TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




. Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

. Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái
trong giấy tờ tuỳ thân 1936.

. Khởi sự viết văn cuối 1952.

. Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

. Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

. Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút - báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

. Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… -

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la banlieue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur - Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).





BÚT KÝ & TRUYỆN


THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 1/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E -mail 2/2

CHÀNG VĂN SĨ ĐẤT TỀ

ĐÊM DÀI TÌNH ÁI

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA -Chương 1 Kỳ 1

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 1 Kỳ 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 2/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3 tiếp theo

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 4

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 4

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 5

CON CHÓ LIÊM SỈ

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 6

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 5

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 7

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 8

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 9

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 10 - KẾT





BIÊN KHẢO


LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 1

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 2

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 3

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 4

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 5

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 6

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 7

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 8

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 9

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 10

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 11

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 12

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 13

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 14

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 15

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 16

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 17






















THAY LỜI DẪN

Lược Sử Văn Nghệ Việt Nam của nhà văn Thế Phong gồm 4 tập, đã được in 2 tập: Tập 1 NHÀ VĂN TIỀN CHIẾN 1930-1945, bản in ronéo đầu tiên ở Sài Gòn gồm 100 cuốn vào năm 1959. Bản tái bàn cuả NXB Vàng Son in 3000 cuốn ở SàiGòn vào năm 1974. Bià cuả họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi được chụp in lại trên đây , do một trong những NXB vô danh ở Mỹ in lậu ở California sau 1975 và Tập 4 : Tổng Luận đã chuyển ngữ A BRIEF GLIMPSE AT THE VIETNAMESE SCENE (from 1900 to 1956) và 2 tập 2 & 3 nói về văn nghệ kháng chiến, nhà văn hậu chiến 1900 - 1956 (văn nghệ quốc gia hay văn nghệ của VNCH) chưa bao giờ công bố trên văn đàn, mặc dù đã được lưu trữ tại một số thư viện TRONG NƯỚC (Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. HCM, Thư viện Khoa học Xã hội Tp.HCM) và NGOÀI NƯỚC như ở Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, Boston, Ithaca-New York, SIU, IOWA vv..hoặc ở Pháp, Đức, Úc..

Newvietart xin đăng tải lại một vài nhận định báo chí, văn giới về Lược Sử Văn Nghệ khi xuất bản lần đầu vào 1959 :

a) Tạp chí Bách Khoa:" ..Ông TPhong vừa cho ra một loạt phê bình văn học. Đó là ai nấy đều mong đợi, bởi vì sau một thời gian khá lâu chưa ai tiếp tay Vũ Ngọc Phan, chốc đà mười mấy năm trời' đúng một thời gian luân lạc cuả cô Kiều...."( số 56, năm 1959, TRIỀU ĐẨU)

b) Ông TP một văn nghệ sĩ thủ đô vừa viết xong và cho phát hành cuốn" Lược sử Văn Nghệ VN", trong đó tác giả phân tích các tác phẩm của văn nghệ sĩ ra đời từ 1930 đến 1945. Cuốn này được quay ronéo có bầy bán tại các hiệu sách. Sách này tác giả đã tốn nhiều công phu và sưu tầm khá nhiều tài liệu để biên soạn (nhật báo Ngôn Luận ngày 8/9/1959- Saigon).

c) ..." Điều thứ ba, sự phán đoán của anh hợp với ý tôi, phần nhiều các tác phẩm anh khen, thì tôi cũng nhận là có giá trị; những tác phẩm anh chê, thì tôi cũng không thích. các nhận xét cuả anh về Triều Sơn, Hoàng Thu Đông đều đúng cả. Đó là nhận xét của tôi; tôi phải phục sức đọc, sức viết, sức nhớ cuả anh. Cảm ơn anh một lần nữa.." (Nguyễn Hiến Lê, 12/3c Kỳ Đồng, Saigon 3- ngày 17/4/1959)

d) Nguyệt san Sinh Lực (1959, Chủ nhiệm: Võ văn Trưng- Saigon) :"...Hôm nay Thế Phong còn có thể ít nhiều nhầm lẫn-nhưng với khả năng rạt rào của tuổi trẻ, với lòng yêu văn nghệ đến đam mê, anh còn nhiều bước đi ngạc nhiên trên lãnh vực nà để đào xới lại mảnh đất hoang phê bình cảo luận bị bỏ quên trong nhiều năm. Sự cố gắng của Thế Phong là sự cố gắng hoàn toàn văn nghệ, cuả một người văn nghệ biết mỉm cười trong sự nghèo túng bản thân mình để hiến chiều dài cho văn học sử. Cũng có đôi khi ta thấy Thê Phong phê phán có vẻ độc tài và tàn nhẫn nữa; nhưng ta vẫn thấy rằng: đó là sự độc tài và tàn nhẫn không có tính cách tự cao, tự đại; hoặc dao to búa lớn; (trái lại) nhiều tinh thần thẩm mỹ, dĩ nhiên là có chủ quan. Ta quí sự nhận thức ấy- vì anh dám nói- cũng như người khác có dám cãi lại hay không là quyền của họ.." (Lê Công Tâm - Thanh Hữu, nhà văn).

