TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



. Sinh năm 1944 .
. Tại Thái Bình .
. 1967 tốt nghiệp khoa Sinh, Đại học Tổng hợp Hà Nội.
. 1973 làm việc tại Hội Văn nghệ Thái Bình.
. 1979 làm việc tại Hội Văn nghệ Kiên Giang.
. Từ 1996-2000 phóng viên báo Văn Nghệ Hội Nhà văn Việt Nam.
. Hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

- Bên bờ vịnh Rạch Giá tập truyện
- Thời gian gom nhặt (thơ)
- Trấn Hà Tiên và Tao Đàn Chiêu Anh Các (biên khảo)
- Nguyễn Thị Lộ (tiểu thuyết)
- Thử tìm lại cội nguồn người Việt (biên khảo)





















TÌM LẠI

CỘI NGUỒN

VĂN HOÁ

CỦA NGƯỜI VIỆT

KÍNH DÂNG ĐỒNG BÀO TÔI

KÍNH DÂNG TỔ QUỐC TÔI



TỰA

C   on người sinh ra, lớn lên, kiếm ăn, yêu đương, sinh con đẻ cái, chiến tranh giành giật... Ðến một lúc nào đó dừng giữa chừng công việc, anh ta tự hỏi: Ta là ai? Ta từ đâu tới? Chính lúc này, con người sinh học đã trở thành con người triết học.

Hàng vạn năm, từ thế hệ này sang thế hệ khác, con người triết nhân - những chàng hoàng tử Hamlet của mọi thời, khi bộ hành trên đường, lại hỏi mình câu hỏi muôn thuở ấy! Có lẽ đã có nhiều lời giải ngay từ tiền sử nhưng chúng không đến được với ta vì thời đó chưa có ký hiệu ghi chép và cũng có thể ký hiệu bị thời gian xóa nhòa. Vì vậy, câu hỏi về cội nguồn luôn là điều mới mẻ.

Với người Việt, do số phận đặc biệt của dân tộc, vấn đề cội nguồn lại càng nhức nhối hơn. Sự nhức nhối hiện thành câu tục ngữ Chim có tổ, người có tông, một trong những phương ngôn giầu ý nghĩa nhất của văn hóa Việt.

Với người Việt, có lẽ ý thức tìm về nguồn cội trở nên đòi hỏi cấp thiết nhất vào thế kỷ thứ X khi lần đầu tiên sau 1000 năm nô lệ, chủ quyền được giành lại. Hậu thế biết ơn Trần Thế Pháp với cuốn Lĩnh Nam chích quái của ông. Chọn những câu chuyện quê mùa lầm lụi trong bùn đất, lượm lặt từ những trang sách nước ngoài, ông ghi lại cho đời sau biết về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ cùng một bọc trăm trứng. Biết ơn Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên hai vị sử gia dám cả gan ghi những điều hoang đường diệu vợi vào chính sử. Những dòng chữ đó như đám bèo mà nhiều thế hệ Việt bám lấy để quẫy đạp lội ngược dòng lũ thời gian tìm về nguồn cội.

Nhưng, nhiều điều cha ông nâng niu trân trọng thì con cháu không tin. Không thể trách họ. Sự đời là thế, con cháu đã thành con người triết học mà đặc trưng là nghi ngờ tất cả! "Bốn nghìn năm văn hiến ư? Các cụ nhà mình khí đậm máu sô-vanh! Lấy đâu ra, ngay cả thời đại các vua Hùng cũng mù mờ lắm: làm sao 18 đời vua lại kéo dài những hơn 2000 năm?!" Chính ngay Ðại Việt sử ký toàn thư, pho sử lớn và uy tín nhất nước cũng viết: "Tích Quang người quận Hán Trung, khi ở Giao Chỉ lấy lễ nghĩa dạy dân. Lại lấy Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân... Tục người Cửu Chân chỉ làm nghề đánh cá, đi săn, không biết cày cấy. Diên mới dạy dân khai khẩn ruộng đất, hàng năm cấy trồng, trăm họ no đủ... Phong tục văn minh của đất Lĩnh Nam bắt đầu từ hai thái thú ấy."(1) Còn văn hóa Việt ư? "Chính sử chả ghi Sĩ vương là Nam Giao học tổ sao? Té ra thì tới nhà Hán chúng ta mới có việc học! Vậy thì văn hiến cái nỗi gì?"

Những suy nghĩ trên đã dẫn đến ý tưởng cực đoan vong bản như thế này: "Về văn hóa, ta đã bắt chước người Tàu một cách mê mải và vô điều kiện. Nếu văn hóa của ta còn khác văn hóa Tàu thì cũng chỉ vì ta bắt chước chưa xong mà thôi. Văn hóa ta khác văn hóa Trung Hoa không phải ở chỗ ta thực sự khác mà là ở chỗ ta chưa bằng. Sự khác biệt ở trình độ nhiều hơn ở bản chất!"(2)  

Xin nói thực lòng, kẻ viết những dòng này cũng thuộc giống con người tư duy nên biết bao năm băn khoăn khốn khổ chỉ vì một câu ca:

Công cha như núi thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra!

Thái sơn là gì? Hòn núi lớn. Như vậy công cha to như hòn núi lớn! Còn nước trong nguồn thì dễ rồi: nước đầu nguồn, dạt dào mà trong trẻo! Yên chí! Ðến khi nghe mò mẫm biết được Thái Sơn, ngọn Nguồn là hòn núi dòng sông bên Tàu thì lòng bất nhẫn: Sao cha ông ta vong bản đến vậy? Chúng cướp nước ta chưa đủ sao mà còn thương còn nhớ còn ơn ngọn núi dòng sông bên Tàu?! Quá nửa đời buốt đau vì mặc cảm đó!

Ngày nay trong hoàn cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, trước nguy cơ bị xâm lăng văn hóa, thấy trên nhiều phương tiện truyền thông đại chúng và cả những chỉ thị nghị quyết nói nhiều đến cụm từ bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Nhưng không hiểu sao có cảm tưởng là, người ta càng nói nhiều thì sự việc càng rối tung rối mù lên, đến nỗi chẳng ai hiểu văn hóa dân tộc là gì! Từ đó mà biết bao việc làm tùy tiện lộn xộn, cái đáng bỏ thì giữ, cái đáng giữ lại bỏ, cái gì có lợi trước mắt thì đề cao rồi bảo đó là truyền thống, là bản sắc! Ruột bỏ ra da ôm lấy... cười ra nước mắt!

