TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



. Sinh năm 1944 .
. Tại Thái Bình .
. 1967 tốt nghiệp khoa Sinh, Đại học Tổng hợp Hà Nội.
. 1973 làm việc tại Hội Văn nghệ Thái Bình.
. 1979 làm việc tại Hội Văn nghệ Kiên Giang.
. Từ 1996-2000 phóng viên báo Văn Nghệ Hội Nhà văn Việt Nam.
. Hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

- Bên bờ vịnh Rạch Giá tập truyện
- Thời gian gom nhặt (thơ)
- Trấn Hà Tiên và Tao Đàn Chiêu Anh Các (biên khảo)
- Nguyễn Thị Lộ (tiểu thuyết)
- Thử tìm lại cội nguồn người Việt (biên khảo)
















TÌM LẠI

CỘI NGUỒN

VĂN HOÁ

CỦA NGƯỜI VIỆT

KÍNH DÂNG ĐỒNG BÀO TÔI

KÍNH DÂNG TỔ QUỐC TÔI



TỰA

C   on người sinh ra, lớn lên, kiếm ăn, yêu đương, sinh con đẻ cái, chiến tranh giành giật... Ðến một lúc nào đó dừng giữa chừng công việc, anh ta tự hỏi: Ta là ai? Ta từ đâu tới? Chính lúc này, con người sinh học đã trở thành con người triết học.

Hàng vạn năm, từ thế hệ này sang thế hệ khác, con người triết nhân - những chàng hoàng tử Hamlet của mọi thời, khi bộ hành trên đường, lại hỏi mình câu hỏi muôn thuở ấy! Có lẽ đã có nhiều lời giải ngay từ tiền sử nhưng chúng không đến được với ta vì thời đó chưa có ký hiệu ghi chép và cũng có thể ký hiệu bị thời gian xóa nhòa. Vì vậy, câu hỏi về cội nguồn luôn là điều mới mẻ.

Với người Việt, do số phận đặc biệt của dân tộc, vấn đề cội nguồn lại càng nhức nhối hơn. Sự nhức nhối hiện thành câu tục ngữ Chim có tổ, người có tông, một trong những phương ngôn giầu ý nghĩa nhất của văn hóa Việt.

Với người Việt, có lẽ ý thức tìm về nguồn cội trở nên đòi hỏi cấp thiết nhất vào thế kỷ thứ X khi lần đầu tiên sau 1000 năm nô lệ, chủ quyền được giành lại. Hậu thế biết ơn Trần Thế Pháp với cuốn Lĩnh Nam chích quái của ông. Chọn những câu chuyện quê mùa lầm lụi trong bùn đất, lượm lặt từ những trang sách nước ngoài, ông ghi lại cho đời sau biết về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ cùng một bọc trăm trứng. Biết ơn Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên hai vị sử gia dám cả gan ghi những điều hoang đường diệu vợi vào chính sử. Những dòng chữ đó như đám bèo mà nhiều thế hệ Việt bám lấy để quẫy đạp lội ngược dòng lũ thời gian tìm về nguồn cội.

Nhưng, nhiều điều cha ông nâng niu trân trọng thì con cháu không tin. Không thể trách họ. Sự đời là thế, con cháu đã thành con người triết học mà đặc trưng là nghi ngờ tất cả! "Bốn nghìn năm văn hiến ư? Các cụ nhà mình khí đậm máu sô-vanh! Lấy đâu ra, ngay cả thời đại các vua Hùng cũng mù mờ lắm: làm sao 18 đời vua lại kéo dài những hơn 2000 năm?!" Chính ngay Ðại Việt sử ký toàn thư, pho sử lớn và uy tín nhất nước cũng viết: "Tích Quang người quận Hán Trung, khi ở Giao Chỉ lấy lễ nghĩa dạy dân. Lại lấy Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân... Tục người Cửu Chân chỉ làm nghề đánh cá, đi săn, không biết cày cấy. Diên mới dạy dân khai khẩn ruộng đất, hàng năm cấy trồng, trăm họ no đủ... Phong tục văn minh của đất Lĩnh Nam bắt đầu từ hai thái thú ấy."(1) Còn văn hóa Việt ư? "Chính sử chả ghi Sĩ vương là Nam Giao học tổ sao? Té ra thì tới nhà Hán chúng ta mới có việc học! Vậy thì văn hiến cái nỗi gì?"

Những suy nghĩ trên đã dẫn đến ý tưởng cực đoan vong bản như thế này: "Về văn hóa, ta đã bắt chước người Tàu một cách mê mải và vô điều kiện. Nếu văn hóa của ta còn khác văn hóa Tàu thì cũng chỉ vì ta bắt chước chưa xong mà thôi. Văn hóa ta khác văn hóa Trung Hoa không phải ở chỗ ta thực sự khác mà là ở chỗ ta chưa bằng. Sự khác biệt ở trình độ nhiều hơn ở bản chất!"(2)  

Xin nói thực lòng, kẻ viết những dòng này cũng thuộc giống con người tư duy nên biết bao năm băn khoăn khốn khổ chỉ vì một câu ca:

Công cha như núi thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra!

Thái sơn là gì? Hòn núi lớn. Như vậy công cha to như hòn núi lớn! Còn nước trong nguồn thì dễ rồi: nước đầu nguồn, dạt dào mà trong trẻo! Yên chí! Ðến khi nghe mò mẫm biết được Thái Sơn, ngọn Nguồn là hòn núi dòng sông bên Tàu thì lòng bất nhẫn: Sao cha ông ta vong bản đến vậy? Chúng cướp nước ta chưa đủ sao mà còn thương còn nhớ còn ơn ngọn núi dòng sông bên Tàu?! Quá nửa đời buốt đau vì mặc cảm đó!

Ngày nay trong hoàn cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, trước nguy cơ bị xâm lăng văn hóa, thấy trên nhiều phương tiện truyền thông đại chúng và cả những chỉ thị nghị quyết nói nhiều đến cụm từ bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Nhưng không hiểu sao có cảm tưởng là, người ta càng nói nhiều thì sự việc càng rối tung rối mù lên, đến nỗi chẳng ai hiểu văn hóa dân tộc là gì! Từ đó mà biết bao việc làm tùy tiện lộn xộn, cái đáng bỏ thì giữ, cái đáng giữ lại bỏ, cái gì có lợi trước mắt thì đề cao rồi bảo đó là truyền thống, là bản sắc! Ruột bỏ ra da ôm lấy... cười ra nước mắt!

Thiết tưởng sở dĩ có chuyện trống đánh xuôi kèn thổi ngược như vậy chính bởi vì chưa có được sự thống nhất trong hai nhận thức cơ bản: 1/Dân tộc Việt Nam là ai? Và 2/ Văn hóa Việt Nam là gì?

Cho đến nay thật đáng buồn là người Việt chưa hiểu được dân tộc chúng ta là ai, từ đâu tới. Chính vì vậy càng mù mờ hơn về cội nguồn văn hóa dân tộc. Giải đáp hai câu hỏi trên là vấn đề đặc biệt quan trọng và bức xúc hiện nay.

Không phải là nhà nghiên cứu lịch sử nhưng là nhà văn quan tâm tới văn hóa dân tộc, chúng tôi tạm dừng cuốn tiểu thuyết đang viết về Triệu Vũ đế, xin thử bàn về hai vấn đề trọng đại này. Rất mong quý vị cao minh chỉ giáo.

Lời Cảm Ơn : Người viết chân thành cảm ơn các tác giả có sách tham khảo trong chuyên luận này. Ðặc biệt cảm ơn những tác giả người Việt ở nước ngoài: Ts Nguyễn Thị Thanh, Luật sư Cung Ðình Thanh, GsTs Nguyễn Văn Tuấn, các ông Nguyễn Ðức Hiệp, Nguyễn Quang Trọng. Ông Hoài Thanh báo Ðại chúng cung cấp những tài liệu quý. Cảm ơn bạn tôi, Ðỗ Thái Nguyên và Gs Ranjan Deka Ðại học Cicinnati Hoa Kỳ gửi cho những thông tin mới nhất. Chính trí tuệ và thịnh tình của các vị đã soi sáng và động viên chúng tôi hoàn thành cuốn sách. Cảm ơn vợ tôi, người đã vất và nhiều vì tôi. Cuốn sách này cũng là nén nhang tưởng nhớ Cha tôi.