e) Le Journal d'Extrême Orient (Saigon, 3 Décembre 1959)" Lược sử văn nghệ Việt nam-Hisotire de la littérature vietnamienne". Histoire sommaire de la littérature vietnamienne, òu l'auteur passe en revue les écrivains d'avant guerre 1930-1945. Cette oeuvre est tirée sur ronéo avec une tirage limitée. Fruit de minuitieuses recherches et d'une riche documentation donnée une vue d'ensemble des diverses époques et tendances des écrivains, des poètes du Vietnam, de leurs oeuvres, d'une littérature riche de plusieurs millénaires suivant le cours de l'Histoire. C'est une synthèse remarquablement coordonné annotée parle critique éminent qu'est ThếPhong qui l'achevée dans les derniers jours de Juin 1956

(đã in ở cuối sách "LSVNVN-Nhà văn tiền chiến 1930-1945 của ThếPhong, NXB Vàng Son Saigon 1974)...

Từ Vũ và Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những người muốn khách quan sưu tra sử liệu .





VÀI DÒNG TÂM SỰ NGƯỜI VIẾT SÁCH

T rước hết cảm ơn bậc đàn anh bước trước: Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh – Hoài Chân ... (chẳng là gần với tài liệu văn học tham khảo, cũng như so sánh).

Viết sách biên khảo hay phê bình, giá trị nhiều hay kém có thể nằm trong vài ý kiến dưới đây: Lập trường người viết phải có trước khi tìm kiếm tài liệu. Ấy là đã phải kể tới kiến thức, học và đọc; khả năng và tâm hồn văn nghệ nhạy cảm của người viết phê bình.

Lại cần kinh nghiệm, nhỡn quan nhìn, phải được chế biến theo lập luận người viết càng nhuyễn, sách càng phong phú. Không thể coi sách tương tự như cours nhà trường, làm thành gọi là biên khảo, phê bình văn học. Cũng như étude, non-fiction, fascicule, étude critique sur critique phân minh rõ ràng.

Tài liệu dồi dào, nhưng tài liệu nào chưa đọc, không nên bao biện. Người viết không định ý, lập luận; hẳn tài liệu phong phú dồi dào đi nữa; cuối cùng người viết chết theo với tài liệu sưu khảo được. Nhớ tới Nguyễn Hiến Lê trong một sách biên khảo bàn về tài liệu, nhất là tìm tài liệu văn học, sử học Việt Nam khó gấp bội phần khi sưu tập tài liệu tương tự ở nước ngoài. Ý kiến thật xác đáng. Nước ta triền miên khói lửa, và tầm mức thẩm định giá trị tài liệu văn học chưa được sử dụng đúng mức, công bằng.

Cộng đời sống thấp kém, ít thời giờ đọc sách, mua sách, bảo tồn sách, nên tủ sách văn học Việt Nam cần cho người viết sử dụng còn ở tình trạng rất thiếu thốn.

Khi viết bộ sách này, khích lệ tôi nhiều nhất phải kể tới một người: đó là anh Nguyễn Đức Quỳnh. Ông nhắn nhủ tôi rằng: “tài liệu nhiều chưa chắc đã là một yếu tố thành công, còn phải dám làm, dám nhận trách nhiệm”.

Đôi khi, chính kẻ dám làm lại liều lĩnh và dám biết mình ngu. Như vậy, chắc chắn tôi biết trách nhiệm khi viết sách. Cảm ơn một lần nữa nhà văn lão thành Nguyễn Đức Quỳnh, ông bạn văn tiền chiến vong niên. Nữa, cho tôi xin cảm ơn thêm vài tấm áo vải lao động: như anh chị Hai Nụ ở Xóm Chùa (Tân Định) làm nghề thợ thêu. Anh chị nuôi sống tôi hai năm trời: cơm và nhà ở. Nhà thuê vào năm viết bộ sách là một trăm năm mươi đồng. Tiền cơm bốn trăm đồng. Chưa hết, ông già Lịch bán thuốc lá, cũng ở đây; cho tôi chịu khoảng hai ngàn đồng tiền thuốc lá. Thuốc lá Ruby khoảng sáu đồng một bao. Sáu tháng liền, tôi chỉ đi ra tới ngõ; xa hơn là 147B Trần Quang Khải (Sàigòn 1) tới tiệm cho thuê sách Đức Hưng. Nơi này đủ gần hết tác phẩm tiền chiến, giấy dó Hàn Thuyên, mướn đem về đọc để làm tài liệu viết. Một người bạn nữa anh Lung cũng ở Xóm Chùa ngập nước, có một tủ sách khá lớn. Anh cho mượn và tôi sử dụng một cách sở hữu chủ. Anh từ miền Bắc vào Nam lâu, có viết báo tài tử, một người thật chân tình. Phải chăng chân tình này làm tôi cảm động, khi nghe kể đoạn đời anh tham gia kháng chiến ở Nam Bộ bị Pháp cầm tù. Đời tù đầy thêm kinh nghiệm sống, đời quất ngọn roi phũ phàng bao nhiêu, nạn nhân chịu nổi hờn đau sẽ sống lâu hơn; sau thì người ấy sẽ được liệt vào bậc tốt nhất xã hội trên mọi phương diện.Và một bạn học cũ Hà Nội : Tạ Văn Tài đạp xe đạp thăm tôi để khích lệ - trước khi anh đậu hai thủ khoa Văn chương và Luật khoa Sài Gòn rồi sang Mỹ du học.

