TÁC GIẢ
TÁC PHẨM
. Sinh năm 1946.
. Tại Yên Thái, nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ- Hà Nội.
. Năm 1966, ông bắt đầu có tác phẩm in trên báo với bút danh Vũ Liên Châu, nhưng năm 1969 thì nghỉ viết vì nhiều lý do.
. Năm 1994, ông viết trở lại với nhiều bút danh: Vũ Mai Hoa Sơn, An Thái, An Thọ, Vũ Ngọc Tiến… Các tác phẩm ký, phóng sự, điều tra, truyện ngắn, phê bình tiểu luận đăng nhiều trên các báo ở TW, HN, Tp HCM (Văn Nghệ, Văn Nghệ Trẻ, Người Hà Nội, Văn Sài Gòn, Tia Sáng, Tuần Tin Tức…).và khoảng gần 100 kịch bản, lời bình cho các phim tài liệu truyền hình. Có một thời gian ông làm Thư Ký Tòa Soạn cho tạp chí Thế Giới Vi Tính- PCWorld Việt Nam Sêries B (Chính sách và ứng dụng CNTT).
* GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC , BÁO CHÍ :
- Giải thưởng ở 2 cuộc thi Ký- Phóng sự do báo Văn Nghệ và Hội Nhà Văn tổ chức năm 1996- 1997 & 2002- 2003
- Nhiều Giải thưởng báo chí khác ở TW và địa phương
* TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :
- Cố nhân Tập truyện ngắn (NXB Hà Nội, 1997)
- Mười hai con giáp Tập truyện ngắn (NXB Hà Nội, 1998)
- Tội ác và sám hối Tập truyện ngắn (NXB Công an nhân dân, 1999)
- Những truyện ngắn về tình yêu (NXB Thanh Niên, 2001)
- Khói mây Yên Tử Tiểu thuyết lịch sử (NXB Văn hoá thông tin, 2001; NXB Kim Đồng tái bản 2002)
- Quân sư Đào Duy Từ Tiểu thuyết lịch sử (NXB Kim Đồng, 2002)
- Giao Châu tụ nghĩa Tiểu thuyết lịch sử (NXB Kim Đồng, 2002)
- Câu lạc bộ các tỷ phú Ký và phê bình, tiểu luận (NXB Hội nhà văn, 2002)
|
VÀI SUY NGHĨ VỀ NHỮNG TRÀO LƯU TIỂU THUYẾT THẾ KỶ XX
(Trích lá thư gửi GS Hoàng Ngọc Hiến)
Thưa thầy kính mến,
Em đã đọc kỹ bài “Chủ nghĩa cổ điển mới…” của thầy gửi tặng em (Triết lý văn hóa và triết luận văn chương- Nxb Giáo dục 2006) . Nó làm em nhớ lại cảm xúc của mình cách đây 7- 8 năm khi đọc cuốn “Từ điển lịch sử văn hóa thế kỷ XX” (La culture du XX siecle “Dictionnaire d'histoire culturelle” - Paris Bordas, 1995) của Michel Fragonard. Trong cuốn sách đồ sộ dày 1.342 trang, do Nxb Chính trị quốc gia dịch (hơi bị kém) năm 1999 này, chỉ với 169 mục từ, tác giả đã trình bày đầy đủ mọi trào lưu, chủ nghĩa, trường phái ở tất cả các lĩnh vực văn hóa- nghệ thuật (hội họa, kiến trúc, điện ảnh, văn học, triết học, lịch sử…) thế giới suốt thế kỷ XX khá sâu sắc và thỏa đáng.
