TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




. Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

. Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái
trong giấy tờ tuỳ thân 1936.

. Khởi sự viết văn cuối 1952.

. Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

. Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

. Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút - báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

. Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… -

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la banlieue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur - Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).





BÚT KÝ & TRUYỆN


THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 1/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E -mail 2/2

CHÀNG VĂN SĨ ĐẤT TỀ

ĐÊM DÀI TÌNH ÁI

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA -Chương 1 Kỳ 1

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 1 Kỳ 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 2/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3 tiếp theo

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 4

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 4

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 5

CON CHÓ LIÊM SỈ

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 6

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 5

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 7

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 8

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 9

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 10 - KẾT





BIÊN KHẢO


LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 1

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 2

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 3

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 4

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 5

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 6

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 7

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 8

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 9

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 10

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 11

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 12

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 13

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 14

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 15

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 16

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 17

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 18






















THAY LỜI DẪN

Lược Sử Văn Nghệ Việt Nam của nhà văn Thế Phong gồm 4 tập, đã được in 2 tập: Tập 1 NHÀ VĂN TIỀN CHIẾN 1930-1945, bản in ronéo đầu tiên ở Sài Gòn gồm 100 cuốn vào năm 1959. Bản tái bàn cuả NXB Vàng Son in 3000 cuốn ở SàiGòn vào năm 1974. Bià cuả họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi được chụp in lại trên đây , do một trong những NXB vô danh ở Mỹ in lậu ở California sau 1975 và Tập 4 : Tổng Luận đã chuyển ngữ A BRIEF GLIMPSE AT THE VIETNAMESE SCENE (from 1900 to 1956) và 2 tập 2 & 3 nói về văn nghệ kháng chiến, nhà văn hậu chiến 1900 - 1956 (văn nghệ quốc gia hay văn nghệ của VNCH) chưa bao giờ công bố trên văn đàn, mặc dù đã được lưu trữ tại một số thư viện TRONG NƯỚC (Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. HCM, Thư viện Khoa học Xã hội Tp.HCM) và NGOÀI NƯỚC như ở Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, Boston, Ithaca-New York, SIU, IOWA vv..hoặc ở Pháp, Đức, Úc..

Newvietart xin đăng tải lại một vài nhận định báo chí, văn giới về Lược Sử Văn Nghệ khi xuất bản lần đầu vào 1959 :

a) Tạp chí Bách Khoa:" ..Ông TPhong vừa cho ra một loạt phê bình văn học. Đó là ai nấy đều mong đợi, bởi vì sau một thời gian khá lâu chưa ai tiếp tay Vũ Ngọc Phan, chốc đà mười mấy năm trời' đúng một thời gian luân lạc cuả cô Kiều...."( số 56, năm 1959, TRIỀU ĐẨU)

b) Ông TP một văn nghệ sĩ thủ đô vừa viết xong và cho phát hành cuốn" Lược sử Văn Nghệ VN", trong đó tác giả phân tích các tác phẩm của văn nghệ sĩ ra đời từ 1930 đến 1945. Cuốn này được quay ronéo có bầy bán tại các hiệu sách. Sách này tác giả đã tốn nhiều công phu và sưu tầm khá nhiều tài liệu để biên soạn (nhật báo Ngôn Luận ngày 8/9/1959- Saigon).

c) ..." Điều thứ ba, sự phán đoán của anh hợp với ý tôi, phần nhiều các tác phẩm anh khen, thì tôi cũng nhận là có giá trị; những tác phẩm anh chê, thì tôi cũng không thích. các nhận xét cuả anh về Triều Sơn, Hoàng Thu Đông đều đúng cả. Đó là nhận xét của tôi; tôi phải phục sức đọc, sức viết, sức nhớ cuả anh. Cảm ơn anh một lần nữa.." (Nguyễn Hiến Lê, 12/3c Kỳ Đồng, Saigon 3- ngày 17/4/1959)

d) Nguyệt san Sinh Lực (1959, Chủ nhiệm: Võ văn Trưng- Saigon) :"...Hôm nay Thế Phong còn có thể ít nhiều nhầm lẫn-nhưng với khả năng rạt rào của tuổi trẻ, với lòng yêu văn nghệ đến đam mê, anh còn nhiều bước đi ngạc nhiên trên lãnh vực nà để đào xới lại mảnh đất hoang phê bình cảo luận bị bỏ quên trong nhiều năm. Sự cố gắng của Thế Phong là sự cố gắng hoàn toàn văn nghệ, cuả một người văn nghệ biết mỉm cười trong sự nghèo túng bản thân mình để hiến chiều dài cho văn học sử. Cũng có đôi khi ta thấy Thê Phong phê phán có vẻ độc tài và tàn nhẫn nữa; nhưng ta vẫn thấy rằng: đó là sự độc tài và tàn nhẫn không có tính cách tự cao, tự đại; hoặc dao to búa lớn; (trái lại) nhiều tinh thần thẩm mỹ, dĩ nhiên là có chủ quan. Ta quí sự nhận thức ấy- vì anh dám nói- cũng như người khác có dám cãi lại hay không là quyền của họ.." (Lê Công Tâm - Thanh Hữu, nhà văn).