THẾ PHONG





BÀI THỨ 17

PHẦN A

NHÀ VĂN KHÁNG CHIẾN CHỦ LỰC
1945 - 1950

ĐẶT ĐÚNG VẤN ĐỀ VĂN NGHỆ KHÁNG CHIẾN

Hoàn cảnh chính trị.

Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh năm 1945, quân đội Anh có nhiệm vụ sang bán đảo Đông Dương để tước khí giới Nhật từ vĩ tuyến 17 trở về Nam. Và quân đội Trung Hoa phụ trách từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc. Lợi dụng hoàn cảnh thuận tiện, Pháp đem quân đổ bộ lên Sài Gòn theo chân tướng Cédille. Và tướng Gracey của Anh quốc cố tình giúp Pháp tái lập chế độ thực dân ở nước ta. Lợi dụng chính sách cướp lại thuộc địa cũ mà không mất một viên đạn nào. Ý định này được tác giả Sainteny viết lại trong cuốn Histoire d'une paix manquée (tạm dịch : Lịch sử cuộc hòa bình hụt)(1). Do đó có sự kiện ký thỏa hiệp sơ bộ 6–3–1946. Đối với Leclerc chỉ là thái độ lặp lại chính sách thực dân lỗi thời; mà Pháp tin rằng sau thời kỳ đại chiến, Việt Nam vẫn là mảnh đất thuộc địa ngon lành. Và sau ngày 19–12–1946, Pháp lại sai nhà chính trị Moutet sang cứu vãn hòa bình, ông này tuyên bố : “... Chúng ta phải dùng quân sự cho đến khi nào quân đội Pháp đem lại được an ninh trật tự, thì lúc ấy mới đề cập đến vấn đề thương thuyết chính trị...”.

Khi Pháp đổ bộ vào Việt Nam cho đến những ngày cuối cùng của năm 1955, thì cái gọi là Chính phủ Quốc gia chỉ là bù nhìn, được lồng trong mỹ từ Liên hiệp Pháp. Chủ quyền quốc gia nằm trong tay các thượng tướng, đầu tiên là Leclerc, d’Argenlieu, De Lattre de Tassigny... và đặt dưới quyền chỉ huy tối cao của Bộ Thuộc địa Pháp. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, ông Hồ Chí Minh lên đăng đàn ở Nhà Hát Lớn kêu gọi các đảng phái liên kết lại, phần cá nhân chính trị của ông, giã từ hẳn chủ nghĩa Mác xít. Đó là Ngày lớn, khởi sự cho cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam. Tinh thần kháng chiến Việt Nam thần thánh và thiêng liêng như cuộc cách mệnh 1789 của Pháp. Và ý nghĩa như cuộc kháng chiến chống Nhật thành công của Phi Luật Tân, Nam Dương chống Hòa Lan 1948 vậy.

( .................................................................................................. )

Văn nghệ kháng chiến.

Cuộc kháng chiến vĩ đại này được phản ánh trong văn chương là lẽ đương nhiên và từ đó có bình diện văn nghệ kháng chiến. Và phân hạn của bình diện văn nghệ kháng chiến này mất thực chất từ 1950, khi ông Mao Trạch Đông đuổi được Tưởng Giới Thạch ra khỏi lục địa, thành lập Cộng hòa nhân dân Trung hoa từ 1950. Từ ngày ấy, Trung hoa, Liên Xô và các chư hầu đều thừa nhận chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Ít ngày sau, ông Trường Chinh lên đăng đàn ở chiến khu Việt Bắc về vấn đề văn nghệ cần phải thay đổi, hướng tới văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa và ông Nguyễn Mạnh Tường vào trong Liên khu Bốn họp văn nghệ phản hồi nhẹ nhàng gọi đó là văn nghệ một chiều. Vậy văn nghệ theo hướng mới của ông Trường Chinh là gì? Cũng là bản sao nhỏ chép theo đường lối văn nghệ Mác xít Liên Xô. Nói qua về đường lối văn nghệ chỉ huy của Xô Viết vài hàng, người đứng đầu là Jdanov, Ủy viên bộ Chính trị, đặt vào khuôn phép kể từ 1946; nên sự xê dịch chuyển biến văn nghệ kháng chiến Việt Nam sang văn nghệ hiện thực, mà người thực hiện cho bằng được là Tố Hữu.