Thiết tưởng sở dĩ có chuyện trống đánh xuôi kèn thổi ngược như vậy chính bởi vì chưa có được sự thống nhất trong hai nhận thức cơ bản: 1/Dân tộc Việt Nam là ai? Và 2/ Văn hóa Việt Nam là gì?

Cho đến nay thật đáng buồn là người Việt chưa hiểu được dân tộc chúng ta là ai, từ đâu tới. Chính vì vậy càng mù mờ hơn về cội nguồn văn hóa dân tộc. Giải đáp hai câu hỏi trên là vấn đề đặc biệt quan trọng và bức xúc hiện nay.

Không phải là nhà nghiên cứu lịch sử nhưng là nhà văn quan tâm tới văn hóa dân tộc, chúng tôi tạm dừng cuốn tiểu thuyết đang viết về Triệu Vũ đế, xin thử bàn về hai vấn đề trọng đại này. Rất mong quý vị cao minh chỉ giáo.

Lời Cảm Ơn : Người viết chân thành cảm ơn các tác giả có sách tham khảo trong chuyên luận này. Ðặc biệt cảm ơn những tác giả người Việt ở nước ngoài: Ts Nguyễn Thị Thanh, Luật sư Cung Ðình Thanh, GsTs Nguyễn Văn Tuấn, các ông Nguyễn Ðức Hiệp, Nguyễn Quang Trọng. Ông Hoài Thanh báo Ðại chúng cung cấp những tài liệu quý. Cảm ơn bạn tôi, Ðỗ Thái Nguyên và Gs Ranjan Deka Ðại học Cicinnati Hoa Kỳ gửi cho những thông tin mới nhất. Chính trí tuệ và thịnh tình của các vị đã soi sáng và động viên chúng tôi hoàn thành cuốn sách. Cảm ơn vợ tôi, người đã vất và nhiều vì tôi. Cuốn sách này cũng là nén nhang tưởng nhớ Cha tôi.

Sài Gòn, Xuân Ất Dậu

  HÀ VĂN THÙY




 PHẦN MỘT

VỀ NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT

CHƯƠNG II

NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT

THEO QUAN ÐIỂM HIỆN ÐẠI

  V ề mặt địa lý, Việt Nam nằm trong vùng Ðông Nam Á vì vậy có chung vận mệnh lịch sử với các dân tộc khác trong khu vực. Hệ quả tự nhiên, nguồn gốc của người Việt không thể không liên quan tới các tộc người láng giềng. Vì vậy, ta chỉ có thể tìm ra cội nguồn người Việt trên con đường tìm kiếm cội nguồn những chủng người cộng cư trên địa bàn Ðông Nam Á. Giải quyết vấn đề này, khoa học đã đi theo hai giai đoạn khác nhau.  

A. NHỮNG THÀNH TỰU CỦA NHÂN CHỦNG HỌC CỔ ÐIỂN

Nhân chủng học được khai sinh từ giữa thế kỷ XVII với những tên tuổi như học giả người Pháp Francois Bernier, tiếp đó là nhà phân loại học bậc thầy K.Linne người Thụy Ðiển rồi Buffon, Blumenbac... Cho đến cuối thế kỷ XX, hệ thống phương pháp nghiên cứu của nhân chủng học thế giới là so sánh hình thái đường vân trên bàn tay, hình thái bộ răng và phức hệ kháng nguyên trên hồng cầu ở người hiện đại và so sánh hình thái học sọ người cổ. Trong hai thế kỷ rưỡi rị mọ làm việc với những dụng cụ đơn giản là cái rìu cái cuốc cùng những thước đo, các nhà nhân chủng học cổ điển đã làm được khối lượng công việc khổng lồ: tìm kiếm nguồn gốc con người rồi phân chia thành những loại hình và chỉ ra sự chuyển hóa của chúng. Những tri thức nhân chủng học đã giúp cho con người bước đầu hiểu được mình là ai, từ đâu đến, góp phần nâng cao vị trí con người trong tự nhiên huyền bí.

Với các dân tộc Ðông Nam Á, nhân chủng học cổ điển giúp giải quyết những vấn đề rất cơ bản mà nếu thiếu những tri thức đó, chúng ta sẽ rơi vào tình trạng mông muội.

Ðể xác định cội nguồn tổ tiên người Việt, chúng tôi không có cách nào khác là tìm hiểu cội nguồn các tộc người Ðông Nam Á khác. Trong công việc này, công trình Nhân chủng học Ðông Nam Á của nhà nhân chủng học hàng đầu Việt Nam Nguyễn Ðình Khoa có những đóng góp quan trọng.

Ở đây chúng tôi xin giới thiệu những ý tưởng chủ yếu của người đi trước đồng thời ở những chỗ thích hợp, đưa ra ý kiến thảo luận.

Khảo sát những sọ người Homo Sapiens cổ tìm được khắp Ðông Nam Á như sọ người Hang Nia ở Bắc Kalimantan, Vadjak ở Giava (Indonesia), ở Tam Hang, Tam Pông (Lào), ở Xamrôngxen, Long Prao tỉnh Kômpuông Chnăng (Camphuchia), 38 bộ xương người cổ ở Bản Kao (Thái Lan) và 38 sọ tìm thấy tại nhiều di chỉ ở Việt Nam, các nhà nhân chủng học đưa ra nhận định:

Thời đại đá mới, cư dân trên lãnh thổ Việt Nam và cả Ðông Nam Á thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng với các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó Indonesien và Melanesien là hai thành phần chủ yếu.(9)

Nhận định này dựa trên việc khảo sát một số nhóm dân cư cụ thể:  

1/ NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ MÔN-KHMER

  Các tộc ngôn ngữ Môn-Khmer hiện nay tập trung chủ yếu trên bán đảo Ðông Dương và cũng có mặt ở tất cả các nước trong khu vực, đông nhất là ở Campuchia (4 triệu), Việt Nam (2 triệu gồm người Khmer Nam Bộ, Bana, Xơ Ðăng, K’ho. H’rê, S’tiêng, Bru, Vân Kiều, Kh’mú, Kháng...), Thái Lan (trên dưới 2 triệu) và các nước khác như Lào, Mã Lai... gần 1 triệu.