e) Le Journal d'Extrême Orient (Saigon, 3 Décembre 1959)" Lược sử văn nghệ Việt nam-Hisotire de la littérature vietnamienne". Histoire sommaire de la littérature vietnamienne, òu l'auteur passe en revue les écrivains d'avant guerre 1930-1945. Cette oeuvre est tirée sur ronéo avec une tirage limitée. Fruit de minuitieuses recherches et d'une riche documentation donnée une vue d'ensemble des diverses époques et tendances des écrivains, des poètes du Vietnam, de leurs oeuvres, d'une littérature riche de plusieurs millénaires suivant le cours de l'Histoire. C'est une synthèse remarquablement coordonné annotée parle critique éminent qu'est ThếPhong qui l'achevée dans les derniers jours de Juin 1956

(đã in ở cuối sách "LSVNVN-Nhà văn tiền chiến 1930-1945 của ThếPhong, NXB Vàng Son Saigon 1974)...

Từ Vũ và Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những người muốn khách quan sưu tra sử liệu .





VÀI DÒNG TÂM SỰ NGƯỜI VIẾT SÁCH

T rước hết cảm ơn bậc đàn anh bước trước: Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh – Hoài Chân ... (chẳng là gần với tài liệu văn học tham khảo, cũng như so sánh).

Viết sách biên khảo hay phê bình, giá trị nhiều hay kém có thể nằm trong vài ý kiến dưới đây: Lập trường người viết phải có trước khi tìm kiếm tài liệu. Ấy là đã phải kể tới kiến thức, học và đọc; khả năng và tâm hồn văn nghệ nhạy cảm của người viết phê bình.

Lại cần kinh nghiệm, nhỡn quan nhìn, phải được chế biến theo lập luận người viết càng nhuyễn, sách càng phong phú. Không thể coi sách tương tự như cours nhà trường, làm thành gọi là biên khảo, phê bình văn học. Cũng như étude, non-fiction, fascicule, étude critique sur critique phân minh rõ ràng.

Tài liệu dồi dào, nhưng tài liệu nào chưa đọc, không nên bao biện. Người viết không định ý, lập luận; hẳn tài liệu phong phú dồi dào đi nữa; cuối cùng người viết chết theo với tài liệu sưu khảo được. Nhớ tới Nguyễn Hiến Lê trong một sách biên khảo bàn về tài liệu, nhất là tìm tài liệu văn học, sử học Việt Nam khó gấp bội phần khi sưu tập tài liệu tương tự ở nước ngoài. Ý kiến thật xác đáng. Nước ta triền miên khói lửa, và tầm mức thẩm định giá trị tài liệu văn học chưa được sử dụng đúng mức, công bằng.

Cộng đời sống thấp kém, ít thời giờ đọc sách, mua sách, bảo tồn sách, nên tủ sách văn học Việt Nam cần cho người viết sử dụng còn ở tình trạng rất thiếu thốn.

Khi viết bộ sách này, khích lệ tôi nhiều nhất phải kể tới một người: đó là anh Nguyễn Đức Quỳnh. Ông nhắn nhủ tôi rằng: “tài liệu nhiều chưa chắc đã là một yếu tố thành công, còn phải dám làm, dám nhận trách nhiệm”.