Mở đầu cho nền văn nghệ kháng chiến vào năm 1946, sách, báo cũ trước 1945 bị loại bỏ. Cửa hàng mới bầy những tập văn mang nặng luận đề văn nghệ Mác xít, chống lại ý thức hệ cũ. Trong giai đoạn này, cần phải viết ngắn, gọn, càng ngắn bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu ; cốt truyền cảm, dễ cảm, dễ hiểu. Nên một Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh của nhóm Xuân Thu Nhã Tập (tiền chiến), đã phải ly khai với lối thơ bí hiểm như Mầu Thời Gian, Người Xuân... để rồi Nguyễn Xuân Sanh lột xác, tiến tới làm thơ lục bát Làng nghẹt trong rừng đêm. Đó là thơ lục bát cải tiến trong kháng chiến gọi là bình cũ rượu mới; vì thơ lục bát hết sức gần gũi, quen thuộc với anh em chiến sĩ, đồng bào kháng chiến, lúc cao hứng có thể ngâm sang lối cò lả, vừa làm vừa hát. Một Nguyễn Tuân trút khỏi lớp áo Vang Bóng Một Thời, tác phẩm của thời vàng son, tác phẩm của nỗi u uẩn; nay khép mình đi vào thực tiễn cuộc sống với văn hiện thực tranh đấu trong tạp văn Gió Lào. Đó là thiên tạp bút thật truyền cảm, đề cao nhẫn nhục, chịu đựng gian lao kháng chiến. Hoặc Hoàng Cầm, với thi kịch bốn màn mang tựa đề Kiều Loan, vở kịch đặc sắc nói lên thời anh dũng của sự chống đối vua Gia Long, đề cao triều đại anh hùng áo vải Quang Trung. Ông còn nổi tiếng với bài thơ thật hay, xúc động Bên Kia Sông Đuống; một cách viết thơ canh tân trong thời kỳ gọi là cách mạng giữ nước, đuổi quân thù. Rồi Văn Cao, từ nhạc, qua họa, lại từng qua thơ thời tranh tối tranh sáng kháng chiến, với bài thơ Chiếc Xe Đi Qua Phường Dạ Lạc, tả cảnh quân Nhật dùng lúa chạy máy điện, phá ruộng lúa trồng đay, gây cảnh đói tàn khốc chưa có trong lịch sử dân tộc Việt Nam với nạn đói năm Ất Dậu, người chết đầy đồng, đầy đường và đầy phố xá. Và Văn Cao còn nổi tiếng với ca khúc cách mạng Trường Ca Sông Lô... Những nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến, như Hữu Loan với bài thơ Mầu Tím Hoa Sim đầy tình yêu vợ con, gia đình chan hòa với tình yêu đất nước. Hình ảnh chàng Vệ Quốc thật đẹp lạ thường ! Đến Hoàng Lộc, một chiến sĩ văn tài hoa căm thù thực dân xâm lược, tiễn chân bạn đến nơi an nghỉ cuối cùng trong bài thơ năm chữ Viếng Bạn. Và còn bao nhiêu chiến sĩ làm văn nghệ trở thành người viết văn, làm thơ tài hoa nổi danh như Chính Hữu, Tất Vinh, Hồng Nguyên, Trần Hữu Thung; có thơ còn khẳng định sỏi đá cũng thành cơm như Hoàng Trung Thông v.v... Qua loại hình văn, chiến sĩ ngành y, bác sĩ quân y Nguyễn Trinh Cơ với truyện Em Ngọc, đề cao lòng yêu nước một em bé chiến đấu rất dũng cảm, hoặc truyện của Đình Quang, Hà Minh Tuân, Phùng Quán, Trần Dần, Siêu Hải ... Và trong số ấy đặc biệt một nhà thơ có nhiều bài thơ hào hoa, một thứ lãng mạn cách mạng được viết ra đầy xúc động là Quang Dũng, với Quán Bên Đường, Cô Gái Sơn Tây, Lính Râu Ria, Tây Tiến v.v...

Năm năm qua thật nhanh, văn nghệ kháng chiến đổi chiều hướng sang hiện thực. Đưa văn nghệ vào khuôn, gọi là nền văn nghệ chỉ huy Mác xít như Jdanov thực hiện ở Xô Viết từ năm 1946. Trường Chinh đọc bài diễn văn khai mạc tại hội nghị văn Chủ Nghĩa Mác với nền văn hóa Việt Nam, là bằng chứng hiển nhiên và có thực để phục vụ cái gọi là trường kỳ kháng chiến. Ở Xô Viết, khi Jdanov vung roi quất vào nền văn chương, thì những nhà văn thơ thuần túy văn nghệ vị nghệ thuật như nhà văn M. Zochenko, nhà thơ Akhamatova... những con vật tế thần lên dàn hỏa của nền văn nghệ Mác xít Xô Viết. Nhà lãnh đạo mở các lớp chỉnh huấn để giác ngộ các nhà văn thơ thuần túy văn nghệ học hỏi, ở Việt Nam bước vào giai đoạn các nhà văn thơ Nga phải đi, vào những năm từ 1928 đến 1932, lần lượt tiến tới các đợt 1946, 1947, 1948. Thái độ bóp nghẹt văn nghệ kháng chiến trăm hoa đua nở, xiết lại để kiến tạo nền văn chương vô sản vững mạnh – khi đã nhìn thấy những đợt xì hơi bất mãn đã tung ra lò, và cũng là cách tưới nước vào đám tro tàn vừa dập tắt. Một Tố Hữu được đặt vào Hội Văn Nghệ Việt Nam (VNDCCH) điều khiển cơ cấu tổ chức các hội nhà văn, thơ và đặt nền móng cho nền văn chương hiện thực vững mạnh. Phái Hàn Thuyên.