Theo tinh thần em lĩnh hội một cách say sưa, thích thú từ cuốn sách ấy, trong lĩnh vực văn học, xét riêng về tiểu thuyết (truyện ngắn, vừa, dài) thì những trào lưu (trường phái, chủ nghĩa) có thể tạm chia ra: nửa đầu thế kỷ XX chủ yếu là những cách tân, biến cải về nội dung; còn sang nửa cuối thế kỷ XX lại chủ yếu là cách tân hình thức thể hiện, cách viết, cách kể. Nửa đầu thế kỷ XX, đặc biệt là hai thập niên đầu, tiểu thuyết thế giới vẫn chỉ là sự tiếp biến của chủ nghĩa hiện thực và nhân văn cổ điển từ thế kỷ XIX với hình thức thể hiện chủ đạo là hư cấu nhân vật- sự kiện, miêu tả, tự sự trong sự cách tân nhẹ nhàng, uyển chuyển làm nên phong cách của mỗi nhà văn lớn mà thôi. Mọi sự cách tân hình thức trong văn học lúc này chủ yếu là với thơ mà sự xuất hiện của chủ nghĩa Đađa, Siêu thực, Ấn tượng, Tiền phong… rầm rộ ở Pháp, xét cho cùng là chịu ảnh hưởng cách tân trong hội họa. Nhưng do tác động của xã hội công nghiệp, nhu cầu thẩm mỹ của đông đảo các tầng lớp trong xã hội tiểu thuyết có sự phân nhánh rõ rệt về nội dung, một mặt nở rộ dòng văn học bình dân (tiểu thuyết đen, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết ba xu…); một mặt khác, dòng văn học cao cấp (hàn lâm) cũng mở rộng đề tài và đối tượng miêu tả. Giữa 2 cuộc thế chiến (1914- 1918 và 1939- 1945) là giai đọan hoàng kim của tiểu thuyết thế giới với hàng lọat những tác phẩm lớn, tên tuổi lớn. Về mặt hình thức, tiểu thuyết vẫn không có nhiều cách tân đáng kể, nhưng về nội dung lại là thời kỳ biến đổi sâu sắc. Do tác động của chính trị, xuất hiện chủ nghĩa hiện thực XHCN ở Liên Xô (Jdanov- Đại hội các nhà văn Xô Viết- 1930) ; còn ở phương Tây thì chủ nghĩa hiện thực và nhân văn cổ điển có sự chuyển hướng, thấm đẫm tinh thần hoài nghi về sự hiện sinh của mỗi kiếp người. Dòng văn học hiện sinh chủ nghĩa nhờ thế có một địa vị quan trọng, chiếm nhiều giải thưởng và nó còn tiếp tục phát triển đến tận cuối thập niên 70. Cái may mắn cho nền tiểu thuyết non trẻ của Việt Nam là nó vừa mới xuất hiện vài năm đã hòa nhập ngay vào giai đọan cực thịnh của tiểu thuyết thế giới, giữa hai cuộc thế chiến nên cũng xuất hiện ngay nhiều tên tuổi lớn (Khái Hưng, Nhất Linh, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan… Sau này ở miền Nam em rất thích thú truyện ngắn “Ba con cáo” của Bình Nguyên Lộc).
Em chỉ nói qua, rất sơ lược và đại thể về tiểu thuyết thế giới nửa đầu thế kỷ XX. Mọi trào lưu lớn về sự cách tân triệt để hình thức thể hiện, cách viết, cách kể… làm nên những cuộc “cách mạng”, xu thế khó cưỡng trong tiểu thuyết thì theo cuốn sách em vừa nêu, thảy đều tập trung ở nửa cuối thế kỷ XX, do tác động sâu sắc của xã hội kỹ trị phương Tây và chịu sự ảnh hưởng lớn của trào lưu cách tân trong hội họa, điện ảnh, âm