Sài Gòn, Xuân Ất Dậu

  HÀ VĂN THÙY




 PHẦN MỘT

VỀ NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT

CHƯƠNG III

VỀ CỘI NGUỒN NGƯỜI VIỆT

  T   ừ những dữ kiện nêu trên, có thể nhận định về cội nguồn người Việt như sau:  

Sau khi từ Ðông Phi thiên di tới Trung Ðông, người Homo Sapiens rời Trung Ðông vượt qua Pakistan, Ấn Ðộ rồi theo bờ biển Nam Á đặt chân đến miền Trung và miền Bắc Việt Nam khoảng 60 đến 70.000 năm trước. Trong khoảng 10.000 năm dừng chân tại đây, hai đại chủng người tiền sử là Mongoloid và Australoid đã hòa huyết tạo thành hai nhóm loại hình Indonesien và Melanesien cùng một số loại hình chuyển tiếp giữa chúng đồng thời mở rộng địa bàn cư trú ra khắp lục địa Ðông Nam Á .  

50.000 năm trước, một số nhóm người di chuyển xuống châu Ðại Dương thành thổ dân Úc hiện nay.

40.000 năm trước, một số nhóm di cư đến New Guinea.

Khoảng 30.000 năm trước người từ lục địa đã tới khắp các đảo lớn ngoài khơi Ðông Nam Á.

Khoảng 40.000 năm trước, khi băng hà tan, một nhóm người Mongoloid sống biệt lập tại phía Tây Bắc Ðông Nam Á, không có sự hòa huyết với người Australoid, di cư lên phía Bắc theo con đường qua đất Ba đất Thục lên sống ở miền Tây Bắc Trung Quốc thành chủng Mongoloid phương Bắc.

Cùng thời gian đó, nhiều nhóm người Inđonesien, Melanesien di chuyển lên phía Bắc theo con đường duyên hải. Dần dần họ lan tỏa ra khắp lục địa Trung Hoa và một bộ phận lên tới Siberia rồi vượt eo Bering sang châu Mỹ. Cuộc Bắc tiến diễn ra mạnh mẽ nhất vào khoảng 8000 năm TCN khi nước biển dâng cao.

Có thể hình dung kịch bản sau: Người Ðông Nam Á di cư lên phía bắc làm nhiều đợt trong suốt thời gian dài. Những người đi sau thường tìm đến với những người đi trước thuộc dòng tộc gần gũi với mình qua tiếng nói. Họ được người tới trước giúp nơi ăn chốn ở lúc ban đầu cùng những kinh nghiệm sống nơi đất mới. Người mới đến cũng chia sẻ với đồng bào của mình những tiến bộ kỹ thuật mà họ mang theo, như công cụ, các giống cây trồng, vật nuôi từ trung tâm nông nghiệp Hòa Bình... Có một mối liên hệ chặt chẽ như vậy vẫn nối giữa hai vùng.

Tại lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử, người di cư chuyển dần từ săn bắt hái lượm lúc đầu sang trồng lúa nước và chăn nuôi gia súc. Những nhóm người gốc Ðông Nam Á này tạo thành một cộng đồng mà sử sách gọi là Bách Việt. Trong hàng vạn năm sống ở đây, người Bách Việt sáng tạo nên nền nông nghiệp lúa nước, chế tác công cụ đá, đồ gốm rồi đồ đồng, sắt. Người Lạc Việt, nhóm chủ đạo trong dòng Bách Việt lấy vùng Thái Sơn tỉnh Sơn Ðông làm trung tâm. Người Bách Việt bắt đầu hình thành quốc gia lỏng lẻo và tôn Thần Nông là ông vua dạy họ trồng ngũ cốc. Tiếp đó con cháu Thần Nông như Ðế Minh, Ðế Nghi dẫn dắt họ tổ chức cuộc sống, lập nước Xich Quỷ chuẩn bị đối đầu với dân du mục phương Bắc.

Cũng thời gian này, những người ở lại Ðông Nam Á sáng tạo tại quê hương mình nền nông nghiệp lúa nước phát triển, kỹ thuật chế tác gốm và đồ đá sau đó là đồ đồng, sắt.

Vào khoảng năm 2800 TCN, người Hán vượt sông Hoàng Hà xâm chiếm lãnh thổ của người Bách Việt. Trong trận quyết chiến Trác Lộc trên sông Hà, lãnh tụ người Bách Việt Ðế Lai hy sinh. Một bộ phận người Việt chạy về Nam, tới nương náu tại nước Xích Quỷ phía nam Trường Giang, quanh dải Ngũ Lĩnh. Ðây là thời kỳ thứ hai trong lịch sử người Việt sống trên lục địa Trung Hoa: quần tụ tại lưu vực sông Dương Tử. Trong thời gian hàng ngàn năm tiếp xúc, người Bách Việt Indonesien, Melanesien có sự hòa huyết với người Hán Mông cổ tạo ra người Bách Việt mới mà khoa học gọi là nhóm loại hình Ðông Nam Á hay Mông Cổ phương nam.

Khoảng cuối thiên niên kỷ thứ II TCN, do sự truy đuổi dữ dội của người Hán, một bộ phận lớn người Bách Việt Mông Cổ phương nam di cư ồ ạt trở lại lục địa cũng như vùng hải đảo Ðông Nam Á. Người H’mông-Dao, người Thái-Tày, người Tạng-Mianma... đã trở về như vậy. Người Lạc Việt cũng không ngoài số phận này. Do mối liên hệ sẵn có, nhất là qua tiếng nói mà con cháu của những người di cư hàng vạn năm trước lại tìm về đúng nơi tổ tiên họ đã ra đi. Người Thái tìm về đất Thái gặp lại bà con xa xưa của mình. Người Việt trở về đất Việt với dòng tộc... Những người Mông Cổ phương Nam trở về tạo nên cuộc hòa huyết làm loại hình Indonesien, Melanesien bản địa chuyển nhanh sang loại hình Ðông Nam Á. Sự chuyển hóa đó diễn ra tập trung trên toàn bộ Ðông Nam Á. Chính điều này là nguyên nhân chủ yếu tạo nên bản đồ nhân chủng Ðông Nam Á hiện đại. Các nhà khảo cổ Việt Nam đã tìm ra nhiều địa điểm chứng tỏ có sự cộng cư như vậy mà tiêu biểu là di chỉ mộ táng Mán Bạc Ninh Bình vừa phát hiện đầu năm 2005. Tiến sĩ Marc Oxenham của Ðại học Quốc gia Úc, người tham gia khai quật di chỉ ghi nhận: "Người Việt từ trước thời Ðá mới đã có biểu hiện của giống người Úc châu (Nam Ðảo) hay Ða đảo Melanesian, nhưng người Việt từ thời Ðồng thau đã có biểu hiện đặc trưng của giống người Ðông Nam Á. Sự hiện diện của cả hai nhóm sắc tộc này sát cánh nhau trong khu mộ táng cho thấy đã có sự hỗn hòa giữa hai chủng ở mức độ đáng kể, có thể là đánh dấu những nguồn gốc sớm nhất về dân cư Việt Nam hiện thời, vốn đã từng ổn định khoảng 2000 năm TCN."(18)  

Tới đây, tự nhiên nảy sinh câu hỏi: Vì sao suốt trong hàng vạn năm trước đó, số dân Bách Việt tăng nhanh, phạm vi phân bố mở rộng ra mênh mông, trong khi người Mông Cổ số dân tăng không đáng kể và chỉ loanh quanh mạn Bắc sông Hoàng Hà?

Có thể lý giải điều này bằng 3 nguyên nhân: khí hậu-thổ nhưỡng, phương thức sống và di truyền:

1/ Khí hậu lạnh không tạo thuận lợi cho sinh sản. Dân số tăng chậm không đòi hỏi mở rộng vùng phân bố.

2/ Phương thức sống du mục nên người Mongoloid phương bắc sống bám vào đồng cỏ cao nguyên, không có khả năng chinh phục miền đất ẩm thấp mạn Nam sông Hoàng.