Thời tiền chiến, phe áp dụng duy vật biện chứng để sáng tác (Nguyễn Đức Quỳnh), duy vật sử quan biên khảo (Nguyễn Đức Quỳnh, Trương-Tửu-Nguyễn-Bách-Khoa, Đặng Thái Mai (2), Lương Đức Thiệp, Nguyễn Hải Âu v.v... tạo cho con người máy móc của Cộng sản về sau này làm bàn đạp. Từ 1950 trở đi, nhóm Hàn Thuyên bị phân tán, một theo phe đệ tam nắm chính quyền như Đặng Thai Mai. Còn phe nữa vì không được dùng, hoặc vì thực tâm còn chống đối, như Trương-Tửu-Nguyễn-Bách-Khoa chẳng hạn. Vì vậy, Trường Chinh không thu nhận Trường-Tửu-NBK, Nguyễn Đức Quỳnh – cho rằng Trường-Tửu-NBK viết sách biên khảo, như cuốn Nguyễn Công Trứ không phải là duy vật sử quan chính thống của Mác, mà áp dụng vào cách nhìn tổng hợp Freud và Marx (freudo-marxisme). Cho nên Trường-Tửu-NBK chỉ được nhìn như một Voronsky Việt Nam làm thí nghiệm văn hóa cho phe đệ tam cầm quyền. Đưa Mác xít và phân tâm học vào trong tác phẩm Thằng Kình, Thằng Phượng, Thằng Cu So, chẳng mấy khác với cách nhìn của lý thuyết gia Pháp, Jean Audard. Hoặc một đại lý thuyết gia Nga Plékhanoff đã hết sức đả kích, tương tự lý thuyết gia Pháp Politzer, cũng cho rằng thể hiện như vậy sẽ phân tán chủ nghĩa Mác, làm mất sự chính thống. (orthodoxie marxiste) Nên sáng tác và biên khảo của Trường-Tửu-NBK và những nhà văn trong nhóm Hàn Thuyên (trừ Đặng Thái Mai, Nguyễn Đình Lạp, Đồ Phồn) đều bị coi như không thích hợp. Hai nhà lý thuyết Plékhanoff và Politzer còn giải thích thêm rằng : “sự tổng hợp freudo-marxisme của phe tả, còn cộng thêm lý thuyết duy tâm của Taine, duy vật quá trớn của Freud, không thể dung hợp với duy vật sử quan của Marx”, mà họ coi là lý thuyết gia đúng mức và toàn diện nhất.

Phái Tự Lực văn đoàn.

Phái này đối với phe đệ tam cầm quyền không là thế lực nào phải e ngại. Tự Lực văn đoàn đã bị phân tán kể từ năm 1941, khi Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long) bắt đầu mất thế đứng, không còn viết lập trường thường xuyên đăng trên báo của nhóm nữa. Vì chính linh hồn của Tự Lực văn đoàn do Hoàng Đạo nắm và đặt nền tảng. Và những Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam ... đem lý luận vào văn chương, cũng như Thế Lữ trụ cột chính đem vào thơ.

Giai đoạn cuối của Tự Lực văn đoàn còn lóe sáng vào những năm nhật báo Việt Nam, tạp chính Chính Nghĩa còn xuất bản vào giai đoạn 1945–46. Đến khi Nhất Linh bỏ ghế Ngoại giao trong chính phủ Liên hiệp sang Nam Kinh (Trung Hoa) cùng với 50 ghế đại biểu của Việt Nam Quốc Dân Đảng ; thì coi như vai trò chính trị VNQDĐ và Tự Lực văn đoàn chấm dứt. Một số nhà văn, thơ cộng tác với TLVĐ có thể đầu hàng cộng sản (cũng như đua đòi) như Thế Lữ, Tú Mỡ v.v...

Các nhà văn bị đưa đi học chỉnh huấn và lột xác.

Tờ báo Bolchévich bên Nga lên án hai nhà văn thơ M. Zotchenko và Akhamatova ... tiếp theo bị trục xuất khỏi nghiệp đoàn văn sĩ Xô Viết, thì Akhamatova ... Chủ tịch Hội đồng Nhà Văn Trung Ương lập tức bị thay thế, với lý do để cho Hội Văn nghệ ở Léningrad in và phát hành tác phẩm của hai nhà văn trên. Rồi M. Zotchenko được đưa đi học lớp chỉnh huấn và được tái gia nhập hội, và Akhamatova bị đưa đi cải tạo ở Sibérie, còn Tikhonov được tưởng hưởng huy chương Lénine. Trong số những nhà văn nghệ học lớp chỉnh huấn đạt điểm tiến bộ như Zotchenko, còn các nghệ sĩ khác như Muradeli, Profokiev, Shostakovitch vv và vv... Thì ở Việt Nam vào năm 1957, khai mạc thành lập Hội Văn Nghệ Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết một thư đọc trước hội nghị, có đoạn :

“... cán bộ chưa có lập trường vững chắc, tư tưởng chưa thông suốt ...”