nhạc mà nảy sinh, phát triển. Mở đầu cuộc công kích vào nghệ thuật hư cấu, miêu tả, tự sự của chủ nghĩa hiện thực và nhân văn cổ điển trong tiểu thuyết là trào lưu tiểu thuyết mới, xuất hiện vào những năm 50- 60. Các tác phẩm viết theo nghệ thuật cách tân ra đời đã nhanh chóng nổi tiếng, nhận được giải thưởng lớn. Thật ra, ngay từ 1939 với sự ra đời cuốn “Định hướng” và năm 1948 với cuốn “Chân dung một người xa lạ” của Nathalie Sarraute đã bắt đầu manh nha báo hiệu trào lưu tiểu thuyết mới. Tiếp theo đó là những tác giả và tác phẩm nổi tiếng: Claude Simon với ‘Kẻ gian lận” (1946), ‘Gió” (1957), ‘Cỏ” (1958), đặc biệt là “Trận Pharsale” (1969) – Marguerite Duras với “Những chú ngựa non của Tarquinia” (1953) và “Viên phó lãnh sự” (1966) – Claude Mauriac với “Mọi phụ nữ đều hút hồn” (1957) và “Hầu tước phu nhân ra đi lúc 5 giờ” (1961)… Các công trình lý luận thật sự có tiếng vang lớn là: “Kỷ nguyên của nghi ngờ” của Nathalie Sarraute năm 1956, “Một con đường cho tiểu thuyết tương lai” của Alain Robbe năm 1956, “Tiểu luận về tiểu thuyết” của Michel Butor năm 1969 và đặc biệt là cuốn “Những vấn đề của tiểu thuyết mới”của Jean Ricardou năm 1967… Từ trong bản chất, những khởi xướng cách tân nghệ thuật của trào lưu tiểu thuyết mới là sự kế tục phong trào phê phán ảo tưởng hiện thực chủ nghĩa và ảo tưởng miêu tả đã có từ cuối thế kỷ XIX của Dostoievski và Flaubert rồi tiếp nối về sau là các thể nghiệm minh họa của Joyce, Kafka, Faulkner, nhất là Beckett. (Từ hồi nhỏ em đã rất mê cách viết độc thoại nội tâm cuốn hút đến kỳ lạ của Joyce và Faulkner) . Nét độc đảo của những người theo trào lưu tiểu thuyết mới là sự kết hợp biện chứng giữa việc tạo dựng hư cấu với việc suy tư lý luận về bút pháp tiểu thuyết. Trong tiểu thuyết mới, nhân vật có lúc bị triệt tiêu, quy giản về con người vô danh mà thể tồn tại là tiếng nói, nhìn ngắm, những dạng đối thoại ngầm…Và bản thân việc tự sự đơn tuyến cũng bị phá vỡ, hàng lọat ngoại đề ngẫu nhiên của ký ức hay hoang tưởng, sự giao cắt các mạch tự sự đồng thời hoặc cắt đứt rất đột ngột để cùng gợi lại hình tượng… làm ta liên tưởng người viết có cái gì giống như đang sử dụng các công đọan làm phim vậy. Những cách viết như trên của tiểu thuyết mới đã gây nên cơn chấn động văn đàn thế giới. Roland Barthes đề cao Robbe- Grillet tới mức suy tôn là ‘Copernic” của tiểu thuyết đương đại. J.Sartre khi viết lời tựa cho cuốn “Chân dung một người xa lạ” của Nathalie Sarraute đã ngẫu hứng đưa ra một thuật ngữ gây nhiều tranh cãi là “Phản tiểu thuyết” (antiroman). Tuy nhiên trào lưu tiểu thuyết mới cũng không tồn tại được lâu, chỉ trong 2 thập niên, đến cuối những năm 60 thì chìm mờ dần. Công chúng lảng xa nó để quay trở về với các tiểu thuyết gia truyền thống.