3/ Người Mông phương Bắc mang gen từ tổ tiên Mongoloid thiên di lên theo con đường biệt lập không hòa huyết với chủng người khác, trong bộ gene tương đối thuần của họ mang khả năng sinh sản thấp. Ðiều này còn thấy trong sắc dân Mongoloid phương Bắc hiện đại.

Từ đó có thể rút ra kết luận: việc xuống phía Nam hòa huyết với người Bách Việt mang dòng máu Indonesien, Melanesien và trồng lúa nước mở ra vận hội lớn đối với người Mongoloid phương Bắc, chẳng những đã cứu họ thoát khỏi tình trạng sinh sản thấp như người Mông Cổ đồng chủng mà còn cho họ hưởng nền văn minh nông nghiệp phát triển rực rỡ. Chính hai nhân tố này tạo nên dân số đông đúc cùng văn hóa ưu tú của dân tộc Trung Hoa hiện đại.

Nghiên cứu của Bowen, Hui Li, Daru Lu & đồng nghiệp cho thấy: Trong khoảng 2000 năm trở lại đây, người Hán có 3 đợt tràn xuống phía Nam và trở thành sắc dân đông nhất thế giới, đến 1,2 tỷ người vào năm 2000.(19)  

     

Ba làn sóng di cư của người Hán  

xuống phía Nam  

Từ 1 đến 14: Bắc Hán; 15 đến 28: Nam Hán.  

Mũi tên đậm dài: đợt 1, vào thời Tây Tấn (265-316) với khoảng 900.000 người  

Mũi tên ngắn: đợt 2, vào thời Ðường ( 618-907) lớn hơn đợt 1.  

Mũi tên chấm: đợt 3, đời Nam Tống (1127- 1279), khoảng 5 triệu người.  

(hình của Jin Li)  

  Trên đây là bức tranh khái quát tiền sử Ðông Nam Á diễn ra với hai giai đoạn.

Giai đoạn đầu là cuộc Bắc tiến mang theo rìu đá, giống lúa, khoai sọ, giống gà, giống chó đi mở mang khai thác lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử. Giai đoạn này bị chìm trong bụi thời gian, không được sử sách biết đến, chỉ còn lại ít nhiều dư âm trong truyền thuyết và huyền sử.

Giai đoạn hai, mà sách sử gọi lầm là cuộc Nam tiến, thì thực chất là những dòng người Ðông Nam Á sau hàng vạn năm khai khẩn mở mang vùng đất mới, bị kẻ xâm lấn xua đuổi, trở về mái nhà xưa, trở lại quê gốc của mình. Tuy là cuộc thua chạy nhưng lớp người Ðông Nam Á mới đã đem về vốn genes làm chuyển hóa nòi giống cùng với những kinh nghiệm và tri thức mới để xây dựng quê hương.  

Ðối với người Việt, tình hình như sau:

Khoảng 40.000 năm trước, trong dòng di cư chung của người Ðông Nam Á, người Việt từ miền Trung và miền Bắc Việt Nam tiến lên phía Bắc, trở thành nhân tố chủ đạo trong dòng Bách Việt. Người Việt làm nông nghiệp lúa nước, quần tụ quanh vùng Thái Sơn, sông Nguồn. Tại đây người Bách Việt hình thành quốc gia lỏng lẻo, tôn Toại Nhân, Phục Hy, Nữ Oa những bậc á thánh làm vua, tiếp sau là Thần Nông Viêm đế. Kế tục Thần Nông là Ðế Minh, Ðế Nghi, Ðế Lai ở phía Bắc và Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân ở phía nam. Thời kỳ này người Hán Mông phía bắc liên tục xâm lấn, thường xuyên xảy ra tranh chấp.

Khoảng năm 2600 TCN, trong trận Trác Lộc, Ðế Lai tử trận, người Hán thắng, tôn Hoàng đế làm vua. Quân Bách Việt thua trận theo Âu Cơ con gái Ðế Lai chạy xuống nước Xích Quỷ phía Nam sông Dương Tử. Một bộ phận theo cha Lạc Long Quân chạy ra biển trở về Việt Nam. Phải chăng, những cuộc kịch chiến trên lưu vực Hoàng Hà đã được lưu lại trong truyền thuyết Thánh Gióng? Ðọc truyện này, có một điều không sao giải thích nổi là chi tiết giặc Ân. Trên đất của các vua Hùng, cả chính sử cả huyền sử chưa bao giờ biết tới thứ giặc đó. Vậy giặc Ân là ai mà xuất hiện vào đời Hùng Vương thứ 6? Không sao giải thích nổi! Phải chăng cũng như tục xăm mình, tục ăn trầu được nói là do vua Hùng dạy cho dân, sự tích thiên vương thiên tướng cũng xuất hiện từ trước, bên bờ sông Hoàng Hà? Phải chăng là, vào thời Bàn Canh (1401-1373 TCN) nhà Thương dời đô từ đất Cảnh lầy lội sang đất Ân, lập nên nhà Ân. Nhà Ân mở rộng thêm địa bàn, lấn chiếm đất của Bách Việt với nhiều cuộc kịch chiến, huyền thoại thiên vương ra đời. Khi trở về đất châu Phong, người Việt quên đi nhiều thứ nhưng chuyện đứa trẻ vươn vai thành dũng sĩ lên ngựa đánh giặc cùng kẻ thù là giặc Ân thì hằn sâu trong tâm khảm? Ðể giữ gìn câu chuyện nhiều ý nghĩa này, huyền thoại được bản địa hóa bằng những địa danh như Phù Ðổng, những ao đầm xứ Vũ Ninh? Có lẽ ban đầu, câu chuyện chỉ như ghi trong Toàn thư: đứa trẻ xin vua cho gươm và ngựa. Nhưng sau đó, khi công cụ sắt được phát minh, nhận ra công dụng thần kỳ của sắt, người đương thời đã thêm roi sắt, ngựa sắt vào huyền thoại? Ðấy chỉ là giả thuyết nhưng thiết nghĩ không phải hoàn toàn không có cơ sở!  

Ðến nửa cuối thiên niên kỷ thứ II TCN, trước sức tấn công mạnh mẽ của người Hán, nhiều nhóm Bách Việt đồng loạt chạy về nam.

Theo truyền thuyết, hậu duệ của Lạc Long Quân đưa người Lạc Việt đổ bộ vào vùng Nghệ Tĩnh, tôn người con trưởng lên làm vua, gọi là Hùng Vương, lúc đầu đóng đô ở vùng Ngàn Hống Rào Rum (sông Lam núi Hồng) sau đó chuyển lên vùng Ao Việt, lập nhà nước Văn Lang.

Trở về đất Việt lập nhà nước Văn Lang là các vua Hùng trở về cội nguồn của mình. Do tiếp xúc với người phương Bắc nên có sự hòa huyết với người Hán, người Việt từ nhóm loại hình Indonesien chuyển hóa nhanh thành loại hình Ðông Nam Á. Do phải liên tục chiến đấu chống quân xâm lấn nên người Việt của các vua Hùng trở nên mạnh mẽ và khôn ngoan hơn, làm nòng cột xây dựng nhà nước tuy còn lỏng lẻo nhưng bước đầu xác lập mối quan hệ quốc gia, vượt qua tình trạng bộ lạc.

Trong thời kỳ này nhiều quốc gia khác ở Ðông Nam Á cũng hình thành.  

Tới đây có lẽ chúng ta cũng cần giải quyết vấn đề vẫn băn khoăn trong tâm trí không ít người: Người Việt có bị Hán hóa không?  

Không biết từ bao giờ nhiều người nghĩ và nói rằng người Việt Nam là dân tộc bị Hán hóa. Ðiều này không chỉ là niềm tin âm thầm trong lòng người dân ít học mà còn trong tín điều của các nhà khoa bảng. Xin đơn cử, trong trả lời phỏng vấn Ðài BBC vào năm 2003 và được phát lại vào tháng 7 năm 2005, nhà sử học hàng đầu của Việt Nam, Trần Quốc Vượng nói: "Tôi đã nói với ông Phạm Văn Ðồng rằng, nước ta bị một nghìn năm Bắc thuộc. Tính cách nào thì cũng một nghìn năm... Trong thời gian ấy, quan lại sang này, rồi lính tráng, vậy thì dân ta bị Hán hóa đứt đuôi!"  