Đôi khi, chính kẻ dám làm lại liều lĩnh và dám biết mình ngu. Như vậy, chắc chắn tôi biết trách nhiệm khi viết sách. Cảm ơn một lần nữa nhà văn lão thành Nguyễn Đức Quỳnh, ông bạn văn tiền chiến vong niên. Nữa, cho tôi xin cảm ơn thêm vài tấm áo vải lao động: như anh chị Hai Nụ ở Xóm Chùa (Tân Định) làm nghề thợ thêu. Anh chị nuôi sống tôi hai năm trời: cơm và nhà ở. Nhà thuê vào năm viết bộ sách là một trăm năm mươi đồng. Tiền cơm bốn trăm đồng. Chưa hết, ông già Lịch bán thuốc lá, cũng ở đây; cho tôi chịu khoảng hai ngàn đồng tiền thuốc lá. Thuốc lá Ruby khoảng sáu đồng một bao. Sáu tháng liền, tôi chỉ đi ra tới ngõ; xa hơn là 147B Trần Quang Khải (Sàigòn 1) tới tiệm cho thuê sách Đức Hưng. Nơi này đủ gần hết tác phẩm tiền chiến, giấy dó Hàn Thuyên, mướn đem về đọc để làm tài liệu viết. Một người bạn nữa anh Lung cũng ở Xóm Chùa ngập nước, có một tủ sách khá lớn. Anh cho mượn và tôi sử dụng một cách sở hữu chủ. Anh từ miền Bắc vào Nam lâu, có viết báo tài tử, một người thật chân tình. Phải chăng chân tình này làm tôi cảm động, khi nghe kể đoạn đời anh tham gia kháng chiến ở Nam Bộ bị Pháp cầm tù. Đời tù đầy thêm kinh nghiệm sống, đời quất ngọn roi phũ phàng bao nhiêu, nạn nhân chịu nổi hờn đau sẽ sống lâu hơn; sau thì người ấy sẽ được liệt vào bậc tốt nhất xã hội trên mọi phương diện.Và một bạn học cũ Hà Nội : Tạ Văn Tài đạp xe đạp thăm tôi để khích lệ - trước khi anh đậu hai thủ khoa Văn chương và Luật khoa Sài Gòn rồi sang Mỹ du học.

THẾ PHONG





BÀI THỨ 18

Tiết 6

HOÀNG CẦM

(1922– )

Tiểu Sử.

Sinh ngày 20–2–1922 ở Bắc Ninh. Tên thật Bùi Tằng Việt, làm thơ, viết kịch thơ, dịch văn học... Đã xuất bản Bên Kia Sông Đuống (thơ 1956) v.v...

Hoàng Cầm tác giả vở kịch nổi tiếng Kiều Loan (thi kịch bốn màn) và những bài thơ mầu sắc kháng chiến như : Bên Kia Sông Đuống, Vui Chung... Trong những thi sĩ như Quang Dũng, Hữu Loan, Tất Vinh, Hồng Nguyên, Hoàng Cầm là nhà thơ điển hình trong kháng chiến. Ngoài tài làm thơ, kịch; Hoàng Cầm còn có tài ngâm thơ. Ông ngâm thơ rất hay, nên anh em văn nghệ nói đùa : “anh ngâm thơ bên này sông Đuống, bên kia cũng nghe thấy”. Thơ có hình tượng sống mới, truyền cảm, thiết tha biểu hiện được tình người hòa đồng với tình yêu tổ quốc. Kiều Loan, vở kịch ghi lại nếp tích của sự chống đối vua Gia Long (ý tác giả lên án triều đại này, cho rằng là bọn cõng rắn cắn gà nhà) và qua Kiều Loan, một người con gái đẹp tuyệt trần, điên, thương tiếc triều đại anh hùng Quang Trung áo vải. Nhân vật trong vở kịch, mỗi vai điển hình cho một nếp sống tư tưởng riêng biệt thể hiện qua thái độ sống hàng ngày, tôi muốn nói mỗi nhân vật đều có bản sắc và cá tính riêng biệt. Sau này Hoàng Cầm còn đạt được nhiều kết quả trong những vở kịch khác như : Đêm Liên Hoan chẳng hạn. Hoàng Cầm, nhà thơ kháng chiến làm nghệ thuật trưởng thành trong kháng chiến.

BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG

Em ơi !

Buồn làm chi

Anh đưa em về bên kia sông Đuống

Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ

Sông Đuống trôi đi

Một dòng lấp lánh

Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ

Xanh xanh bãi mía bờ dâu

Ngô khoai biêng biếc

Đứng bên này sông luyến tiếc

Sao xót xa như rụng bàn tay

Bên kia sông Đuống

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Mầu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Chó ngộ một đàn

Lưỡi dài lê xác máu

Kiệt cùng ngõ hẻm vườn hoang

Mẹ con đàn lợn

Âm dương chia lìa đôi ngả

Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã

Bây giờ tan tác về đâu ?

Ai về bên kia sông Đuống

Cho ta gửi tấm the đen

Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên

Những hội hè đình đám

Trên núi Thiên Thai

Trong chùa Bút Tháp

Giữa huyện Lang Tài

Gửi về may áo cho ai ?

Chuông chùa văng vẳng nay người về đâu ?

Những nàng môi đỏ quết trầu

Những cụ già bay tóc trắng

Những em sột soạt quần nâu

Bây giờ đi đâu về đâu ?