Chủ nghĩa hậu hiện đại theo em hiểu thì có thuật ngữ này chẳng qua vì nó sinh ra sau tiểu thuyết mới (hiện đại). Có điều, nhiều người nghiên cứu về nó ở Việt Nam ta dường như quên mất rằng chủ nghĩa hậu hiện đại trong tiểu thuyết chịu ảnh hưởng sâu sắc sự cách tân trong kiến trúc mà thành. Và vì thế, sự cách tân nghệ thuật tiểu thuyết những năm 60- 70 thế kỷ XX cũng mang nhiều nét đặc thù của cách tân kiến trúc. Thời đó, hậu hiện đại trong kiến trúc nảy sinh từ ý đồ chống lại chủ nghĩa chức năng của kiến trúc hiện đại đã biến thành xơ cứng trong “phong cách quốc tế” bởi lẽ các tòa nhà tháp và các quần thể công trình đồ sộ đều mang dáng vẻ đơn điệu, phi nhân tính buộc người ta phải quay lại với ý thức quan tâm đến môi trường, đến lịch sử và văn hóa vùng miền. Các kiến trúc sư tài năng như Charles Moore (Mỹ), Paolo Portoghesi (Ý), Ricardo Bofil (Tây Ban Nha) muốn nhân danh quyền tự do sáng tác để phục hồi vai trò của tinh thần phóng khoáng, ngẫu hứng, ý vị của đường net nhằm vừa lòng con người, đề cao ý nghĩa quan trọng của trang trí ngoại cảnh…Thái độ ấy trong kiến trúc đã khiến họ trở về chủ nghĩa chiết trung để hỗn hợp các phong cách, thủ pháp thể hiện kiến trúc bằng vay mượn từ nhiều thời đại lịch sử, đương nhiên có phần sáng tạo của thời đại kỹ trị bây giờ. Cũng như vậy trong lĩnh vực tiểu thuyết, tiếp theo trào lưu tiểu thuyết mới đang bị phai mờ thì hậu hiện đại trong tiểu thuyết xét cho cùng vẫn là trở lại với hư cấu, tự sự để nhân danh “tạo ra lạc thú khi đọc văn”, chỉ có điều nó không quay về với ảo tưởng hiện thực chủ nghĩa và nhân văn chủ nghĩa thuần chất thế kỷ XIX mà các nhà tiểu thuyết mới đã từng phá hủy tận nền móng nữa. Bây giờ cách hư cấu lại được cách tân bằng kêu gọi độc giả tự khẳng định bản sắc cảm xúc của mình, tự tác động vào năng lực bản thân để giữ một độ gián cách với văn bản tiểu thuyết, khách quan hóa, nhất là dựa vào tính chất liên văn bản tới mức có thể tham gia phóng tác nó. Tác phẩm “Nếu đêm đông có một lữ khách” của Italo Calvins là biểu hiện đặc trưng cho mối liên hệ “tác giả- độc giả- hư cấu”. Những tác phẩm nổi tiếng của tác giả J.L.Borges (mà thầy nhắc đến nhiều lần trong bài viết thư hai gửi em) : “Tên của hoa hồng”, “Con lắc Foucault”… cùng toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông chính là ví dụ điển hình của tiểu thuyết hậu hiện đại, ở đó văn bản chẳng qua chỉ là một mớ các ký hiệu và rồi chính nó cũng lại sản sinh ra hàng loạt ký hiệu khác. Có một điều chủ nghĩa hậu hiện đại khẳng định mình trong thập niên 70 thì cũng chính là lúc phong trào hiện sinh, chủ nghĩa dấn thân ở mọi lĩnh vực âm nhạc, hội họa, văn chương đều bước vào thời kỳ khủng hoảng trầm trọng. Phải chăng vì thế, các tác gia hậu hiện đại say mê với thuyết phi kiến tạo, kiên quyết chối bỏ mọi ý nghĩa chính trị- xã hôi của tác phẩm… Tóm lại em chỉ hứng thú với một số cách tân nghệ thuật mới lạ, trong một vài tác phẩm cụ thể của trào lưu tiểu thuyết này, còn xét toàn bộ, nó không hoàn toàn phù hợp với tạng bút của riêng em. (Song vẫn có thể hợp với tạng bút của người khác là lẽ bình thường). Nhìn lại sự ra đời và tồn tại của hai trào lưu tuểu thuyết thế giới, em thấy nó dù ngăn ngủi (mỗi trào lưu 2 thập niên thôi) , nhưng đã đủ sực khấy động văn đàn khắp thế giới và nay lại đang tiếp