Tại sao vậy? Có thể vì thấy người Việt giống người Hán nên từ xa xưa ông bà ta cho rằng, mình là nước nhỏ, lại bị đô hộ hàng nghìn năm bởi một nước lớn dân đông vậy hẳn là bị Hán hóa... Không gì bằng thói quen, các thế hệ Việt cứ hồn nhiên truyền nhau thế. Ðiều mê tín đó sang thế kỷ khoa học còn được một số học giả thực dân bồi đắp. Nhưng đó là quan niệm sai lầm do chưa hiểu quá trình hình thành dân tộc Việt. Một sự ngộ nhận kéo dài không chỉ của người Việt mà cả của giới sử học nước ngoài.

Nói một cách chính xác, khoa học thì người Việt đã trải qua quá trình Ðông Nam Á hóa. Nhà nhân chủng học hàng đầu của Việt Nam Nguyễn Ðình Khoa tổng kết: "Thời đại Ðá Mới, cư dân trên lãnh thổ Việt Nam thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó có Indonesien và Melanesien là hai thành phần chủ yếu... Sang thời Ðồng-sắt, người Mongoloid đã là thành phần chủ thể trong khối cư dân Việt Nam, người Australoid mất dần đi trên đất nước này, hoặc do thiên cư hoặc do đồng hóa." (Nhân chủng học Ðông Nam Á, sđd)

Như vậy là, vào thời đại vua Hùng, dân cư nước ta có sự chuyển hóa mạnh từ hai loại hình Indonesien và Melanesien sang loại hình Mongoloid phương Nam hay còn gọi là loại hình Ðông Nam Á. Thời đại vua Hùng kết thúc vào năm 257 TCN nên chí ít thì quá trình Ðông Nam Á hóa hoàn tất trước thời An Dương Vương. Khoa nhân chủng học dựa vào so sánh hình thái sọ người Việt cổ, đã xác nhận, việc chuyển hóa sang nhóm loại hình Ðông Nam Á diễn ra vào thời Ðồng-sắt và rộng khắp Ðông Nam Á, từ lục địa tới hải đảo. Sau cuộc chuyển hóa, nhóm loại hình Ðông Nam Á trở nên thành phần chủ đạo trong dân cư Ðông Nam Á. Sự chuyển hóa này diễn ra khắp Ðông Nam Á, cả những nước chẳng hề hị người Hán chiếm đóng dù chỉ một ngày, là bằng chứng hùng hồn phủ nhận việc người Việt bị "Hán hóa".

Tuy nhiên cho đến những năm 80 thế kỷ trước, nhân chủng học chưa xác định được nguyên nhân sự chuyển hóa này: không hiểu là do di dân hay do đồng hóa? (Nguyễn Ðình Khoa sđd) Ðấy chính là câu hỏi thách đố khoa nhân chủng học không chỉ của Việt Nam mà cả thế giới.

Tới năm 1998 thì điều này được sáng tỏ nhờ công trình của J.Y Chu và đồng nghiệp: Genetic relation of population in China cùng công trình của Bing Su, Jin Li và nhiều người  khác dựa trên công nghệ gene phát hiện ra nguồn gốc người Việt. Từ những nghiên cứu này cho ta cơ sở tìm lại sự chuyển hóa về mặt nhân chủng của người Việt diễn ra như sau:

Khoảng 3-4 vạn năm trước, ngưới Bách Việt thuộc chủng Indonesien và Melanesien có mặt khắp lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử. Khoảng giữa thiên niên kỷ thứ III TCN, người Hán thuộc chủng Mongoloid phương Bắc sống du mục ở vùng Thiểm Tây, Cam Túc vượt Hoàng Hà vào chiếm đất của người Việt. Một bộ phận dân Bách Việt chạy xuống phương Nam, còn phần lớn ở lại chung sống với quân xâm lấn. Tại đây có sự hòa huyết giữa người Hán thuộc chủng Mongoloid phương Bắc và những người Indonesien, Melanesien tạo ra sắc dân Hán phương Nam thuộc loại hình Ðông Nam Á. Trải nhiều thế kỷ, sau khi bình định xong lưu vực Hoàng Hà, người Hán mới (Mongoloid phương Nam) vượt Dương Tử lấn tiếp đất của người Việt. Quá trình tranh chấp dài này cũng dẫn đến việc lai giống giữa người Hán phương Nam với người Việt và chuyển hóa dần người Việt sang loại hình Ðông Nam Á. Ðến cuối thiên niên kỷ thứ II TCN, do xung đột dữ dội với người Trung Hoa, một bộ phận lớn người Bách Việt (lúc này đã chuyển hóa thành loại hình Ðông Nam Á) tràn xuống lục địa cũng như hải đảo Ðông Nam Á. Những người này do số đông, đã lai giống với người Indonesien, Melanesien tại chỗ làm chuyển hóa đại bộ phận dân cư Ðông Nam Á sang loại hình Ðông Nam Á. Sự kiện này đưa tới kết quả là vào thời đại Ðồng-sắt, loại hình Ðông Nam Á chiếm vị trí chủ đạo trong thành phần dân cư phía Nam Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Ðông Nam Á. Chứng cứ của quá trình hóa Ðông Nam Á này ta từng bắt gặp trong những hang động thời Phùng Nguyên có xương người Indonesien, Melanesien lẫn với xương người Mongoloid phương Nam. Di chỉ Mán Bạc phát hiện mới đây ở Ninh Bình với khoảng 30 bộ xương cổ chôn trong một nghĩa địa là chứng cứ rõ ràng nhất: người Việt chủng Ðông Nam Á mới từ phương Bắc trở về sống cộng cư với người Việt thuộc chủng Indonesien, mở đầu cho việc lai giống.

Như vậy, có thể kết luận: việc chuyển hóa đại bộ phận dân cư nước ta sang loại hình Ðông Nam Á là do khối người Việt từ phía nam Trung Quốc di cư trở về lai giống với người Việt tại chỗ

Di truyền học cho thấy, từ trước thời Bắc thuộc, người Hán ở phía nam Trung Quốc đã có cùng bộ gene di truyền với người Việt. Ðến thời Bắc thuộc, những người Hán sang ta-chủ yếu là người Việt Ðông, Việt Tây và Nam Việt trước-thực chất họ là người Trung Quốc gốc Việt. Vì vậy không hề có chuyện người Việt bị Hán hóa vào thời Bắc thuộc. Nói người Việt bị "Hán hóa" là sự ngộ nhận vì không khoa học và không đúng với sự thực lịch sử. Trong lịch sử chỉ có quá trình Ðông Nam Á hóa chung cho cả người Hán và người Việt, diễn ra từ giữa thiên niên kỷ thứ III đến cuối thiên niên kỷ thứ II Trước Công nguyên.

Thiết tưởng từ những phân tích trên, chúng ta có một khái niệm chính xác hơn về người Hán. Các sách sử trước đây cho rằng Hiên Viên là thủ lĩnh người Hán đã vượt Hoàng Hà chiến thắng thủ lĩch Bách Việt Si Vưu. Đây chính là lầm lẫn lớn của lịch sử. Thời điểm này chưa hề có “người Hán”. Bởi lẽ nhà Hán chỉ xuất hiện vào cuối thế kỷ I TCN. Những người đánh chiếm đất đai của Bách Việt là tộc Mông Cổ thuộc chủng Mongoloid phương Bắc. Kịch bản diễn ra như sau: đội quân của họ Hiên Viên tuy có mạnh nhưng không đông. Khi xuống đất của Bách Việt, họ bị những người Indonesien, Melanesien đông đảo bao vây và xảy ra cuộc hoà huyết tạo thành chủng người mới Mongoloid phương Nam. Chủng người này nhận được những phẩm chất di truyền cùng văn hóa từ gốc du mục và cả gốc nông nghiệp nên phát triển mạnh, tràn lan khắp Trung Nguyên, lấn chiếm tiếp đất đai của người bản địa đồng thời tăng cường việc lai giống, khiến cho đại bộ phận dân cư trên địa bàn Trung Quốc trở thành chủng Mongoloid phương Nam. Những người này tập hợp trong những quốc gia lỏng lẻo do Hoàng đế, rồi Nghiêu, Thuấn, Vũ… làm thủ lĩnh sau đó hình thành các quốc gia Thương, Chu… Những vương triều tự nhận mình là trung tâm rồi coi những người Mông Cổ nguồn cội phía Bắc là Địch, cội nguồn phía Nam là Man. Nhưng rồi do cuộc lấn đất mở rộng, đa số những người Man, Di cũng được hoà huyết trở nên đồng chủng với những người sống ở Cửu Châu. Cho đến khoảng 2000 năm TCN, người Hán cũng như đại bộ phận dân cư Á Đông đều thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Người Mông Cổ ở phía Bắc trở thành dị chủng. Ngày nay những người này vẫn được gọi là người Hán nhưng có bộ mã di truyền khác với người Hán sống ở trung tâm. Từ nhận thức như vậy, ta nhìn lịch sử Á Đông một cách chuẩn mực hơn.