Ai về bên kia sông Đuống

Có nhớ chăng khuôn mặt búp sen

Những cô hàng xén răng đen

Cười như mùa thu tỏa nắng

Chợ Hồ, Chợ Sủi người đua chen

Bãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối

Những nàng dệt sợi

Đi bán lụa mầu

Những người thợ nhuộm

Đồng tỉnh Huê Cầu

Bây giờ đi đâu về đâu ?

Bên kia sông Đuống

Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong

Mươi miếng cau khô

Mấy lọ phẩm hồng

Vài xếp giấy đẫm hoen sương buổi sớm

Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn

Khua giầy đinh đập gãy quán gầy teo

Xì xồ cướp bóc

Tan phiên chợ nghèo

Lá đa lác đác trước lều

Vài ba vết máu loang chiều mùa đông.

Đêm buông sâu xuống giòng sông Đuống

Con là ai ?

Con ở đâu về

Hé một cánh liếp

Con vào đây bốn mảnh tường tre

Lửa đèn leo lét soi tình mẹ

Khuôn mặt bừng lên như ánh trăng

Ngậm ngùi tóc trắng đương thầm kể

Những chuyện muôn đời không nói năng

Đêm buông sâu xuống dòng sông Đuống

Ta mài lưỡi cuốc

Ta uốn lưỡi liềm

Ta vót gậy nhọn

Ta rũa mác dài

Ta xây thành kháng chiến ngày mai

Lao xao hàng cây bụi chuối

Im lìm miếu đổ chùa hoang

Chập chờn đom đóm bay ngang

Báo tin khủng khiếp

Cho giặc kinh hoàng

Từng từng tiếng súng vang vang

Trong đêm khuya thoáng cung đàn tự do

Thuyền ai thấp thoáng bến Hồ

Xóa cho ta hết những giờ thảm thương

Đêm đi sâu quá dòng sông Đuống

Trại giặc bắt đầu run trong sương

Dao lòe giữa chợ

Gậy lùa cuối thôn

Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn

Ăn không ngon

Ngủ không yên

Đứng không vững

Chúng mày phát điên

Và quay cuồng như trên đống lửa

Mà cánh đồng ta còn chan chứa

Bao nhiêu nắng đẹp của mùa xuân

Xa xa tiếng hát về gần

Thợ cấy đánh giặc dân quân cày bừa

Tiếng bà ru cháu buổi trưa

Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu

“Cha con chết trận từ lâu

Con càng khôn lớn càng sâu căm thù”

Tiếng ai cấy lúa mùa thu

Căm căm gió rét mịt mù mưa bay

“Thân ta hoen ố vì mày

Hồn ta thề với đất này dài lâu”

Em ơi ! Đừng hát nữa lòng anh đau

Em ơi ! Đừng khóc nữa dạ anh sầu

Cánh đồng im phăng phắc

Lấy áo mặc vào người

Để con đi giết giặc

Lấy súng nó đeo vào vai

Đêm đêm mỗi lần mở hội

Trong lòng con chim múa hoa cười

Vì ánh sáng sắp lên rồi

Chân trời đã tỏ

Sông Đuống cuồn cuộn trôi

Để cho nó cuốn phăng ra bể

Bao nhiêu nước mắt

Bao nhiêu mồ hôi

Bao nhiêu bóng tối

Bao nhiêu cuộc đời

Bao giờ trở lại dòng sông Đuống

Ta lại tìm em

Em mặc yếm trắng

Em thắt lụa hồng

Em đi trẩy hội non sông

Cười say ánh nắng muôn lòng xuân xanh.

HOÀNG CẦM

Tiết 7

VĂN CAO

(1923–1995)

Tiểu Sử.