Về nguồn gốc cư dân ngôn ngữ Môn-Khmer có nhiều ý kiến khác nhau. Giả thuyết được nhiều người tán thành là của E. Aymonier công bố năm 1904 cho rằng: Tổ tiên những tộc người ngôn ngữ Môn-Khmer thuộc về chủng tộc Negritoid, bắt nguồn từ những sườn núi phía Nam Tây Tạng rồi chia đôi ra và di chuyển về phương Nam theo hai hướng - hướng Tây Nam sinh ra người Munda ở Ấn Ðộ, hướng Ðông Nam sinh ra tộc người Môn-Khmer ở Ðông Dương. (Aymonier E - Le Cambodge T.3 Paris 1904. Dẫn theo Nhân chủng học Ðông Nam Á, tr. 118)

S.I. Bruk, nhà nhân chủng học Liên Xô cho rằng, từ cuối thiên niên kỷ thứ II TCN, đại bộ phận Ðông Dương đã có mặt người Môn-Khmer từ phía Tây Nam Trung Quốc tràn xuống (Bruk S.I. Thành phần tộc người và sự phân bố cư dân ở các nước Ðông Dương. Dân tộc học Xô Viết, số 1.1950. Dẫn theo Nguyễn Đình Khoa)

Các nhà nhân chủng học kết luận: "Phần lớn người nói ngôn ngữ Môn-Khmer đều là dân bản địa Ðông Nam Á lâu đời. Cội nguồn của họ là từ những dạng chuyển tiếp Austro-Mongoloid đang trong quá trình phân hóa với những nét "đặc trưng phương Nam", từ đó sinh ra các loại Vedoid và Indonesien nguyên thủy - những chủ nhân của bán đảo Ðông Dương cổ đại, về sau phân bố rộng khắp Ðông Nam Á."

Như vậy có thể kết luận khái quát: Các tộc ngôn ngữ Môn-Khmer ở Ðông Dương và Ðông Nam Á hiện nay là những cư dân bản địa.  

2/ NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ VIỆT- MƯỜNG  

Ðại diện cho cộng đồng nói ngôn ngữ Việt-Mường là người Việt và người Mường. Người Việt có hơn 50 triệu sống tập trung ở đồng bằng châu thổ. Tộc Mường trên 600.000 người, cư trú khá tập trung ở miền thượng du và trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.

Người Việt và người Mường đều có những đặc trưng tiêu biểu của nhóm loại hình Ðông Nam Á trong chủng người Mongoloid phương Nam. Người Việt và người Mường xưa vốn cùng chung một cội nguồn, nhưng đã tách ra thành hai dân tộc trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, giả thiết khoảng thế kỷ XI trở về sau này, khi nhà Lý giành được độc lập, đánh tan quân xâm lược nhà Tống.

Một nhận định khác: Ngôn ngữ Việt-Mường hiện nay và trước đây là ngôn ngữ chung của những tộc người thuộc cả hai nhóm loại hình nhân chủng Indonesien và Nam Á.

Tới đây, một vấn đề nảy sinh: rõ ràng, thành phần Nam Á xuất hiện muộn hơn (vào thời đồ đồng) trong khi thành phần Indonesien hình thành sớm (thời đại đá mới). Như vậy, ngôn ngữ Việt-Mường cũng có cội nguồn cổ xưa như những người Indonesien nguyên thủy nhất hay ngôn ngữ Việt-Mường hình thành muộn hơn trên cơ sở tiếp xúc và giao lưu giữa các cộng đồng người, có thể khác nhau về tiếng nói và nguồn gốc? Các tác giả như Hà Văn Tấn, Phạm Ðức Dương, Nguyễn Ðình Khoa cho rằng: xuất phát từ ngôn ngữ cổ Indonesien chuyển sang trung gian Việt-Mường chung và cuối cùng thành ngôn ngữ Ðông Nam Á Việt Mường.

Về bước chuyển hóa này, Nguyễn Ðình Khoa viết: "Người Indonesien vốn là thành phần chủ thể của bán đảo Ðông Dương từ thời đá mới, kéo dài mãi tới sau này, và từ thời đại đồ đồng tương ứng với xã hội các vua Hùng thì xuất hiện một hình thái nhân chủng mới - người Nam Á cổ là tổ tiên cùng của các tộc người thuộc loại hình Nam Á hiện nay, trong đó có người Việt Mường." (Con người thời Hùng Vương. Khảo cổ học số 9-10 tháng 6-1971)  

3/ NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ H’MÔNG - DAO.  

Cội nguồn các dân tộc Hmông-Dao vốn từ phía Nam Trung Quốc, sau này di chuyển dần xuống bắc bán đảo Ðông Dương. Ở Trung Quốc hiện nay, người Hmông tập trung đông nhất tại Quý Châu và các tỉnh giáp ranh như Vân Nam, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Quảng Tây... Người Dao phân bố dịch về phía Ðông Nam so với vùng phân bố của người H’mông, tập trung chủ yếu tại Quảng Ðông, Quảng Tây... Người H’mông, Dao có mặt ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Miến Ðiện. Ở Việt Nam đông hơn cả, khoảng trên 600.000 người.

Về thành phần nhân chủng, người Hmông-Dao thuộc nhóm loại hình Ðông Nam Á của chủng Mongoloid phương Nam.

Theo Nguyễn Ðình Khoa, từ những thư tịch cũ cùng tài liệu khảo cổ học, ngôn ngữ học, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, người H’mông và Dao có chung cội nguồn tổ tiên xác định khoảng ngót 3000 năm trước (cuối thiên niên kỷ thứ II TCN) mà địa bàn cư trú là vùng hồ Ðộng Ðình. Ðó là những bộ tộc Tam Miêu hay Miêu dân. Về sau do sự bành trướng của người Hán nên con cháu người Tam Miêu ly tán dần về Nam. Vào đầu Công nguyên, họ còn chiếm lĩnh một vùng rộng lớn từ bờ nam sông Dương Tử tới giáp giới hai tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây. Bằng chứng về sự tồn tại của họ, là nhiều tài liệu khảo cổ học: văn hóa đồng đã phát triển ở Tứ Xuyên và vùng lân cận chứng tỏ chủ nhân chúng là dân cư nông nghiệp dùng cuốc, đánh cá, ở nhà sàn. Trong hiện vật tìm thấy rìu có vai, loại công cụ không có ở Hà Nam, Cam Túc... Nền văn hóa này khác hẳn văn hóa Ngưỡng Thiều, nghĩa là không phải Hán, cũng không chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán (Theo Its R.F Người Mèo. Tập thông báo về các dân tộc Ðông Nam Á. Viện Dân tộc học Liên Xô, M.1960. Dẫn theo Nhân chủng học Ðông Nam Á. )

Vào thời Nam Bắc triều (265-583) sử sách còn ghi: người H’mông-Dao tập trung đông đảo quanh Ngũ Lĩnh, tỏa ra đồng bằng Hồ Nam. Nhưng sau đó, từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ VIII, tộc Hán thôn tính miền này, các tộc người không phải Hán hoặc trở thành phụ thuộc người Hán hoặc di cư đến nơi khác.