 Tóm lại, chúng tôi đã trình bày một phần về CỘI NGUỒN TỔ TIÊN. Sở dĩ chỉ dám nói một phần vì còn một câu hỏi vô cùng bức xúc chưa được trả lời : NHÀ TRIỆU CÓ VAI TRÒ GÌ TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT? Từ khi giành lại quyền tự chủ, các triều đại Việt đều đề cao vai trò lịch sử của Triệu Ðà. Nhà Trần phong ông là Khai thiên thế đạo thánh vũ thần triết hoàng đế (Ðại Việt sử ký toàn thư.) Ðại Việt sử ký toàn thư ghi: "Họ Triệu nhân lúc nhà Tần suy loạn, giết trưởng lại nhà Tần, chiếm giữ đất Lĩnh Nam xưng đế, đòi ngang với nhà Hán, hưởng nước truyền ngôi 100 năm mới mất, cũng là bậc vua anh hùng." Sử gia Lê Văn Hưu nói: "Thế mới biết, người giỏi trị nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu Vũ đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy." Trong An Nam chí lược, Lê Tắc viết: "Triệu Ðà làm vua Nam Việt, mới lấy thi lễ giáo hóa nhân dân một ít."(20) Ðiều này chứng tỏ Triệu Ðà là người mang sự học đến nước ta từ trước chứ không phải Sĩ Nhiếp. Ðến nhà Lê, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết: “Trải Triệu, Ðinh, Lý, Trần nối đời dựng nước.” Như vậy, Nguyễn Trãi thừa nhận Triệu Ðà là ông vua đầu tiên của nước ta từ thời có sử.

Hàng ngàn năm, chính sử Việt Nam ghi nhận vai trò lịch sử lớn lao của nhà Triệu. Ðến thế kỷ XVIII, Ngô Thì Sĩ (1726-1780) viết trong Việt sử tiêu án: "Nước ta bị nội thuộc vào nước Tàu từ đời Hán đến Ðường, truy nguyên thủ họa chả Triệu Ðà thì còn ai nữa? Huống chi Triệu Ðà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả thôi. Ðến như việc xướng ra cơ nghiệp đế vương trước tiên, tán tụng Triệu Ðà có công to, Lê Văn Hưu sáng lập ra sử chép như thế, Ngô Sĩ Liên theo cách chép hẹp hòi ấy, không biết thay đổi, đến như bài Tổng luận sử của Lê Tung, thơ vịnh sử của Ðặng Minh Khiêm thay nhau mà tán tụng, cho Triệu Ðà là bậc thánh đế của nước ta. Qua hàng nghìn năm mà không ai cải chính lại vì thế mà tôi phải biện bạch kỹ càng."(21) Cho đến nay, trong giới sử học, việc đánh giá Triệu Ðà vẫn có hai luồng ý kiến ngược nhau. Là kẻ ngoại đạo không dám lạm bàn, chúng tôi chỉ xin lục ra một số tư liệu lịch sử hầu bạn đọc tham khảo.

Trong Sử ký, Tư Mã Thiên viết: "Vua Nam Việt họ Triệu tên là Ðà, người huyện Chân Ðịnh, trước làm quan úy. Bấy giờ nhà Tần đã chiếm cả thiên hạ, cướp lấy đất Dương Việt, đặt ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận để đưa những người bị đày đến ở lẫn với người Việt. Như thế đã mười ba năm. Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Ðà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ vương. Ðà bèn tự tôn làm "Nam Việt Vũ đế", đem quân đánh các ấp ở biên giới quận Trường Sa. Ðà nhân đó dùng uy lực uy hiếp biên giới, đem của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc mình. Ðất đai của Ðà chiều ngang có hơn vạn đặm, Ðà bèn đi xe mui lụa màu vàng, cắm cờ tả đạo, mệnh gọi là "chế", chẳng kém gì Trung Quốc.""Ðến thời Hiếu Cảnh, Ðà vẫn xưng thần, sai người vào chầu. Nhưng trong nước Nam Việt thì vẫn trộm xưng danh hiệu "đế" như cũ; còn khi sai sứ sang thiên tử thì xưng "vương", triều kiến thỉnh mệnh như các chư hầu." (22)

Triệu Ðà làm vua 70 năm (từ 207 đến 137 TCN), tiếp đó cháu chắt ông truyền 4 đời trị vì 27 năm nữa, đến năm 111 TCN nước Nam Việt vào tay nhà Hán. Nhà Triệu kéo dài được 97 năm.

Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Ðôn ghi: "Ðem số hộ khẩu chép ở sách Hán chí mà so thì nước ta được ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, hơn 20 huyện, đời Hán số hộ cộng là 143.743 nhà, số khẩu cộng là 981.827 người. Thông tính cả hai tỉnh ấy (Quảng Ðông, Quảng Tây) ở đời Hán số hộ chỉ là 71.805 nhà, khẩu chỉ là 389.672 người. Như thế nước ta ở đời Hán thì số hộ gấp đôi mà số khẩu gần gấp ba."(23)

Như vậy, vào năm 220 TCN, nhà Tần chiếm đất của người Việt ở phía nam sông Dương Tử và đưa những tội nhân người Hán đến ở chung với người Việt để thực hiện ý đồ lấn đất. Do nhà Tần sụp đổ, thiên hạ đại loạn tạo cơ hội cho Triệu Ðà cát cứ. Tuy xưng vương ở Phiên Ngung nhưng số dân của Triệu ít. Trong khi đó ở phía Nam, nước Âu Lạc của An Dương Vương khá mạnh, số dân gần gấp 3 số dân của Triệu. Bên cạnh Âu Lạc còn có các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc luôn tranh chấp. Nước Âu Lạc tuy lớn nhất trong khu vực nhưng cũng quá nhỏ so với nhà nước phương Bắc. Nếu nhà Tần không sụp đổ đúng thời điểm đó, có nhiều khả năng tằm ăn dâu, nhà Tần sẽ thôn tính đất Nam Việt. Một khả năng khác: trong cuộc chinh phạt Nam Việt trị tội Triệu Ðà xưng đế, nếu tướng Lâm Lư hầu thắng, nhà Hán chiếm Nam Việt ngay lúc đó, có phần chắc Nam Việt cũng bị đồng hóa như các dòng Bách Việt khác. Khả năng thứ ba: nếu Triệu Ðà theo nhà Hán, sau khi thôn tính Âu Lạc, sáp nhập Nam Việt vào Hán thì có phần chắc là Nam Việt bị xóa sổ trên bản đồ!