Tên thật Nguyễn Văn Cao. Sinh năm 1920 ở Hải Phòng, cho nên còn biệt hiệu Người Núi Ngự Thành Tô. Văn Cao là nhạc sĩ tài ba, tác giả : Suối Mơ, Không Quân Việt Nam, Thiên Thai, Trường Ca Sông Lô, Bắc Sơn,... Ông còn là họa sĩ từng triển lãm tại Salon Unique ở Hà Nội vào năm 1944. Và còn là thi sĩ, kịch sĩ, tác giả : Chiếc Xe Đi Qua Phường Dạ Lạc (thơ), Cái Hầm (kịch, 1951). Nhạc tính Văn Cao nhiều âm thanh chứa hình tượng thương nhớ đất nước, quê hương (đầy nhạc tính Việt như Suối Mơ). Từ âm thanh đến lời thấm nhuần tình rộng lớn (quê hương và lòng mình). Lưu Hữu Phước phê bình về nhạc Văn Cao cho rằng: “còn có kẻ khen và chê...về thơ thì Văn Cao là nhà thơ rất đặc biệt”...Về họa, ông chủ trương vẽ lập thể. Về thơ, ông là thi sĩ có tài, thơ có hồn tiết tấu tân kỳ, đặc biệt. Đọc Chiếc Xe Đi Qua Phường Dạ Lạc, khiến người đọc phải rùng mình ghê rợn qua âm thanh mà hình ảnh ấy cho thấy tác giả tả nạn đói, người chết như rạ vào năm 1945. Thảm trạng chết đói năm Ất dậu dưới thời Pháp, Nhật thuộc, sống lại trong tiềm thức người đọc nỗi đau nhói để rồi tạo nỗi căm hờn. Những xác chết người rã bên thềm lá phủ, tiếng xe ma qua phố đến nghĩa địa giữa đêm khuya khoắt. Những thanh niên sa đọa chết trên xe tang trống vì tuổi thanh xuân thừa thãi, vô hy vọng, giải thoát trên tiền bạc. Và đến cảnh nghèo chung nghệ sĩ, tác giả, và cái nghèo chung của xã hội bị bóp chẹt dưới bàn tay thống trị ngoại bang Gió cài then, cửa rú,...và hồi tưởng lại những xác thân khiêu vũ trên chùm tiền huyền diệu.

Tác giả cho ta thấy một xã hội đi xuống vào những năm 1944–1945, trước giờ khởi điểm cách mệnh. Là xã hội hoàn toàn chết. Thơ ông gây cảm xúc, ấn tượng với người đọc ngay ; nhạc sĩ là nghệ sĩ tài ba của âm thanh. Thơ cộng tư tưởng hay cả tiết tấu, biểu hiện đau khổ, đi xuống, bế tắc, căm hờn cảm hóa nổi người đọc, thúc giục mọi người lên đường tranh đấu chống Tây, Nhật. Tác giả thành công chẳng cứ gì trên địa hạt thơ mà ngành nào ông cũng tỏ ra là một văn nghệ sĩ tài hoa.

CHIẾC XE ĐI QUA PHƯỜNG DẠ LẠC

1.

Ngã tư nghiêng nghiêng đốm lửa

Chập chờn ảo hóa tà ma...

Đôi giày hồng lâu cửa mở phấn sa

Rũ rượi tóc những hình hài địa ngục

Lạnh ngắt tiếng ca nhi phách giục,

Tình tang...Não ruột khóc tàn sương

Áo thế hoa rũ rượi lượn sa trường

Từng mỹ thể rạc hơi đèn phù thế

Bóng tối âm thầm rụng xuống chân cây...

Tiếng xe ma chở vội một đêm gầy

Xác trụy lạc rủ bên thềm lá phủ...

Ai hát khúc thanh xuân hò ơi phấn nữ

Thanh xuân hờ thanh xuân !

Bước gần ta chút nữa thêm gần

– Khoảng giữa tuổi thanh xuân nghe loạn trùng hút tủy

Ai hủy đời trên tang trống nhỉ ?

Hay ác thầm gõ quách nạo mồ khuya !

Đảo điên... mê say... Thể phách chia lìa

Nghe reo mạnh, chuỗi tiền cười lạnh lẽo !

Tiền ơi ! Tiền ơi ! Chùm sao huyền diệu

Lấp lánh hằng hà gạo ơi ! tiền rơi !

– Vàng mấy lá thừa đãi mây phủ chiếu

2.

Ngã tư nghiêng nghiêng chia nẻo

Dặt dìu cung bậc âm dương

Tàn xuân nhễ nhại mưa cô tịch

Dầm dìa rả rích Phương Đông

Mang mang thở dài hờn đất Trích

Lưỡi thép trùng dương khép cố đô

Cửa ô đau khổ

Bốn ngả âm u

(Nhà ta thuê mái gục tự mùa thu

Gác cô độc hướng về phường Dạ Lạc)

Đêm đêm, đài canh tan tác

Bốn vực nhạc đông, vẫy người

Giẫy đèn chao thắp đỏ quạnh mầu đời

Ta về gác gió cài then cửa rú (12)

Trên đường tối đêm khỏa thân khiêu vũ

Kèn nhịp xa điệu múa vô luân

Run rẩy giao duyên khối nhạc trầm trầm

Hun hút gió nâng cầm ca nặng nhọc

Kiếp người tang tóc

Loạn lạc đôi nơi xương chất lên xương

Một nửa kêu than, ma đói sa trường

Còn một nửa lang thang tìm khoái lạc.