Trong quá trình ly tán xuống phương Nam lánh nạn, để tránh khỏi diệt vong hoặc bị đồng hóa bởi Hán tộc, họ di cư theo hai con đường khác nhau. Khối H’mông (Man Miêu) di tản theo hướng Quý Châu, tương đối tập trung trong khi người Man Dao theo hướng Tây Nam đi về Nam Lĩnh Sơn, đường hiểm trở nên phân chia thành nhiều nhóm. Thời gian này ở vào khoảng thế kỷ IX.

Từ những phân tích trên, giới nhân chủng học nhận định:

a. Khối H’mông-Dao cũng như ngôn ngữ H’mông-Dao bắt nguồn từ một vùng phía nam sông Dương Tử rồi thiên di xuống phương Nam và chia thành hai tộc người H’mông và Dao từ thế kỷ VI và tách hẳn vào thế kỷ IX.

b. Người Dao đến Bắc Ðông Dương đã khoảng gần 1000 năm và còn nhiều đợt tiếp theo sau này.  

4/ NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ THÁI.

Các tộc ngôn ngữ Thái-Tày tập trung chủ yếu ở Ðông Dương, ngoài ra còn sống tản mác tại Đông Bắc Ấn Ðộ (Assam), Nam Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Ðông, Quảng Tây, Hải Nam), bán đảo Malacca. Tổng số dân khoảng trên 50 triệu, trong đó trên 30 triệu ở Thái Lan.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, quê hương xưa của người Thái ở khu vực tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, tiếp giáp với Ðông Dương. Họ chính là một trong cộng đồng khối Bách Việt vào nhiều thời kỳ trong thiên niên kỷ I TCN, do sự chèn ép của người Hán, đã thiên cư theo hai hướng Ðông và Nam. Dòng người sang Ðông đi tới Quảng Ðông, Quảng Tây, Bắc Bộ Việt Nam, một số tới đảo Hải Nam. Dòng theo hướng Nam men theo các thung lũng và triền sông, tỏa ra các nước Ðông Dương. Người Thái Lan hiện nay là con cháu những nhóm Thái đi xa nhất về phía nam. Các nhóm tỏa sang đông là tổ tiên người Lào và các tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam. Các nhóm tỏa sang tây là người Shan (Miến Ðiện), sau này có một nhánh sang Assam (Ðông Bắc Ấn Ðộ). Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, do người Thái làm nông nghiệp lúa nước nên phải phát sinh từ miền đất thấp gần duyên hải, có thể chính là hai tỉnh Quảng Ðông và Quảng Tây, Trung Quốc. Nhà nhân chủng học người Mỹ W.G. Solheim II cho rằng: "Có nhiều nét tương đồng và không có sự khác biệt quan trọng giữa người dân thời đồ đá mới ở Bản Kao với người Thái hiện nay." Nói cách khác, tổ tiên dân tộc Thái ở Thái Lan đã có mặt trên đất nước cách nay 3000-4000 năm.  

5/ NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ TẠNG - MIANMA.  

Ngôn ngữ Tạng-Mianma là một nhóm trong dòng ngôn ngữ Hán. Ở Ðông Nam Á có người Mianma đông nhất (trên 20 triệu), ngoài ra còn các sắc dân Karen, Katchin, Tchin, Kaya, Lôlô, Hà Nhì, La Hủ...Về nhân chủng học, người Mianma cũng là một loại hình trong nhóm Ðông Nam Á của chủng Mongoloid phương Nam.

Có thuyết cho rằng, người Mianma vốn nguồn gốc từ một cư dân du mục gọi là Ch’iang, xưa cư trú ở Tây Bắc nước Trung Hoa cổ đại, giữa sa mạc Gôbi và miền Ðông Bắc Tây Tạng. Như vậy ít nhiều có thể kế cận với vùng sinh tụ phía tây của người Bách Việt. Sử sách từng nói tới đồ đá mới của họ từ 3000 năm TCN. Sau đó, do sự lấn chiếm của người Hán nên họ rời quê hương tiến dần xuống phía nam tiếp xúc với người Tây Tạng rồi tới cương vực của người Bách Việt. Tại đây, do quan hệ một thời gian dài với các tộc người ngôn ngữ Thái, họ tiếp thu văn hóa mới vào khoảng thiên niên kỷ I TCN. Họ có mặt ở Thượng Mianma vào những thế kỷ sau CN. Hình thái nhân chủng của người Mianma hiện nay là hệ quả trực tiếp của quá trình hỗn chủng lâu dài với nhiều nhóm người thuộc chủng Nam Mongoloid (Tây Tạng, Thái, bản địa Ðông Dương). Chắc là loại hình nhân chủng tổ tiên người Mianma không đồng nhất với con cháu họ bây giờ. Rất có thể trước đây, đó là những người có đặc điểm ít nhiều gần với người Mongoloid phương Bắc như tầm vóc cao lớn, hộp sọ dài trung bình, mặt dài... Nay ở người Mianma đã hình thành những đặc trưng phương Nam như người Thái và được đặt vào loại hình Ðông Nam Á.  

6/ NGUỒN GỐC CÁC TỘC NGƯỜI NGÔN NGỮ MÃ LAI - POLYNESIA  

Vùng phân bố hiện nay của ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia tập trung tại các nước Indonesia, Philippine, một phần Malaysia. Phần còn lại tản mác ở một số nước trên bán đảo Ðông Dương như Việt Nam, Campuchia, Thái Lan...

Người nói ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia cấu thành khối dân tộc đa số ở Indonesia, (Giava, Sunda, Madura), Philippine (Vixai, Tagal) và ở Mã Lai. Ở các nước khác, họ thuộc thành phần các dân tộc ít người như dân tộc Chăm ở Việt Nam, Campuchia. Về chủng tộc, họ cũng không đồng nhất. Ðại bộ phận thuộc nhóm loại hình Nam Á. Ðó là các dân tộc đa số ở Indonesia, Philippine, Malaysia và một số thành phần dân tộc ít người ở các nước nói trên hay trên bán đảo Ðông Dương (Chăm). Còn lại là những biểu hiện đa dạng của nhóm loại hình Indonesien và Vedoid. Ðặc điểm nổi bật của cư dân ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia là sự hỗn chủng cao giữa những chủng người không cùng nguồn gốc ban đầu.