Nhìn vào thực tế nước Âu Lạc của Thục Phán, ta thấy, Tục Pắn (tên Việt của Thục Phán) là người Ba Thục trốn chạy nhà Tần đến nương nhờ Lạc Việt, đã chiếm ngôi của vua Hùng, lập nên Âu Lạc. Ban đầu Tục Pắn bị xem là kẻ thoán đoạt cướp ngôi nên bị người Lạc Việt chống lại (sự tích xây thành Cổ Loa bị đổ). Nhưng rồi sau do chính sách cai trị khôn ngoan, nhất là sau hai lần đánh thắng Triệu Ðà, đã được nhân dân tín nhiệm. Về cuối đời do mất cảnh giác nên bị Triệu Ðà dùng mưu thôn tính. Ðúng là Triệu Ðà dùng thủ đoạn chiếm nước Âu Lạc nhưng ý nghĩa của sự kiện lịch sử này cần phải bàn. Thời đó, sự liên kết trong mỗi quốc gia còn lỏng lẻo và biên giới từng quốc gia chưa ổn định, đang trong xu hướng sáp nhập tập trung thành những quốc gia đủ mạnh để tồn tại. Việc thôn tính các nước Sở, Ngô, Việt... để thành nước Tần không phải hành động xâm lược mà là công lớn thống nhất đất nước. Tương tự vậy, việc Triệu Ðà chiếm Âu Lạc cũng không thể coi là cuộc xâm lược mà là hành động thống nhất những nhóm, những tiểu quốc người Việt lại thành một nước Việt lớn hơn, ngăn chặn hành động thôn tính của kẻ mạnh ở phương Bắc. Ðiều quan trọng là họ Triệu đã duy trì được nước Nam Việt thống nhất trong gần một thế kỷ, vừa xây dựng trong hòa bình vừa kiên cường chống ngoại xâm. Chính điều này đã tạo nên và củng cố tinh thần quốc gia của người Việt. Ðây là di sản quý báu nhất họ Triệu để lại cho người Việt. Chính gần một thế kỷ tồn tại của quốc gia Nam Việt giúp cho người Lạc Việt không bị người Hán đồng hóa và sau này có dịp lại vùng lên trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Năm 43 khi Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, nhân dân Nam Việt cũ từ miền Trung miền Bắc Việt Nam đến vùng Lưỡng Quảng sang tận Hải Nam đều hưởng ứng, trong khi Vân Nam không có động tĩnh gì... Sau này, khi qua khảo sát ở vùng đất phía Nam Trung Quốc, bác sĩ Trần Ðại Sĩ thống kê được 200 địa điểm có đền thờ Hai Bà Trưng. Không thể có việc này nếu không có thời kỳ Nam Việt.

Ngày nay, theo công pháp quốc tế, Triệu Ðà tuy là người gốc Hán nhưng đã lấy vợ Việt, sống theo phong tục Việt, cai trị nước Việt thời gian dài ngót trăm năm: cai trị bằng tập tục, bằng luật pháp Việt Nam, bằng các quan lại người Việt trong một quốc gia độc lập không hề phụ thuộc phương Bắc. Ðiều này càng chứng tỏ ông là vị vua hợp pháp của một quốc gia độc lập. Nếu không có may mắn một trăm năm Nam Việt ấy, dám chắc người Hán sẽ diệt tiểu quốc của Triệu Ðà sau đó thôn tính Âu Lạc, tộc Lạc Việt đã bị mất hút trong lịch sử như những dòng Việt anh em khác!

Các sử gia như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên... đã nhìn nhận công bằng và Nguyễn Trãi đánh giá họ Triệu một cách chuẩn mực. Sử gia Ngô Thì Sĩ khi viết: "Triệu Ðà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả" đã tỏ ra bất cập. So với quốc gia còn trong tình trạng sơ khai với những lạc hầu lạc tướng cai quản từng bộ lạc thì một quốc gia có quận huyện, biên số thổ địa là bước nhảy vọt về tổ chức hành chính, về khoa học quản lý xã hội. Còn nói "thu thuế má cung cấp ngọc bích cho nhà Hán" cũng không đúng. Suốt 70 năm Triệu Ðà làm vua, quan hệ Việt Hán khá lỏng lẻo. Biết Triệu xưng đế mà nhà Hán đành chịu, không những thế còn phải lấy lòng bằng cách giữ gìn mồ mả tổ tiên của Triệu, cho thân nhân Triệu làm quan (Sử ký). Trong mối quan hệ như vậy, cống phẩm của Triệu Ðà chỉ có nghĩa tượng trưng để xác nhận sự thần phục trên danh nghĩa nên không thể làm đầy túi tham của Lục Giả, không thể so sánh với việc cống người vàng thời Trần-Lê. Thêm nữa, nói đầy túi tham của Lục Giả rất có thể là suy luận võ đoán. Là sứ giả của Hán Vũ đế nhưng Lục sinh là trí thức lớn, một nhân cách lớn. Không chỉ lớn trong cách ứng xử với Triệu Ðà mà sách sử còn truyền câu nói nổi tiếng của ông: "Vương giả dĩ dân vi thiên, dân dĩ thực vi thiên."(Vua lấy dân làm trời, dân lấy ăn làm trời). Con người như vậy hoàn toàn không phải là Mã Viện với những xe "ý dĩ" tiếng để đời. Rõ ràng, chứng lý đưa ra để kết tội Triệu Ðà là không thuyết phục. Nhưng vì sao Ngô Thì Sĩ lại có cái nhìn việc thiếu chuẩn mực như vậy? Chỉ có thể là, với tinh thần tự tôn dân tộc, ông không chịu một ông vua người Hán tộc! Trong lịch sử thế giới, một người nước này làm vua nước khác không hiếm. Ngay bên chúng ta, tới cuối thế kỷ XVIII, vua nước Xiêm là một người Trung Quốc tên Trịnh Quốc Anh từng kéo quân sang đánh Hà Tiên. Còn với chúng ta thì đúng Triệu Ðà là người Hán nhưng dân Nam Việt lúc đó hầu hết là người Việt, vì vậy không thể phủ nhận việc ông là vị vua đầu tiên của nước Nam Việt, ông vua khai sáng của Việt Nam chúng ta. Mặt khác, vợ ông là Trình thị người Ðường Thâm bộ Giao Chỉ (nay là Ðồng Xâm, Thái Bình) nên con ông, Trọng Thủy ít nhất có nửa phần máu Việt, còn cháu ông là Triệu Hồ cũng mang dòng máu Việt, đến Anh Tề, phần máu Việt cao hơn. Họ Triệu chẳng những có công khai sáng Nam Việt mà ngày càng gắn bó bằng tâm hồn bằng máu huyết với Tổ quốc mới của mình!

Chúng tôi, thế hệ sinh cùng Cách mạng tháng Tám, những ngày sau hòa bình lập lại 1954, học sử Việt Nam, được dạy Triệu Ðà là ông vua khai sáng nước Việt. Nhưng ít năm sau, Triệu Ðà trở thành tên xâm lược, bị lên án trong sách sử. Ðường phố mang tên ông bị đổi tên, đền thờ ông ở Ðồng Xâm, ngôi đền lớn và đẹp vào loại nhất ở Bắc Bộ bị trưng dụng làm kho chứa thóc, hư hại cùng năm tháng. Gần đây lễ hội đền Ðồng Xâm được mở lại nhưng đó là lễ hội ông tổ nghề chạm bạc! Có một nỗi bất bình âm thầm trong lòng người chưa được giải tỏa.

Một câu hỏi cần phải trả lời gấp: Triệu Ðà ông là ai? Người Tàu không nhận ông là Tàu vì ông là Nam Việt hiệu úy. Còn với người Việt ông bị coi là giặc Tầu xâm lược! Vậy ông là ai?!

Ruột bỏ ra da ôm lấy từng là nỗi đau của bao người. Mồ cha không khóc lại khóc đống mối từng là bi kịch của không ít gia đình, dòng họ... Nhưng vì những lầm lẫn mà chối bỏ người khai sáng quốc gia, chối bỏ cả thời đại quan trọng trong lịch sử lại là nỗi đau, nỗi nhục của cả một dân tộc! Ðã đến lúc vụ án Triệu Ðà-Trọng Thủy phải được tính lại.  

Thục Phán là ai?

Sách Toàn thư chỉ nói: "Vua họ Thục, húy là Phán, người Ba Thục." Do quá vắn tắt nên gây thắc mắc trong hậu thế. Vì vậy khi dịch sách, người dịch Toàn thư có chú thích ở cuối trang 6 như sau: "Sách Cương mục tân biên nhận xét: "Nước Thục từ năm thứ 5 đời Thuận Tĩnh vương nhà Chu (316 TCN) đã bị nước Tần diệt rồi, làm gì có vua nữa? Huống chi từ Thục đến Văn Lang còn có đất Kiện Vi (nay thuộc Vân Nam), đất Dạ Lang, Cùng, Túc...cách nhau hàng hai ba ngàn dặm có lẽ nào Thục vượt qua được các nước ấy mà sang đánh Văn Lang?... Hoặc giả ngoài cõi Tây Bắc giáp với nước Văn Lang còn có họ Thục khác mà sử cũ (Toàn thư) nhận là Thục vương chăng? (CMTB tr.9) Hiện nay có nhiều giả thuyết về nguồn gốc của Thục Phán, trong đó có thuyết coi vua Thục là thủ lĩnh của người Âu Việt (hay Tây Âu) ở phía Bắc nước Văn Lang mà trung tâm là vùng Cao Bằng."