3.

Ngã tư nghiêng nghiêng xe sác

Đi vào Ngõ Khói Công Yên

Thấy bâng khuâng lối cỏ hư huyền

Hương nha phiến chập chờn mộng ảo

Bánh nghiến rựa đang kêu sào sạc

– Ai vạc xương đổ sọ xuống lòng xe

Chiếc quỷ xa qua bốn ngả ê chề

Chở vạn kiếp đi hoang ra khỏi vực

Mưa, mưa hàng thao thức

Trong phố lội đìu hiu

Mưa, mưa tràn trên vực

– Hang tối gục tiêu điều

Mang linh hồn cô liêu

Tiếng xe càng ám ảnh

Tiếng xe dần xa lánh

Khi gà đầu ô kêu (13)

Trích báo Tiền Phong

VĂN CAO

Tiết 8

HOÀNG LỘC

(1920–1949)

Tiểu Sử.

Hoàng Lộc, nhà thơ có mặt trong kháng chiến và trưởng thành trong khói lửa, như Hoàng Cầm, Quang Dũng, Tất Vinh,...Thơ Hoàng Lộc cảm động, dùng thể loại thơ bình cũ rượu mới. Bài Viếng Bạn trích dẫn dưới đây, bài thơ vô cùng hay, cho người đọc cảm giác buồn xa xôi với đám ma không chôn cất trong thời kháng chiến. Song, không vì thế mà gây sự tiêu cực, song còn tích cực hơn nữa, vì trong hơi thơ căm thù cao độ. Hôm qua còn theo anh/ chúng tôi và anh cùng đi trên quốc lộ/ Hôm nay anh chết, thây anh nằm trong mộ/ Tôi ở lại tranh đấu trả thù cho anh.

Thi sĩ nổi danh đôi khi chỉ cần một bài thơ hay, đó là trường hợp Hoàng Lộc. Sáng tác rất ít, song đó là bài thơ gần như rung động tuyệt vời. Ngoài ra, thơ ông còn mang mầu sắc huyền diệu về tình thương giữa người và người qua cảm giác vô cùng tha thiết.

VIẾNG BẠN

Hôm qua còn theo anh

Đi ra đường quốc lộ

Hôm nay đã chặt cành

Đắp cho người dưới mộ

Đứa nào bắn anh đó

Súng nào nhằm trúng anh

Khôn thiêng xin chỉ mặt

Gọi tên nó ra anh

Tên nó là đế quốc

Tên nó là thực dân

Nó là thằng Thổ phỉ

Hay là đứa Việt gian ?

Khóc anh không nước mắt

Mà lòng đau như cắt

Gọi anh chửa thành lời

Mà hàm răng dính chặt

Ở đây không gỗ ván

Vùi anh trong tấm chăn

Của đồng bào cửa Ngàn

Tặng tôi ngày phân tán

Mai mốt bên cửa rừng

Anh có nghe súng nổ

Là chúng tôi đang cố

Tiêu diệt kẻ thù chung

HOÀNG LỘC

Tiết 9

TỐ HỮU

(1920–2002)

Tiểu Sử.

Tên thật Nguyễn Kim Thành. Sinh 1920 ở Huế, chiến sĩ hoạt động cách mạng chống Pháp, Nhật; nhiều lần bị tù ngục ở Sơn La, Lao Bảo, Thừa Thiên Huế v.v... Từ năm 1938, thơ ông đăng rải rác trên các báo tranh đấu hoặc báo chí có cảm tình với cách mạng. Sau cách mạng tháng 8–1945, thơ ông được thu thập lại in trong tập Thơ Tố Hữu (1948). Những bài thơ mang tính chất của một người tù chiến đấu cho độc lập. Phần nhiều là những bài thơ hay như: Lao Bảo, Mã Chiếm Sơn, Ba Tiếng, Trăng Trối, Người Lính Gác, Ngày Về, Trong Tù, Những Người Không Chết, Tâm Tư Trong Tù, Con Chim Của Tôi v.v... Sau năm 1950, tập thơ Việt Bắc xuất bản, một số bài hay đăng lại như : Bầm Ơi ... Còn một số bài như Đời đời nhớ ông, đề cao cá nhân, ý thơ gò ép, ngượng nghịu, công thức của lối thơ phong trào :

“Thương cha thương mẹ thương chồng

Thương người thương một, thương ông thương mười”.

Trích Trăng Trối, điển hình khẩu khí chiến sĩ cách mạng (trước 1945) và bài Bầm Ơi, bài thơ hay, sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Nhật.