Có hai giả thuyết về nguồn gốc các dân tộc ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia:

1/ Khu vực hình thành đầu tiên là miền Nam Trung Quốc, từ đó lan truyền xuống Ðông Nam Á và châu Ðại Dương. 2/ Là vùng đảo Ðông Nam Á, mà trung tâm là từ miền Ðông Indonesia tới Nam Philippine rồi lan ra xung quanh tới Nhật Bản, Polynesia, vịnh Băng Gan, Madagascar.

Những tác giả theo giả thuyết 1 cho rằng : "Vùng phân bố cổ xưa nhất của ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia xác định là khoảng giữa sông Thanh Giang và sông Dương Tử, thuộc về những bộ lạc nông nghiệp định cư của người Việt trong khối Bách Việt, có mặt ở đây từ những thiên niên kỷ III-II TCN. Ðiều kiện lịch sử xã hội vào cuối thiên niên kỷ III đầu thiên niên kỷ II TCN đã kích thích sự di cư của nhiều nhóm Bách Việt. Tổ tiên các cộng đồng Mã Lai-Polynesia đã từ lục địa tới Ðài Loan và để lại di duệ (người Cao Sơn). Hiện nay ở phía Nam Trung Quốc không còn tộc người nào nói ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia nhưng dấu tích ngôn ngữ này đã phát hiện trong ngôn ngữ Thái và một số tộc người ở Bắc Việt Nam.

Giả thuyết thứ hai do G.W. Solheim II đề xuất (Solheim W.G.II Reflections on the new data of Southeast Asian Prehistory: Austronesian origin and consequence- Paper presented at the First International conference on comparative Austronesian Linguistics, January 1974; Honolulu- Hawaii): Cái nôi ban đầu của ngôn ngữ Nam Ðảo không thể ở phía Ðông Nam Trung Quốc mà ở Ðông Nam Á, và trung tâm của nó là khu vực từ các đảo phía Đông Indonesia tới Nam Philippine. Thời kỳ hình thành của ngôn ngữ này vào khoảng 4000 năm TCN. Giai đoạn ngôn ngữ Nam Ðảo lan rộng ra xung quanh vào khoảng thiên niên kỷ II TCN, bắc tới Nam Trung Quốc, đông tới Polynesia. Cũng vào giai đoạn này tổ tiên người Chăm đến duyên hải Việt Nam và để lại dấu tích trong phức hệ gốm Sa Huỳnh.  

Theo chúng tôi, có lẽ thực tế lịch sử là sự kết hợp cả hai giả thuyết: Tổ tiên người Chăm xuất hiện từ khoảng 60.000 năm trước, ở miền Trung Việt Nam, thuộc nhánh Australoid. Từ đây họ hòa huyết với người Mogoloid rồi thiên di theo hai hướng: hướng nam xuống các đảo như Indonesia, Philippine còn phía bắc tới Nam Trung Quốc (và có thể đi xa hơn trong những người chinh phục châu Mỹ). Những người tụ ở Nam Trung Quốc nhập vào đại gia đình Bách Việt và được Ðông Nam Á hóa. Cùng chịu chung số phận lịch sử với người Bách Việt, vào thiên niên kỷ II TCN, người Chăm thuộc nhóm loại hình Ðông Nam Á cư trú tại lưu vực Trường Giang trở về nơi xuất phát là miền Trung Việt Nam cùng các đảo ngoài khơi. Trong khi đó, những người trụ lại miền Trung Việt Nam làm nên văn hóa Sa Huỳnh.

Từ bức tranh toàn cảnh nhân chủng Ðông Nam Á trên, các nhà nhân chủng học rút ra 2 kết luận:

a- Vào thời Ðá mới, cư dân Ðông Nam Á thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng với các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó Indonesien và Melanésien là hai thành phần chủ yếu.

b- Sang thời Ðồng-sắt, trên toàn Ðông Nam Á diễn ra việc chuyển hóa mạnh từ loại hình Indonesien sang loại hình Nam Á (Mongoloid phương Nam). Thành phần Australoid thu hẹp đến tối đa trong khu vực.

Hai kết luận trên là đóng góp quan trọng cho nhận thức về nhân chủng học Ðông Nam Á.

Tuy vậy công trình của Nguyễn Ðình Khoa cũng còn những hạn chế:

Thứ nhất: Vẫn theo thuyết cho rằng tổ tiên người Ðông Nam Á từ Tây Tạng xuống.

Thứ hai : Không cho thấy nguyên nhân của sự chuyển hóa mạnh và đồng loạt từ loại hình Indonesien sang Ðông Nam Á vào thời đồ Ðồng. Thứ ba : Không giải thích vì sao, các tộc người như Mon-Khmer, Thái Tày... có sự di chuyển từ phía Nam Trung Quốc xuống thì người Việt lại không có sự di cư này, trong khi các tài liệu lịch sử cho thấy người Lạc Việt là nòng cốt trong dòng Bách Việt từng sinh sống ở Trung Quốc. Đó không chỉ là hạn chế của tác giả mà cũng là giới hạn của nhân chủng học cổ điển. Nhân chủng học cổ điển với công cụ thô sơ và phương tiện các bon đánh dấu C14 không thể cho những kết quả đủ để có thể đưa tới những kết luận thỏa đáng.

Bản đồ nhân chủng Ðông Nam Á hiện đại
(Chú thích từ trên xuống: Nam Á, Indonesien,Vedoid, Negritoid)
(Nguồn: Nhân chủng học Ðông Nam Á)

B. ÐÓNG GÓP CỦA NHÂN CHỦNG HỌC HIỆN ÐẠI  

Nhân chủng học cổ điển đóng góp vô cùng lớn giúp con người tự nhận thức về mình. Nhưng với phương pháp cùng công cụ hạn chế, nhân chủng học cổ điển đành bất lực trước những câu hỏi bức xúc nhất về tổ tiên loài người và mối quan hệ giữa các tộc người.

Cuối thế kỷ XX, tại nơi mà nhân chủng học cổ điển dừng lại thì một khoa học nhân chủng mới ra đời, dùng công nghệ genes khảo sát sự hình thành và biến đổi của loài người.