Như vậy, nhân thân của Thục Phán vẫn mù mờ. Ðể phần nào soi tỏ vấn đề này, xin dẫn ra ở đây khảo cứu của học giả Nguyễn Ðăng Thục:

Theo "Hoa dương Quốc chí" q.3 Thục chí: "Vua Vũ nhà Chu đánh vua Trụ cùng với nước Thục. Ðất Thục phía Ðông liền với nước Ba, phía Nam giáp với nước Việt, phía Bắc phân giới với nước Tần, phía Tây gồm núi Nga và núi Phồn, đất ấy xưng là Thiên phủ. Nước Thục giao thông với bên ngoài rất phát đạt. Sự giao thông ấy lấy Ðiền (Vân nam), và đất Kiềm làm chủ yếu, mà sự mở mang đất Vân nam lại hướng vào nước Thục làm trọng tâm để buôn bán mậu dịch. Vân nam với Bắc Việt liền tiếp với nhau, từ thời cổ xưa hai miền giao thông rất thịnh, cho nên thời cổ sự giao thông giữa Tứ xuyên với Bắc Việt chắc chắn là tấp nập. Bấy giờ miền hạ lưu sông Trường giang chưa có ảnh hưởng khai hóa của Hán tộc, mãi đến thời Chiến quốc, dân mà người Hán gọi là Man di phía Tây trong vùng Tứ Xuyên-Bắc Việt, và Tây nam di ở Ðiền, Kiềm (Vân nam, Quý châu ngày nay), nước Tần, nước Sở đang đua tranh vũ lực để thôn tính, kết quả là vua nước Sở Trang Kiêu làm vua Ðiền (Vân nam) nước Tần chiếm lấy nước Ba, nước Thục, nước Kiềm tức Quý châu. Theo Hoa dương Quốc chí q.1 Ba chí viết: "Chu Thuận (Thuyến) làm vua 5 năm (316 tr.T.c) vua nước Thục đánh chúa Tư, chúa Tư chạy vào nước Ba, nước Ba xin nước Tần cứu. Vua Tần Huệ Văn sai Trương Nghi, Tư Mã Thác đi cứu nước Tư, Ba, bèn đánh nước Thục mà diệt đi. Từ Chu Thuận Tĩnh làm vua 5 năm (316 tr. Tây nguyên) nước Thục mất về nước Tần, cho đến Chu Báo làm vua 58 năm (257 tr. Tây nguyên) An Dương Vương là Thục Phán xưng vua ở Việt nam, thời gian cách nhau là 59 năm. Trong khoảng thời gian ấy, người dân nước Thục chịu sự áp bách của thế lực quân sự nhà Tần, tập đoàn chống đối quân Tần dần dần đi xuống phương Nam, đi vào Bắc bộ Việt nam, cùng với vua Hùng Vương nước Văn lang đánh nhau tranh dành. Lúc đầu vì thế lực còn yếu, luôn luôn bị thua, mãi sau mới chinh phục được Văn lang. Và việc An Dương Vương từ nước Thục đi vào nước Việt thì sách sử xưa của Tầu và Việt đều không ghi chép lịch trình tiến triển, nhưng cuộc chiến tranh giữa nước Tần và nước Thục có thể tìm thấy dấu vết ở cuộc thiên di về phương Nam của tập đoàn vương thất nước Thục chống đối với nhà Tần.

Hoa dương Quốc chí q.3 mục Thục chí viết: Chu Thuận Tĩnh làm vua 5 năm, quan đại phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Ðô úy Mặc cùng theo đường Thạch ngưu đánh nước Thục. Vua nước Thục từ đất Hạ Manh chống cự, thất bại, vua chạy trốn đến đất Vũ dương bị quân Tần giết hại. Tướng phó cùng thái tử rút lui về Bàng hương chết ở dưới núi Bạch lộc, họ Khai minh mới hết, làm vua nước Thục 22 đời. Lã Sĩ Bằng trong "Bắc thuộc thời kỳ đích Việt nam" suy diễn sự kiện trên đây như sau:

"Xét việc vua Thục bị ở đất Vũ dương, ngày nay là Bái sơn, vị trí ở phía Nam Thành đô, trên bờ sông Manh khoảng giữa đến như Bàng hương núi Bạch lộc ngày nay ở đâu thì không thể tìm xét, chỉ nên hiểu là ở phía Nam núi Bành, thế nhân vì quân Tần từ phía Bắc xuống miền Nam, tập đoàn người Thục chống đối quân Tần bị thua mà hướng phương Nam để thoái lui vậy. Từ đấy về sau 59 năm có lịch sử đích thực là vua Thục Phán làm vua Việt. Chúng ta có thể suy định rằng vua Thục bị hại ở Vũ dương, quan tướng, phó, thái tử đều chết ở núi Bạch lộc, sau đấy đảng vua Thục còn lại mới suy tôn con hay cháu nhà vua lên tiếp tục chạy về phương Nam, theo hạ lưu sông Manh tiến vào khu đất tiếp giáp giữa Quý châu và Vân nam thuộc phạm vi thế lực người Sở.

Nhưng khu đất giao tiếp giữa Quý châu (Kiềm) và Vân nam (Ðiền) thời Hán là Trường kha là đất thủy lão nghèo nàn. Thục vốn là nước Thiên phủ, người Thục khó ở lâu tại đất ấy được, vả lại thế lực quân Tần đang rất mạnh, dòng dõi vua Thục hết hy vọng khôi phục lại đất cũ mới tìm phát triển về phương nam tiến vào đất bình Hùng Vương tranh chiến, nhiều phen thất bại đến đời Chu Bảo vương 518 (257 Tr. C.N) mới chinh phục được Văn lang"(24)

Những chứng cứ vừa dẫn khiến ta hiểu đúng ý của sách Toàn thư: Thục Phán chính là người nước Thục. Việc coi ông là thủ lĩnh bộ lạc người Việt cát cứ ở vùng Cao Bằng là suy đoán không sở cứ. Nhưng điều này cũng không phải không có nguyên cớ: người Thục đã tiến xuống Văn Lang từ mạn Cao Bằng. Ta hãy ghé nhìn vào lịch sử của đất nước từng oanh liệt một thời này:

Theo sử Trung Quốc thì nước Thục được thành lập vào năm 1122 tới năm 122 TCN bị Tần diệt. Năm 1986 người ta tìm được ở Ðồi Ba Sao (Sanxingdui) tỉnh Tứ Xuyên hơn 800 hiện vật trong đó có nhiều đầu người và mặt nạ tuyệt xảo bằng đồng, nổi bật là bức tượng đồng to bằng người thật, cao 1,72 m. Tượng có mắt to và xếch, mũi lớn, lông mày rậm, miệng thật rộng, không thuộc chân dung điển hình của người Hán. Trống đồng nước Thục không mang sắc thái Trung Quốc. Giới khảo cổ Trung Quốc gọi là cổ vật thuộc nhóm dân Ba Thục và xếp chúng vào thời kỳ cuối đời Thương. Tuy nhiên người ta biết rằng nước Thục có từ khoảng 4700 năm trước, sớm hơn đời Thương 1000 năm. Giới khảo cổ cũng phát hiện ở Tây Nam Thành Ðô ngôi đền thuộc cùng nền văn hóa, có tuổi từ 3000 đến 4700 năm trước. Chủ nhân nước Thục là dân cư nông nghiệp, trồng lúa, đánh cá, ở nhà sàn, sử dụng những loại rìu có vai là công cụ đặc trưng của Văn hóa Hòa Bình. Có nhiều khả năng họ là nhóm Tây Âu hay Âu Việt trong cộng đồng Indonesien Bách Việt, sau này chuyển hóa thành nhóm loại hình Ðông Nam Á.

Trong 59 năm sau trận Vũ Dương thì Thục Phán là đời thứ 3, là cháu đích tôn của ông vua được quần thần dựng lên trong những ngày gian nan trốn chạy quân Tần. Cha của Thục Phán là Thục Chế nhiều phen đem quân đánh vua Hùng nhưng thất bại. Ở tuổi 20, chàng trai trẻ Âu Việt đã hoàn thành sự nghiệp của ông cha mình. Ðó quả là người anh hùng làm rạng danh tổ tiên.  