1–TRĂNG TRỐI

Từ thuở ấy quăng thân vào gió bụi

Đến hôm nay phút chết đã kề bên

Đến hôm nay kiệt sức tôi nằm rên

Trên ván lạnh không mảnh mền, chăn chiếu

Đời cách mạng, từ nay tôi đã hiểu

Dấn thân vô là phải chịu tù đày

Là gươm kề tận cổ, súng kề tai

Là thân sống chỉ coi còn một nửa

Bao khổ ấy cần chi tôi nói nữa

Bạn đời ơi ! Ta đủ hiểu nhau rồi

Nếu mai đây có chết một thân tôi

Hai mươi tuổi, tim đang rào rạt máu

Hai mươi tuổi hồn quay trong gió bão

Gân đang săn và thớ thịt căng ra

Đời mặn nồng hứa hẹn biết bao hoa !

Hai mươi tuổi mới qua vần thơ bé

Dù phải chết, chết đời trai trẻ

Liệm thân tàn vào một mảnh chiếu con

Rồi chôn xương giục thối dưới chân cồn

Hay phơi xác cho một đoàn quạ rỉa ?

Tôi chẳng tiếc, chỉ cười trong mai mỉa

Bao nhiêu hình ảnh đó vẽ quanh tôi

Tiếc làm chi ! Thế cũng đã sống rồi

Trường giông tố mấy năm trời vật lộn

Với cách mạng tôi không hề đùa bỡn

Và không hề dám chối một nguy nan

Dẫu bao nhiêu thành tích của thanh xuân

Tôi mới hái một đôi lần ít ỏi

Và bên bạn, chỉ là tên lính mới

Gót chân tơ chưa dầy dạn phong trần

Tôi vẫn hằng tự nghĩ “Miễn quên thân

Dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa"

Thế là đủ lựa chi nhiều tài trí

Mới là tên lính quý của đoàn quân ?

Và lòng vui, trí nhẹ đủ trăm phần

Tôi sẽ chết bình yên, không hối hận

Tôi sẽ chết như bao nhiêu số phận

Nẻo đường xa đá mạnh dấn chân vào

Đã từng lăn trong máu dưới gươm trào

Thân đã nặng bởi bao gươm xiềng xích !

Tôi sẽ chết tuy không về tới đích

Nhưng cần chi đã có bạn chung đời

Tung hoành trên mặt đất bốn phương trời

Trường giao chiến không một giờ phút lặng !

Rồi chiến thắng sẽ về ta, chiến thắng

Rồi tương lai, ta sẽ chiếm về ta

Trường đấu tranh là một bản hùng ca

Ta sẽ chết trong điệu đàn tranh đấu

Đây là tiếng, hỡi bạn đời yêu dấu

Của một người bạn nhỏ, trước khi đi

Đây là lời trăng trối để chia ly

Hãy đón nó bạn đời ơi đón nó !

Đường tranh đấu không một giờ thoái bộ

Sống đã vì cách mạng, anh em ta

Chết cũng vì cách mạng chẳng phiền hà !

Vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng

Lòng khỏe nhẹ anh dâng quê sung sướng

Ngửa mình lên liếm có ngủ ngon lành

Và trong mơ thơm ngát lúa đồng xanh

Vui nhẹ lướt trên môi cười hy vọng.

(Trong những ngày tuyệt thực)

LAO BẢO tháng 11–1940

2. BẦM ƠI (1)

Ai về thăm mẹ quê ta

Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm...

Bầm ơi có rét không bầm

Heo heo gió núi lâm râm mưa phùn

Bầm ra ruộng cấy bầm run

Chân lội dưới bùn tay cấy mạ non

Mạ non bầm cấy mấy đon

Ruột gan bầm lại thương con mấy lần

Mưa phùn ướt áo tứ thân

Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu

Bầm ơi sớm sớm chiều chiều

Thương con bầm chớ lo nhiều bầm nghe

Con đi trăm núi ngàn khe

Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

Con đi đánh giặc mười năm

Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi

Con ra tiền tuyến xa xôi

Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền

Nhớ thương con, bầm yên tâm nhé

Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân

Con đi xa cũng như gần

Anh em đồng chí quây quần là con

Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí

Bầm quý con, bầm quý anh em

Bầm ơi liền khúc ruột mềm

Có con có mẹ còn thêm đồng bào

Con đi mỗi bước gian lao

Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm

Bao bà cụ từ tâm như mẹ

Yêu quý con như đẻ con ra

Cho con nào áo nào quà

Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi

Con đi con lớn lên rồi

Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con

Nhớ con, bầm nhé đừng buồn

Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm

Mẹ già tóc bạc hoa râm

Chiều nay chắc cũng nghe thầm tiếng con.