Ðây là ngành khoa học thực nghiệm đòi hỏi phương tiện nghiên cứu hiện đại và đưa đến kết quả có độ chính xác cao. Khoa học nhân chủng hiện đại dựa trên hai nguyên lý:

a/ Genes là nhân tố bền vững giúp cho nhận diện sự có mặt của từng loài hay từng chủng sinh vật theo địa bàn phân bố của chúng. Như vậy, nhân tố gene cho ta nhận biết sự phân bố của từng loài, từng chủng sinh vật theo không gian.

b/ Trong một loài, một chủng, genes tuy bền vững ổn định nhưng lại có những nhân tố biến đổi qua từng thế hệ theo xu hướng càng xa tổ gốc, càng giảm dần. Dựa vào đặc điểm này, dùng thuật toán thống kê, người ta định ra chỉ số biến thiên đa hình thái (polymorphic variation) hay chỉ số đa dạng sinh học (F-value) để nhận biết sự phân bố của sinh vật theo thời gian.

Dựa vào công nghệ genes, nhiều nhà nghiên cứu đã khám phá chính xác mối quan hệ nhân chủng trong các cộng đồng dân cư và phát hiện genes di truyền những nhân tố gây bệnh.

Vào thập niên 90 thế kỷ trước, trong khi các nhà khoa học phương Tây đang đi tới hoàn tất việc khám phá bản đổ gene người thì người Trung Quốc cũng rất nhạy bén với thành tựu khoa học mới này. Bằng nguồn kinh phí của Quỹ khoa học tự nhiên, họ đầu tư cho Dự án Ða dạng di truyền người Hán (Chinese Human Genome Diversity Project) với mục đích tìm hiểu nguồn gốc của người Hán và cách chữa trị một vài bệnh di truyền. Nhiều nhà khoa học ở Ðại học Bắc Kinh và Thanh Hoa Thượng Hải hợp tác với đồng bào, đồng nghiệp của họ tại Ðại học Texas bang Huston và Ðại học Cicinnati Hoa Kỳ tham gia Dự án này.

Ngày 29/9/1998 nhóm nghiên cứu đã công bố bản báo cáo gây chấn động giới khoa học nước Mỹ.

Những nét chính của báo cáo như sau:

  1/ Gs Chu cùng đồng nghiệp thuộc Ðại học Texas phân tích từ 15-30 mẫu microsatellites (mt DNA) để khảo sát sự khác biệt di truyền trong 24 nhóm người Hoa, 4 nhóm người Ðông Nam Á, 2 nhóm thổ dân Mỹ, 1 nhóm thổ dân Úc, 1 nhóm thuộc New Guinea và 4 nhóm da trắng Caucase.

Kết quả phân tích cho thấy:

a. Các sắc dân Ðông Nam Á tập hợp thành một nhóm di truyền.

b. Nhóm dân có đặc tính di truyền gần gũi với dân Ðông Nam Á là thổ dân Mỹ sau đó là thổ dân Úc và New Guinea.

c. Ðặc diểm di truyền của người Hán miền Bắc không giống người Hán phương Nam.

Nhóm nghiên cứu đưa ra mô hình: Các dân tộc Bắc Á được tiến hóa từ Ðông Nam Á và đưa tới kết luận:Tổ tiên các nhóm dân Ðông Á ngày nay có nguồn gốc từ Ðông Nam Á.Kết luận này cũng cho rằng, tổ tiên của những người nói tiếng Altaic ở phía Bắc Trung Quốc cũng từ Ðông Nam Á lên chứ không phải từ ngả Trung Á sang như từ trước vẫn hiểu. (10)

Tuy nhiên, nghiên cứu của nhóm giáo sư Chu có điểm yếu là chỉ dựa vào mtDNA, một nhân tố di truyền rất mẫn cảm nên không bền vững, dễ bị đột biến, có thể dẫn tới kết quả sai lạc.  

2/ Khắc phục nhược điểm trên, một nhóm nghiên cứu khác dựa trên nhiễm sắc thể Y (Y-chromosome) để khảo sát những đại diện người Hoa ở 22 tỉnh Trung Quốc, 3 nhóm dân Ðông Bắc Á, 5 nhóm Ðông Nam Á (Campuchia, Thái Lan, Mã Lai, Batak, Java) và một số nhóm dân ngoài châu Á.

Kết quả nghiên cứu ghi nhận: Mức độ biến thiên đa hình thái(polymorphic variation)trong nhóm Ðông Nam Á cao hơn nhóm Ðông Bắc Á.Khi phân tích di truyền quần thể (population genetics) đã đưa đến kết luận: Con người di cư từ châu Phi sang Ðông Nam Á khoảng 60.000 năm trước và sau đó di chuyển lên Bắc Á, Siberia. Các nhóm dân Polynesian (Ða Ðảo) cũng có nguồn gốc từ Ðông Nam Á. (11)  

3/ Một nghiên cứu của nhóm khoa học Hàn Quốc: Kim&đồng nghiệp dùng 5 genes trong nhiễm sắc thể Y để khảo sát 2 nhóm dân Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông Cổ) và Nam Á (Indonesia, Philippine, Thái Lan, Việt Nam) cho thấy người Việt gần với nhóm dân Bắc Á (nhất là Hàn Quốc) hơn là các nhóm dân Nam Á. (12).  

4/ Trong một nghiên cứu khảo sát tần số biến thiên mtDNA của 153 mẫu vật độc lập từ 7 quần thể châu Á, Ballinger S.W nhận thấy sự đa dạng lớn nhất cũng như tần số cao nhất của mtDNA HpaI/HincII dạng 1 ở người Việt Nam chứng tỏ nguồn gốc Mông Cổ phương Nam của người châu Á. Ðiều này cũng có nghĩa là Người Việt Nam cổ hơn cả trong các sắc dân Ðông Nam Á (13)

5/ Nhà khoa học người Mỹ gốc Hoa Lý Huỳnh (Li Jin) cùng nhóm của ông ở Ðại học Tổng hợp Texas qua công trình khảo sát nhân tố microsatellites lặp lại liên tục trong chuỗi xoắn DNA của 43 nhóm người Hoa phân bố khắp châu Á đưa ra kết luận:

