sự nhưng có cái lợi là biểu dương được lực lượng vũ trang và anh em còn ngắm được cảnh lạ. Tuy chả non nước gì đâu, quân đội cách mạng chứ có phải ngày trước, nhưng không biết tại sau hễ có tí chất là anh em cứ thấy vui vui rồi sự hoạt động tự đâu nó phát ra. Gia đình có trẻ lắm lúc cũng bực mình, nhưng nhiều lúc vui cửa vui nhà ra phết? Ăn thịt cá mãi cũng chán, thỉnh thoảng điểm bữa rau cũng ngon miệng. Mô phạm nhiều rồi, dù có mở lòng phát huy một chút thanh niên tính cũng chẳng sao miễn là đừng quá trớn. Gãi đúng chỗ ngứa, các Vệ tươi ngay mặt lên, chuyện nở như ngô rang hai ba anh láu lỉnh nháy nhau: “thủ đoạn chính trị viên đấy nhé”. Sau khi chỉnh đốn lại hàng ngũ đoàn quân hùng dũng bước theo nhịp đếm của anh đại đội trưởng. Bài chiến sĩ ca được thét vang lên. Nghe thấy tiếng gáy, hơn hai chục em nhi đồng nhi nữ trong phố chạy ùa ra, vô tay reo: “A các anh bộ đội. Ra mà xem chúng mày ơi. Lắm súng quá!” Đoàn quân từ từ tiến vào hai hàng phố đổ ra nhìn. Mấy ngọc nữ dăm Súy Vân, Súy Kiều tóc thề đã chấm ngang vai, áo trắng, quần thâm kiểu đời sống mới, cười trầm trồ khen các anh ấy khỏe nhỉ. Họ nhà Vệ mở từng khúc một lòng cứ cồn cồn như sóng nước sông Lô, nhưng mặt lạnh như tiên, mắt nhìn thẳng rầm rộ hát, bụi cát bay mù mịt cho đến khi qua phố độ nửa cây số, không biết tại sao phong trào hấp dẫn cứ thấp dần rồi đét một cái sụt hẳn. Đêm càng khuya, sương rơi càng nặng hạt, gió thổi càng lộng. Đoàn quân ma cứ im lìm từ từ tiến, lúc ẩn, lúc hiện, lúc chập chờn theo ánh sáng của mặt trăng. Mấy tiếng chim kêu đi kiếm mồi đêm. Vài tiếng chó sủa và xa xa một ánh đèn le lói, chỉ có thế thôi. Cảnh vật đều im lặng như tờ.

Trời rét ngọt. Họ suýt soa giở chăn ra khoác. Người nọ nối đuôi người kia, đi ngoằng ngoèo như con rắn dài. Chốc chốc, một tiếng còi mồm báo hiệu. Họ ngồi sụp xuống vệ đường mắt nhìn trước nhìn sau rồi lại tiếp tục đi. Vài anh lại bắt đầu thúng thắng ho và ngáp vặt. Họ muốn nói chuyện cho đỡ buồn ngủ nhưng ác quá hành quân ban đêm mà nói chuyện là điều tối kỵ. Dăm sáu anh đi chậm lạch bạch chạy gắng đuổi kịp đoàn quân.

– Hố đấy nhé.

– Đi sao đứt quãng thế, nhanh lên.

– Tệ quá hỏa thực để nồi niêu lẻng kẻng cả.

Những câu thúc giục, truyền tin ngắn thỉnh thoảng thốt ra rồi im hẳn.

– Sao đứng lại thế cậu?

Một tiếng gió phều phào trả nhời: “Qua sông”. Được lệnh nghỉ, đoàn quân bỏ ba lô ra vuôn vai chia nhau từng tốp vào hàng nghỉ uống bát nước chè nóng, hoặc rít điếu thuốc lào, mua cái bánh hoặc quả chuối để lau dầu cho bộ máy. Cơm từ hai giờ làm gì kiến chẳng bò bụng tợn! Có anh ngồi xổm bên đường, đầu gục trên hai cánh tay hỏa tốc vài phút cho qua cơn ngái ngủ. Hơn hai chục vừa thuyền gỗ, thuyền nan luôn muốn thay đổi nhau chở đoàn quân qua sông. Sóng vỗ vào mạn thuyền kêu oằm oặp. Trăng lúc bấy giờ lại tỏ. Những con thuyền cứ qua lại vùn vụt trông đẹp mắt quá, giá ban ngày hát toang lên vài bài cho khoái con người, nhưng tối mới chết chứ lị, hát để ai nghe.

Mấy anh chàng tức cảnh sinh tình, nhè nhẹ đập báng súng khe khẽ hát bài Thủy quân ca. Đoàn thuyền cứ chở. Đoàn người cứ ùn ùn sang bờ bên kia

– Báo cáo anh sang hết cả rồi. Một tiếng truyền đanh thép: “Đi”.

Con rắn dài lê thê lại tiếp tục nhẫn nại bò. Những anh lái đò ngơ ngác nhìn theo tặc lưỡi:

– Chà lắm moóc chê quá. Đông ghê! Dễ có đến mấy nghìn. Chắc các anh ấy đi đột kích đâu hẳn. Trời rét mướt nghĩ ái ngại cho các anh ấy.

Có tiếng chửi đổng:

– Mẹ kiếp đêm nay Tây chết vô khối!

AN BÁ ĐẢM



CÒN TIẾP ...

Trở lại : LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 19





© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ VÀ NEWVIETART .



TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ TRUYỆN NGẮN NHẬN ĐỊNH