Và các nhà văn nghệ, như Nguyễn Tuân, Thế Lữ, Tú Mỡ, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Xuân Khoát, Tô Ngọc Vân, Xuân Diệu... tham dự chỉnh huấn. Như Nguyễn Tuân phải tự bạch về nhân thân và xuất thân từ gia đình ông Tú khoa thi chữ Hán cuối cùng, chịu ảnh hưởng truyền thống gia đình ; cá nhân mình nhiễm cuộc sống phóng túng đưa đẩy, thích tiêu dao tuế nguyệt, thừa nhận Vang Bóng Một Thời là thứ hàng hóa văn chương vô trách nhiệm. Trích một đoạn văn lột xác của chính Nguyễn Tuân bộc bạch :

“Trong “Vang Bóng Một Thời” tôi đã đứng về phe phía bọn ăn bám bóc lột thống trị nộng dân lao động mà đưa ra một cái nhân sinh quan phản tiến bộ của bọn quan lại địa chủ tiêu dao hưởng lạc bất lực trước nhiệm vụ lịch sử. Nhận vật “Vang Bóng Một Thời” của tôi tiêu biểu đầy đủ cho tư tưởng phong kiến địa chủ, quan liêu. Tôi không có ruộng đất, tôi không trực tiếp bóc lột nông dân lao động, nhưng sáng tác của tôi đề cao lề lối sống, đề cao uy thế chính trị địa chủ quan lại. Tôi đem tất cả những cái gì đẹp đẽ nhất để tô điểm cho bọn bóc lột áp bức.

Truyện dài “Quê hương” in năm 1943 là một tội lỗi nữa về sáng tác. Cái mà tôi định ca ngợi ở đây vẫn không ngoài cái tư tưởng tiêu dao của phong kiến. Căn bản của nó vẫn là cái tư tưởng hưởng lạc, nhưng ở một khía cạnh khác.

Tôi sang một tập khác tiêu biểu cho cái cá nhân chủ nghĩa đến cao độ của tôi. Tập “Nguyễn” in sau ngày Tổng Khởi Nghĩa. Nguyễn là nhân vật duy nhất của tập truyện. Tôi tự suy tôn qua mọi hành động ích kỷ và tàn nhẫn kiêu bạc của Nguyễn. Nguyễn cho sống là thể hiện cái cá nhân mình là dựa cái cốt cách phong kiến suy tàn của mình vào con đường phiêu lưu chủ nghĩa siêu nhân của Nietzsche và con đường cá nhân phiến loạn hành động không lý do của Gide. Nguyễn cho cuộc đời nghệ sĩ là đứng trên cái thiện ác của sự sống hàng ngày.

Tôi tự truyền thân cái thối nát và phá hoại đó vào tập Nguyễn, tự cho mình là một người hùng dám phủ nhận và đập phá cái trật tự xã hội, bây giờ, tự dối mình là cho tâm hồn vẫn thanh cao mặc dầu thân thể tẩm vào bùn nhơ của rượu, thuốc phiện, dâm ô. Nhờ ánh sáng của chủ nghĩa Mác Lê của đảng mở mắt cho thấy rõ ý nghĩa và phương hướng của nghệ thuật chân chính sau mười ba năm cuốn sách đầu tiên nay tôi nhận thấy rõ giá trị của sự nghiệp văn chương cũ của tôi chỉ là một mớ sai lầm và tội lỗi". Đến Thế Lữ, nhà thơ chủ lực trong Tự Lực văn đoàn, đã tự thú, để thoát khỏi bị ám ảnh thủ tiêu như Khái Hưng, Nguyễn Triệu Luật, Lan Khai, Phan Trần Chúc; được phép viết :

“Riêng về mặt văn nghệ, sai lầm của tôi biểu hiện ở:

Quan hệ với TLVĐ.

Quan hệ với Nguyễn Tường Tam.

Nhận thức không đúng về sự nghiệp văn thơ của tôi từ cách mạng tháng tám về trước.

Qua lớp chỉnh đảng, ánh sáng chủ nghĩa Mác, Ăng ghen, Lê Nin, Xta Lin, chân lý tư tưởng vô sản đã chỉ cho tôi biết hướng đúng mà suy nghĩ, và do đó về hoạt động văn nghệ trước kia, tôi phá được những từng ám ảnh khói dầy đặc và nhìn cuộc đời thực của “Tự Lực văn đoàn” của Nguyễn Tường Tam và sự nghiệp văn thơ của tôi. “Tự Lực văn đoàn” chủ trương không những không tiến bộ mà còn phản lại tiến bộ, có tội với nhân dân. Sau cách mệnh thất bại tư sản, nhân dân càng bị áp bức và mê muội, “Tự Lực văn đoàn” tung ra khẩu hiệu yêu đời vui vẻ và trẻ trung và nêu nhãn hiệu cải cách để lôi kéo từng lớp thanh niên tiểu tư sản đang hoang mang trước thời cuộc. Văn thơ tiểu thuyết nó đề cao tư tưởng phi vô sản, đưa thanh niên vào con đường lãng mạn buông thả tự do, cá nhân thoát ly trốn tránh thực tế ...”