Homo Sapiens (người khôn ngoan) từ châu Phi thiên di tới Trung Ðông. Từ Trung Ðông một nhóm rẽ sang phía Ðông đi qua Pakistan, Ấn Ðộ rồi men theo bờ biển Nam Á. Nhóm người này đến Ðông Nam Á vào khoảng 60-70.000 năm trước. Họ nghỉ ngơi ở đây khoảng 10.000 năm rồi chia tay nhau: 50.000 năm trước đặt chân tới châu Úc, 40.000 năm trước tới New Guinea... Một bộ phận đi tiếp lên phía Bắc, tới Trung Hoa. Từ đây, họ đi xa hơn nữa tới Siberia, băng qua eo biển Bering tới Alasca vào châu Mỹ, thành người thổ dân châu Mỹ.(14) )  

6/ Hai công trình của Peter Savolainen và Jenifer A. Leonard cùng đồng nghiệp phân tích xương chó cổ tìm được ở Mexico, Perou, Bolivia... thấy rằng các loài chó được đưa vào châu Mỹ trước thời Columbus đều bắt nguồn từ giống chó Âu-Á. Khi nghiên cứu kỹ, thấy tổ tiên chó nhà là chó sói Ðông Nam Á bởi phân tích DNA cho thấy đa dạng di truyền của các loài chó Ðông Nam Á cao hơn nhiều so với loài chó châu Âu. Ðó có thể là từ con chó sói duy nhất được thuần hóa cách nay ít nhất 15.000 năm (15).

Kết luận này cũng phù hợp với phát hiện từ giữa thế kỷ XIX của C. Darwin trong cuốn Nguồn gốc các loài (The Origin of the Species ): tất cả các giống gà nuôi trên thế giới đều có nguồn gốc từ gà rừng Ðông Nam Á. Ðiều này cũng phù hợp với thông báo chúng tôi vừa nhận được từ Gs Nguyễn Văn Tuấn (Garvan Institute of Medical research nước Úc): giống gà chọi nổi tiếng Shumo của Nhật cũng có nguồn gốc Ðông Nam Á.  

7/ Cũng trong thời gian những thông tin trên công bố thì một cuốn sách gây xôn xao dư luận được phát hành. Ðó là cuốn Ðịa đàng ở phương Ðông của Stephen Oppenheimer. Ông là tiến sĩ khoa Nhi người Anh, từng sống 20 năm ở vùng đảo Ðông Nam Á. Từ nghiên cứu lịch sử, truyền thuyết, ngôn ngữ, xã hội và di truyền ở nhiều nước Ðông Nam Á, ông đưa ra nhiều thông tin mới về vùng đất huyền bí này.

S. Oppenheimer chứng minh rằng, 60.000 năm trước, khi người tiền sử đặt chân tới Ðông Nam Á thì Trái đất đang trong thời biển thoái: mặt nước biển thấp hơn ngày nay 130 met. Khi đó, đồng bằng sông Hồng lan ra tới tận đảo Hải Nam và được đặt tên là lục địa Nanhailand. Cũng thế, vùng Bắc Indonesia lan tới nam đảo Ðài Loan là đồng bằng Sunda, được gọi là lục địa Sundaland. Người tiền sử tới sống ở vùng đất thấp nhiều sông hồ, cây cối rậm rạp kiếm ăn dễ dàng này. Chính từ đây các chủng người gặp nhau, hòa huyết làm nên tổ tiên người Ðông Nam Á. Cũng chính tại đây, công cụ đá, đồ gốm được chế tác, cây lúa và khoai sọ ra đời cùng với những con gà con chó đầu tiên được thuần hóa. Vào khoảng 18.000 năm trước, nước biển bắt đầu dâng mỗi năm 1 cm. Một số nhóm người di cư lên khu vực cao hơn ở phía Tây và làm nên Văn hóa Hòa Bình. Khoảng 8000 năm trước, do nước dâng thật cao, lên tới Việt Trì, lục địa Nanhailand và Sundaland chìm trong nước, đẩy một bộ phận lớn dân Ðông Nam Á di chuyển lên lục địa Trung Hoa tạo nên đồ đá mới ở Trung Quốc.(16)

Tổng hợp những nghiên cứu trên đưa tới nhận định sau:  

1/ Con người từ Ðông Phi thiên di tới Trung Ðông. Từ đây một nhánh rẽ hướng đông qua ngả Pakistan, Ấn Ðộ rồi men theo bờ biển Nam Á đến lục địa Ðông Nam Á khoảng 70 đến 60.000 năm trước. Nghỉ lại ở đây 10.000 năm sau đó hậu duệ của họ đi lên phía Bắc, tới Trung Quốc, đến Siberia rồi vượt eo Bering đặt chân sang châu Mỹ khoảng 30.000 năm trước. Cũng từ Ðông Nam Á, một nhánh đến Úc vào 50.000 năm trước và đến New Guinea 40.000 năm trước.  

2/ Hiện tượng người Việt gần người Bắc Á, nhất là Hàn Quốc (nghiên cứu 3) là lẽ tự nhiên vì cộng đồng Bách Việt sau khi khai phá lục địa Trung Hoa đã bị người Hán chiếm đất, buộc phải tràn ra biển, sang Nhật, Hàn Quốc. Người Nhật, người Hàn hiện đại là hậu duệ của người U Việt trong dòng Bách Việt. Với người Hàn còn có yếu tố lịch sử nữa: vào cuối thời nhà Lý, thế kỷ XIII nhiều nhóm thuyền nhân nhà Lý tỵ nạn vượt biển đến Hàn Quốc trong đó có hoàng thân Lý Long Tường dẫn một đoàn di dân hoàng tộc khoảng 500 người sang cả Bắc và Nam Hàn. Qua hơn 700 năm, những thuyền nhân này bổ sung nguồn genes Việt vào dòng máu Hàn.  