1948

TỐ HỮU

Tiết 10

YÊN THAO

(1923 – )

Tiểu Sử.

Tên Nguyễn Bảo Thịnh. Sinh 1923 ở ngoại thành Hà Nội. Yên Thao là nhà thơ nổi tiếng từ ngày khói lửa, tác giả nhiều thi bản mang chất tiểu tư sản như Quang Dũng, Tất Vinh, Hồng Nguyên... Nhà Tôi là bài thơ trội nhất và cũng là bài thơ đưa ông lên địa vị xứng đáng một nhà thơ nổi danh. Nếu Hoàng Lộc chỉ cần một Viếng Bạn; Hữu Loan chỉ cần một Màu Tím Hoa Xim; thì Yên Thao chỉ cần một Nhà Tôi. Còn gì đẹp hơn nhìn hình tượng một chiến sĩ đứng bên này sông nhìn về bên kia; làng mình đang chìm dưới đạn khói địch. Để rồi lòng tin như thép tô già, thề một lần trở về cứu quê hương, nơi có vợ trẻ, mẹ già, làng có nhiều hình ảnh quen thuộc tĩnh vật. Và ngay từ khi xuất quân, tác giả đã nắm phần thắng :

“Này anh đồng chí

Người bạn pháo binh

Đã đến giờ chưa nhỉ

Mà tôi nghe chừng như trại giặc tan tành”

Bài Nhà Tôi đẹp, nhẹ nhàng, dung hòa được hai hình ảnh : tổ quốc và gia đình đều gánh nặng trên hai vai chiến sĩ, trích từ tập thơ Thép Son (Liên khu Ba xuất bản 1950).

NHÀ TÔI

Tôi đứng bên này sông

Bên kia vùng địch đóng

Làng tôi đấy : xám đen mầu tiết đọng

Tre cau buông tóc rũ ướt mưa sương

Màu trắng vôi lôm lốp mấy khung tường

Nếp đình xưa người hỡi đau gì không ?

Tôi là anh lính chiến

Rời quê hương từ dạo lửa khơi dòng

Buông tay gầu vui lại thuở Bình Mông

Ghi nấc súng nhớ ơi ngày đắc thắng

Chân chưa vẹt trên nẻo đường vạn dặm

Áo nào phai không sót chút màu xưa

Đêm hôm ấy tôi trở về lành lạnh

Sông sâu mừng lấp lánh sao lưa thưa

Tôi có người vợ trẻ

Đẹp như thơ

Tuổi chớm đôi mươi cưới buổi dâng cờ

Má trắng mịn thơm thơm mùi lúa chín

Ai đã đi mà không từng bịn rịn

Rời yêu thương nào đã mấy ai vui

Em lặng buồn nhìn với lúc chia phôi

Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ

Tôi còn người mẹ

Tóc ngả mầu bông

Tuổi già non thế kỷ

Lưng gầy uốn nặng kiếp long đong

Nắng mưa từ buổi tang chồng

Tơ tằm rút mãi cho lòng héo hon

Ôi xa rồi !

Mẹ tôi lệ nhòa mí mắt

Mong con phương trời

Có từng chợt tỉnh đêm vơi

Nghe ròn tiếng súng nhớ lời chia ly

Mẹ ơi ! Con mẹ tìm đi

Bao giờ hết giặc con về mẹ vui

Đêm nay tôi trở về lành mạnh

Sông sâu mừng lấp lánh sao lưa thưa

Ống quần nâu đã vá mụn giang hồ

Chắc tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ

Làng tôi đấy bên trại thù quạnh quẽ

Trông im lìm như một nấm mồ ma

Có còn không em hỡi, mẹ tôi già

Những người thân yêu khóc buổi tôi xa ?

Tôi là anh lính chiến

Theo quân về giải phóng quê hương

Mái đầu xanh bụi tóc viễn phương

Bước chân đất đạp xiêu đồn lũy địch

Này anh đồng chí !

Người bạn pháo binh

Đã đến giờ chưa nhỉ?

Mà tôi nghe chừng trại giặc tan tành

Anh rót cho khéo nhé

Không lạc nhầm nhà tôi

Nhà tôi ở cuối thôn đồi

Có giàn thiên lý có người tôi thương.

1949

YÊN THAO



CÒN TIẾP ...

Trở lại : LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 17





© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ VÀ NEWVIETART .



TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ TRUYỆN NGẮN NHẬN ĐỊNH