Tiếp Xuân Diệu, thi sĩ giá trị tâm lý lãng mạn tiền chiến, lãng mạn cách mạng kháng chiến, coi như lạc hậu trước thành trì con người mới trong văn chương Mác xít. Bài thơ lột xác đầy tính công thức, gượng gạo :

TRƯỚC ĐÂY BỐN THÁNG

Trước đây bốn tháng tới trường

Hồn tôi nghiêng ngả trí thường hoang mang

Đường đi quên ánh vinh quang

Bạn thù lẫn lộn trái ngang cảm tình

Kéo dài tâm trạng lênh đênh

Sống mà lắm lúc như mình bỏ đi

Hôm nay hết học kỳ chỉnh đảng

Bước đầu tuy chửa là bao

Nhưng nghe đã rộng đã cao vô ngân

Mẹ xưa chăm cháo chăm cơm

Đảng nay nuôi nấng còn hơn mẹ hiền

Bệnh từ đời cũ liên miên

Đảng trong thức ngủ chăm liền sớm hôm

Mẹ nào hiểu hết nỗi con

Đảng thông suốt cả nguồn cơn nỗi niềm

Chẳng nề ung nhọt xét xem

Căm thù với bệnh hòa êm với người

Khuyên ta tin tưởng không rời

Và tin tưởng ở cuộc đời của ta

Cứu người Đảng vẫn thiết tha

Một lòng sửa chữa cho ta tốt lành

Lòng Đảng tựa núi xanh hùng vĩ

Tôi xin theo chung thủy đến cùng

Đào sâu suy nghĩ cảm thông

Mới hay đảng ở trong lòng mà ra

Ta có Đảng Đảng có ta

Dưới cờ một phút chẳng xa chẳng rời

Ở đâu nước mắt mồ hôi

Ở đâu người bóc lột người mà ăn

Ở đâu còn giặc thực dân

Còn phường áp bức còn thân tôi đòi

Đảng còn tranh đấu mà thôi

Ta còn theo Đảng suốt đời tiến lên.

XUÂN DIỆU

Nguyễn Công Hoan bộc lộ tâm tư sau kỳ học chỉnh huấn, nhà văn này thú tội thầm kín khi ông viết cuốn truyện “Thanh Đạm” như thế nào ? Ở bên Nga, khi tờ báo Bolchévich lên án nhà văn M. Zotchenko phản động, tức khắc sau đó bị bắt và đưa đi học chỉnh huấn. Ở Việt Nam, khi báo Cờ Giải Phóng có bài lên án thái độ ngang ngạnh ương bướng của Nguyễn Công Hoan, sau đó ông phải làm tường trình thú nhận tội lỗi mắc phải. Dưới đây trích một đoạn thú tội đăng trên tạp chí Sinh Hoạt :

“ ... Cuộc chỉnh huấn vừa qua Đảng đã chỉ cho tôi trông thấy được tâm cái nguồn gốc lai lịch tội lỗi của tôi. Tôi thấm thía là Cách mạng tháng Tám đã cứu sống tôi lại. Nhưng từ sáu năm nay tôi vẫn như một đứa trẻ ngã sông, nắm được cái cọc cứu mình rồi mà vẫn chưa biết mình sống. Tình trạng u mê này còn triền miên thêm nữa không? Tôi có thể tự trả lời tôi không thể được ...”

Họa sĩ Tô Ngọc Vân, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, chiến sĩ văn Hà Minh Tuân cũng không đi ngoài khuôn mẫu bị học chỉnh huấn được. Học tập cải tạo tư tưởng (học chỉnh huấn) là xóa đi, tư tưởng quá vãng không tiếc, chỉ mong được sống có ý thức khi đã được Đảng cứu sống, như Nguyễn Công Hoan là đứa trẻ tắm sông chết đuối, được cây gậy đưa ra cứu, vẫn thấy mình như chưa được sống thực. Lời nhận tội này nghe chừng nhận mà chưa chắc đã nhận, nhận rồi chưa chắc sáng suốt nhận. Các văn nghệ sĩ Mác xít chịu rèn luyện trong nền văn nghệ chỉ huy, như ngày nào Bogdanov (Xô Viết), cũng như Boukharine, Trostky... bao nhiêu lần thảo luận đi đến sự muốn gầy cho vườn hoa văn chương muôn ngàn sắc hoa đua nở (tất nhiên là vườn hoa văn chương vô sản) ; cuối cùng vẫn chỉ là con số không mà thôi. Hãy đọc một đoạn trích mà Boukharine phải thốt lên điều thất bại :

“... Cuối cùng, nếu không có sự tự do thảo luận (không kiềm chế) mới hy vọng có một nền văn nghệ vô sản đích thực lớn dậy. Nói như vậy, tôi (Boukharine) vẫn mang tâm trạng vì một tương lại văn nghệ vô sản...” (3).

Ngay như một nhà văn vô sản tầm cỡ Ilya Ehrenbourg nghĩ về việc cần phải bóp nghẹt tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ ; sau nhiều lần thử nghiệm, cũng băn khoăn bộc lộ tâm trạng:

“... Chẳng hạn, xưa kia Maxime Gorki sáng tác tiểu thuyết “Người Mẹ” hoặc Léon Tolstoï sáng tạo truyện “Anna Karénine” có nhận mệnh lệnh của ai để viết không nhỉ...”