Về pho tượng nàng Mỵ Châu cụt đầu

Nghe nói trong khu di tích Cổ Loa có pho tượng người đàn bà cụt đầu mà người ta bảo là tượng nàng Mỵ Châu, chúng tôi không tin vì những lý do sau:

1/ Truyền thuyết Mỵ Châu-Trọng Thủy ghi : Khi nghe thần nói giặc ở sau lưng, nhà vua quay lại thì hiểu ra tất cả, ngài rút gươm chém chết con gái. Máu nàng Mỵ Châu tan vào biển, những con sò... (Ðại Việt sử ký toàn thư). Như vậy là truyện chỉ ghi nhà vua chém chết con gái mà không có nhân chứng vật chứng nào xác quyết chém đứt đầu. Vì vậy người ta không thể xuyên tạc truyền thuyết để làm ra bức tượng!

2/ Chúng tôi không tin là An Dương Vương lúc đó ở tuổi ngoài 70 lại làm một việc bất nhân là chặt đứt đầu con gái vì theo đạo lý, dù phải tội chết đến trăm lần đi nữa thì với trái tim người cha nhân từ, cũng phải cho con được chết toàn thây!

3/ Giả như việc chém đầu là có thật thì chúng tôi cũng không tin là ông cha ta vốn xưng con dân một nước văn hiến, nhân bản lại chọn một hình ảnh bi thảm, ghê rợn nhất trong câu chuyện dựng thành tượng!

Nhưng mới đây xem báo Văn nghệ số 35-36 ra tháng 9 năm 2004 thấy bức ảnh Nhà thơ Rumani Ana đến thăm đền thờ Mỵ Châu tại di tích Cổ Loa trong đó có tượng nàng Mỵ Châu bị cụt đầu tôi bỗng rùng mình kinh hãi! Sau cơn choáng váng, tĩnh trí lại chúng tôi tự hỏi: Tượng Mỵ Châu cụt đầu thể hiện những ý nghĩa gì? Bức tượng cho thấy:

1/ An Dương Vương là ông vua bất nhân bất trí. Họa mất nước chính ông gây nên nhưng lại đổ lỗi cho con gái. Cha giết con đã là vô đạo. Nhưng giết bằng cách chặt đầu thì quả là quá bất nhân!

2/ Người phương Tây có câu nói Không được đánh phụ nữ dù bằng một cành hoa! Trong khi ở ta cha chặt đầu con gái, một việc đại ác lại được tạc thành tượng thờ! Hành động tàn bạo trên đời không kể xiết nhưng chắc chắn không thể tìm thấy trên thế giới này có bức tượng thứ hai kinh dị thế! Thật buồn khi chúng ta khoe điều không tốt đẹp ấy với khách, một nữ sĩ nước ngoài! Thử hỏi khách sẽ nghĩ gì về dân tộc ta?

3/ Tượng không chỉ để thờ mà tượng còn là tác phẩm nghệ thuật. Ðặc trưng của tác phẩm nghệ thuật là đẹp và thiện. Bức tượng này không thể hiện cái đẹp, cái thiện nhưng là vật thờ linh thiêng.

Bức tượng chứng tỏ sự kém cỏi về óc thẩm mỹ cùng đức thiện của cha ông ta- những người tạc tượng và chúng ta- những người ngày nay tôn thờ chiêm ngưỡng tượng!

Ðấy là suy nghĩ ban đầu của chúng tôi. Nhưng khi tìm hiểu kỹ hơn thì thấy sự việc có khác: Cái được gọi là tượng Mỵ Châu thực ra chỉ là khối đá lớn, hình thù kỳ dị như người cụt đầu. Truyện kể rằng: "Mỵ Châu chết hóa thành hòn đá trôi ngược sông về thành Cổ Loa, báo mộng cho dân ra rước về. Rước đến gốc đa thì đá rơi xuống, dân lập am thờ ở đó." Thật may là đã không có ai tạc pho tượng này. Người ta biến một hòn đá ngẫu nhiên thành vật thờ. Lại một một môtip kiểu thần Man Nương chùa Pháp Vân! Một sự việc hoàn toàn mang tính tự phát. Việc làm này trái ngược với truyền thuyết Mỵ Châu-Trọng Thủy. Truyền thuyết nói rằng Trọng Thủy đem Mỵ Châu về chôn ở Cổ Loa. Và thực tế xác nhận: hiện ở Cổ Loa có mộ Mỵ Châu. Một người chết đã có mồ yên mả đẹp thì việc biến thành hòn đá trôi ngược sông về Cổ Loa là vô lý, bịa đặt không thuyết phục. Như vậy tượng cụt đầu được tạo ra không do một cơ sở vững chắc nào mà xuất phát từ lòng tin dị đoan vận vào một vật xuất hiện ngẫu nhiên. Có thể những người biến hòn đá thành tượng Mỵ Châu hiểu ý nghĩa của truyền thuyết Mỵ Châu-Trọng Thủy như một lời răn cảnh giác trước họa mất nước...Suy nghĩ đó tuy đúng nhưng chỉ là một mặt của truyền thuyết. Truyền thuyết có ý nghĩa rộng lớn hơn, sâu sắc minh triết hơn. Ngay cả cái ý Trái tim lầm chỗ để trên đầu nói về Mỵ Châu theo chúng tôi cũng chưa phải thấu nhân tình! Trái tim yêu muôn đời chỉ đập trong ngực. Với cái chết oan nghiệt của mình, đôi trẻ đã trả xong món nợ! Thông điệp của truyền thuyết nói rõ: Các con sò ăn phải máu Mỵ Châu hóa ngọc. Ngọc được rửa bằng nước giếng Trọng Thủy trầm mình thì sáng ra! Minh triết dân tộc đã tha thứ cho đôi trẻ, đã trả lại chất ngọc sáng trong tinh khiết của tình yêu! Ðấy mới chính là bản sắc văn hóa Âu Lạc! Do trình độ còn hạn chế, những người dựng tượng cụt đầu không hiểu được ý nghĩa nhân bản sâu xa, minh triết của truyền thuyết nên đã dựng một pho tượng không phản ánh đúng bản chất của truyền thuyết cũng có nghĩa là không phản ánh đúng bản chất dân tộc! Mỵ Châu có thể có tội trong việc làm mất ngôi vua của cha mình nhưng là người có công lớn với dân với nước Việt! Dựng một bức tượng như thế khác nào giết oan nàng thêm lần nữa! Khách đến thăm không ít người thấy bất ổn trước pho tượng nhưng vì sợ cái bóng tâm linh nên đành nhắm mắt cho qua! Phải chăng người Việt chúng ta sính tượng nên cái gì cũng muốn cụ thể hóa, vật chất hóa, tượng hóa? Nhưng rồi do bất tài lại ít tiền nên không ít bức tượng trở thành trò cuời, thành nỗi đau! Những bức tượng thô thiển làm nghèo đi, làm tầm thường đi trí tưởng tượng phong phú của con người! Tượng đàn bà cụt đầu là một trong số đó. Bức tượng tồn tại hơn trăm năm nhưng lẽ nào khi kiểm kê hiện vật trong khu di tích người ta không nhận ra? Ðiều này không lạ, vì như một bài viết trên báo Văn nghệ cách đây mấy năm, phát hiện ngay tại Ðền Ngọc Sơn giữa Thủ đô văn vật có nhiều câu đối bị viết sai hoặc đặt trái vế nhưng không được sửa!

Ðể thiết thực kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, chúng tôi xin đề nghị: Ðưa pho tượng người đàn bà cụt đầu ra khỏi đền thờ Mỵ Châu! Bức tượng xa lạ với bản chất dân tộc, phản giáo dục về thẩm mỹ và đạo đức, làm méo mó hình ảnh dân tộc trước bạn bè. Việc này không dễ vì đụng đến thói quen hàng trăm năm. Khi chưa làm được, xin rằng đừng ai đem khoe bức tượng, nhất là với bạn bè quốc tế!  



CÒN TIẾP ...




© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ VÀ NEWVIETART .



TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ TRUYỆN NGẮN NHẬN ĐỊNH