tục khấy động cái ao tù văn học xứ An Nam ta. Sang thế kỷ mới, văn chương Việt Nam phải nở rộ nhiều trào lưu, trường phái khác nhau thì mới nhớn lên được. Cho dù các nhóm thơ bây giờ (nhóm mở miệng, nhóm phi thời tiết, nhóm tân hình thức, nhóm khoan cắt bê tông, nhóm Hải Phòng…) hoặc các cây bút tiểu thuyết cấp tiến đang có những cách tân chưa được thành công lắm thì họ vẫn làm được một việc tiên phong cho sự phá cách. Nói như bạn em- nhà thơ Dư Thị Hoàn thì cứ để cho lũ trẻ nó đập phá đi rồi ta cùng xây cũng tốt, con hơn trùm chăn mà đợi. Hà cớ gì ta phải nhao nhao phản đối, thậm chí có những thế lực học phiệt nỡ tâm muốn bài trừ nó tận gốc, lăng mạ nó? Hãy cứ để nó tự do bung nở hết cỡ rồi tự nó sẽ điều chỉnh lại, công chúng theo thời gian sẽ công bằng lựa chọn việc chấp nhận hay đào thải. Ví như hai trào lưu tiểu thuyết em vừa nói ở trên, dù đã biến khỏi văn đàn rồi thì phần tinh túy của hai trào lưu ấy là tinh thần dấn thân, triết lý hoài nghi về hiện sinh những kiếp người… (nội dung) và cái cách kể không cốt truyện, cách tác giả và độc giả cùng hư cấu, tự sự bằng độc thoại nội tâm hay tự sự đan xen, gián cách…(hình thức) vẫn đang tồn tại, góp phần cho sự phát triển văn học Việt Nam hôm nay. Riêng em thiết nghĩ, cách tân là cần thiết. Ở xứ An Nam ta, nửa thế kỷ văn học sa lầy trong lối viết quan phương, phải đạo thì lại càng cần thiết. Nhưng cách xong rồi thì cái tân còn lại phải là của mình và mình lại sống giữa nhân dân mình, ở thời khắc lịch sử nhiều biến động và sự nhức nhối này thì em thích “cách” cái nội dung trước đã, còn tùy theo tạng bút, chủ đề mà “cách” tiếp cái hình thức mới là phù hợp với trường hợp của riêng em..
Lại nói về “chủ nghĩa cổ điển mới…” mà thầy đề cập trong bài viết thứ 2 và tập sách tặng em. Thú thật, em chưa có điều kiện tìm hiểu nó, nhưng chắc chắn rằng, sang thế kỷ XXI tất yếu có sự đan xen, tương tác, tương sinh giữa văn học, toán học, vật lý và cả những lý thuyết kinh tế nữa. Gần đây em có đọc cuốn “Mục tiêu” của Ellyahu.M.Goldratt và Jeff Cox rất hay và lạ. Nó thuộc loại “tiểu thuyết giáo trình” mới xuất hiện ở Mỹ. Toàn bộ nội dung tiểu thuyết hóa ra là trình bày (giảng lại) lý thuyết kinh tế của Jonah- giải thưởng Nobel về kinh tế mà vẫn hấp dẫn người đọc. (Em đã viết một bài khá lý thú về cuốn này cho 1 tờ báo ở Tp HCM hồi năm ngoái.)
Thưa thầy kính mến,
Em mạo muội bàn qua về tiểu thuyết với thầy chỉ để mong thầy hiểu rằng, em cuối cùng vẫn muốn quay về chủ nghĩa cổ điển, chỉ cố tìm hiểu, tự làm mới mình bằng tất cả những thủ pháp cách tân nội dung và hình thức của thế giới (chủ yếu là nhóm tác gia Tiểu thuyết mới những năm 50- 60 thế kỷ trước ở Pháp và dòng văn học Hiện sinh) vào những trường hợp cụ thể khi chính cốt truyện, chủ đề, thậm chí là một chương trong tiểu thuyết hoặc một văn cảnh trong truyện ngắn của em phải cần đến nó mà thôi. Ở xứ An Nam ta, với mặt bằng dân trí và sự bần khổ này, văn em phải giản dị như cuộc đời vốn thế, như em đã trải và đã nghĩ, đã âm thầm ngồi viết bấy lâu, nhưng em vẫn sẽ nhiệt thành cổ động mọi sự cách tân của lớp trẻ, thầy ạ! Họ chính là những đám mây mang bão, làm bật gốc rễ mọi sự già nua, lạc hậu và cả sự mê muội nữa.
Kính chúc thầy mạnh khỏe! ■
Hà nội một đêm trở gió
© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ .
|