3/ Kết luận người châu Á có nguồn gốc Mông Cổ phía Nam của Ballinger là có cơ sở: Người tiền sử đến Ðông Nam Á gồm hai đại chủng Mongoloid da vàng và Australoid da đen. Trong thời gian dừng chân tại miền đất này, hai đại chủng đã hòa huyết tạo nên chủng Indonesien, Melanesien cùng những chủng trung gian giữa chúng (Nguyễn Ðình Khoa Sđd). Ðấy là kịch bản chung theo đoán định của các nhà nhân chủng học. Tuy nhiên rất có thể xảy ra khả năng sau: một nhóm Mongoloid vì lý do nào đó không hòa huyết với chủng Australoid, đi theo con mồi lên phía bắc Ðông Nam Á và sống biệt lập.Khi băng hà vừa tan, đoàn người này vội vàng đi lên theo con đường Ba Thục rồi định cư ở tây bắc Trung Quốc thành chủng Mongoloid phương Bắc. Người Hán phương Bắc là một nhánh của chủng tộc Mông Cổ này. Giả thuyết trên được củng cố nhờ công bố của Gs. Ranjan Deka Ðại học Cincinnati, một trong những người tham gia Dự án Ða dạng di truyền người Hán: "Những quần thể từ Ðông Á tới luôn luôn bắt nguồn từ một dòng riêng rẽ, điều này tạo nên nguồn gốc riêng biệt của những quần thể đó." (Populations from East Asia always derived from a single lineage, indicating the single origins of those populations. Los Angeles Times,September. 29.1998). Do một sự ngẫu nhiên nào đó, một dòng riêng rẽ thuần Mongoloid đi lên phương Bắc rồi định cư ở tây bắc Trung Hoa đã làm nên chủng Mongoloid phương bắc. Có thể tìm thấy dẫn chứng trong khảo cổ học: " Ðiều khó khăn nhất là rất ít sọ người được tìm ra ở đấy, dù có di chỉ đồ đá ở Mông Cổ (văn hóa Hetao) và ở bắc Trung Hoa vào hậu kỳ đá cũ. Ngoài ba sọ thuộc lớp khảo cổ trên ở trong hang Zhoukoudian xem như thuộc chủng tiền (proto) Mongoloid, người ta chỉ tìm được sọ Liujiang (Quảng Tây). Sọ này có tuổi định khá trẻ (10.000 năm trước), nhưng di vật trong Bailiandong (Bạch Liên động) gần đó lại có tuổi 30.000 năm trước.(17). Dù rất hiếm hoi nhưng những dấu vết trên cho thấy: người Mongoloid từ Ðông Nam Á theo hành lang phía tây lên tây bắc Trung Quốc. Việc nghèo nàn di vật cũng nói lên một điều: nhóm người này tuy đi làm nhiều đợt nhưng vì số lượng không nhiều nên chỉ tạo được quần thể thiểu số Mongoloid phương Bắc.

Như vậy, cho dù được gọi là nhóm Mông Cổ phía bắc thì thực chất họ cũng từ Ðông Nam Á đi lên. Ðề xuất của Ballinger S.W hoàn toàn có cơ sở. Rất có thể tổ tiên người Altaic cũng từ Ðông Nam Á đi lên theo cách này?

Cùng thời gian đó, người Bách Việt thuộc chủng Indonesien, Melanesien-sản phẩm hòa huyết giữa hai đại chủng Mongoloid, Australoid và là chủ nhân của Văn hóa Sơn Vi, Hòa Bình đi lên khai phá lục địa Trung Hoa, sống tản mác khắp Hoa lục, từ lưu vực sông Dương Tử tới lưu vực sông Hoàng Hà. Khoảng 2800 năm TCN người Hán tràn qua sông Hoàng Hà xâm lấn, dồn người Bách Việt xuống phía Nam. Trong khoảng thời gian nhiều ngàn năm tiếp xúc Hán-Bách Việt đã xảy ra sự hòa huyết giữa hai chủng người khiến yếu tố Mongoloid trong người Bách Việt tăng lên. Trong quá trình này, dân Bách Việt chuyển dần từ Indonesien, Melanesien sang loại hình Ðông Nam Á. Do người Bách Việt đông mà người Hán Mông Cổ phương Bắc ít nên trong thực tế, cuộc hòa huyết với Bách Việt khiến cho người Hán phương Bắc bị đồng hóa thành người Mông Cổ phương Nam. Người thời Ðường Ngu, rồi sau đó là nhà Hạ, mà Hạ Vũ là người Miêu Việt. Tiếp theo là nhà Thương. Thành Thang, ông vua đầu tiên của Trung Quốc là người mang gene châu Phi đen từ Ðông Nam Á đi lên, cả đến Lão tử cũng vậy. (The Shang, for example, China’s first dynasts are described as having "black and oily skin". The famous Chinese sage Lao-Tze was "black in complexim". (Los Angeles Times, September. 29. 1998) (Thang, ông vua đầu tiên của Trung Hoa được mô tả là có nước da đen bóng. Triết gia nổi tiếng Lão tử cũng có màu da đen.) Nhóm chủng tộc thuộc loại hình Ðông Nam Á này theo thời gian trở nên thành phần chủ thể của dân cư Ðông Á. Ðó là lý do dẫn đến Người châu Á có nguồn gốc Mông Cổ phương Nam và genes người Hán phương Bắc không giống người Hán phương Nam.  

4/ Kết luận của nghiên cứu số 2: Biến thiên đa hình thái(polymorphic variation) của người Nam Á cao hơn Bắc Á và nghiên cứu số 4:Chỉ số đa dạng sinh học (F-value) của người Việt cao nhất trong nhóm dân Ðông Nam Á . Hai kết luận này cho thấy Người Việt là cư dân lâu đời nhất Ðông Nam Á, cũng có nghĩa là lâu đời nhất ở Ðông Á.  

5/ Nghiên cứu 6 nói về chó cũng là nói về người bởi những vật nuôi đó không thể tự làm những cuộc hành trình vạn dặm. Chúng là tài sản của con người trong bước thiên di. Ðiều này thêm bằng chứng cho việc người Ðông Nam Á nông nghiệp thuần dưỡng chó và đã tới châu Mỹ ít nhất là 15.000 năm trước.  

Như vậy là nhờ cây đũa thần công nghệ genes, khoa học đã giúp giải được bài toán vẫn là mối bận tâm của nhân loại hàng trăm năm nay. Trái ngược với những lý thuyết được cho là kinh điển trước đây, người Ðông Á không phải từ cao nguyên Tây Tạng đi xuống mà từ Ðông Nam Á đi lên. Cũng không phải nước Tàu là trung tâm của thế giới, người Trung Quốc không phải là con trời mà là cộng đồng được sinh ra muộn hơn trong những sắc dân Á Ðông. Văn minh Trung Hoa dù rực rỡ đến mấy cũng là kế thừa của nền văn minh lúa nước Việt tộc huy hoàng trong quá khứ... Cái gì của Cesa phải được trả lại Cesa! Cuốn lịch sử thời tiền sử Ðông Á phải viết lại từ đầu.    



CÒN TIẾP ...




© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ VÀ NEWVIETART .



TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ TRUYỆN NGẮN NHẬN ĐỊNH