Trở lại nhà văn Nguyễn Công Hoan với tập truyện viết về sau này Nông Dân và Địa Chủ (1955), Tô Hoài với truyện Tây Bắc (1953), những cuốn sách này được đặt hàng và đưa ý thức hệ đấu tranh của vô sản lồng trong sáng tác tuyên truyền công nghiệp vô sản. Nên nhớ rằng sáng tác bao giờ cũng mang tính chất truyền cảm, nhiều hình động lực tự nhiên, không gò ép; nói chung tự do sáng tạo mới hy vọng là tác phẩm hay, như Ehrenbourg tự hỏi Léon Tolstoð viết Anna Karénine có nhận mệnh lệnh ai không? Cũng vì lý do đó đến Nguyễn Tuân, qua truyện Chuyện Một Người Gác Tàu Bay, nhân vật này hệt bù nhìn giữ vườn dưa cho Đảng; hẳn không khác Nguyễn Công Hoan với Nông Dân và Địa Chủ là bao ! Khi Nguyễn Tuân nhắm đúng đôi cương ngựa văn nghệ được nới lỏng, Nguyễn Tuân vung bút thật mạnh viết Phở và sau nhà văn phải cầm bút làm tường trình thú tội sai sót (4). Văn nghệ chỉ huy còn được nhìn thật rõ nét qua Tuyển Tập Thơ Hòa Bình ra mắt sau 1957.

Nhớ lại khi Chủ tịch Hội Văn Nghệ Léningrad là Tikhonov được giải thưởng Lé-nine (mà trước đó bị tước quyền, chỉ được phục hồi sau khi dự lớp tập huấn), nào có khác gì một Tú Mỡ được thưởng Huân Chương Kháng chiến, hoặc Trần Hữu Thung được giải hai thơ vào thời kỳ họp về thơ ở Bá Linh (Đông Đức). Lại một tập truyện khác được chọn đưa vào Tuyển Văn (5), ngoài Voi Đi (Siêu Hải), Làng (Kim Lân), hai truyện này được trích lại từ một tuyển tập khác(6). Còn truyện những cây viết nặng tình với kháng chiến, như Quang Dũng với Chia Tay, Hà Minh Tuân với một đoạn được trích trong Những Ngày Máu Lửa (truyện này mang tựa Những Ngày Đầu Chiến Đấu), Nguyễn Văn Bổng với Sau Trận Càn... Còn hầu hết sáng tác của nền văn học chỉ huy được khai thác triệt để ; Vùng Mỏ (Võ Huy Tâm), Trước Giờ Ra Trận (trích “Xung Kích” Nguyễn Đình Thi), Ruộng Tổ Phụ (Đỗ Quang Tiến), Cây Mít (trích Nông Dân và Địa chủ của Nguyễn Công Hoan), Cha con Ông lão chăn bò trên Núi Thắm (Xuân Thu), Trong Nhà Gạo (trích trong Truyện Anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng, truyện Cái Lu (Trần Kim Trắc). Riêng truyện này, nhà văn Nam Bộ tập kết chịu ảnh hưởng nặng nề truyện Bó Rơm của một nhà văn Trung Quốc (CS).

Nhận thức được tình trạng văn nghệ kháng chiến như vậy, thì văn nghệ kháng chiến phải là sản phẩm chung của nền văn hóa dân tộc. Sẽ phân tích theo ý nghĩa đó, lần lượt giới thiệu sáng tác chứa đựng tinh thần kháng chiến. Có thể không đồng ý với Tố Hữu qua bài thơ tôn sùng cá nhân, hầu đạt được mục đích chính trị: ...Thương mình thương một thương ông thương mười. Ông ở đây ám chỉ lãnh tụ tối cao Xô Viết, J. Staline. Nhưng còn nhiều bài thơ khẩu khí như Lao Bảo, Mã Chiếm Sơn, Ba Tiếng...tác phẩm thi ca giá trị của thời đoạn lịch sử, giai đoạn tiền-kháng chiến. Trở lại với bình diện văn nghệ kháng chiến, nhiều sáng tác ghi lại hình tượng sống diễn biến trong cuộc chống xâm lăng Tây thuộc lần hai, như chiến đấu cho lịch sử dân tộc mỗi ngày mới hơn. Tác phẩm văn nghệ kháng chiến Việt Nam phải được coi như là sáng tác giá trị như trong La Patrie se fait tous les jours (7), ghi lại, phản ánh cuộc chiến đấu kháng chiến anh dũng của Pháp vào giai đoạn 1939–1945 chống Phát xít Đức, Ý. Trong tập truyện thơ, văn này có tác phẩm của nhà văn thơ chuyên nghiệp nổi danh, các chiến sĩ văn nghệ, như : Paul Éluard, Louis Aragon, Albert Camus, André Malraux, Max Jacob... Chúng tôi dịch tập sách này cùng ý nghĩ như Jean Paulhan và Dominique Aury (nữ) sưu soạn. Tất nhiên chưa thể đầy đủ được, nhưng tập sách nhỏ bé ấy sẽ được dùng làm tài liệu văn học giúp cho những ai về sau viết lịch sử văn học; nhất vào giai đoạn kháng chiến 1945–1950. Nhà văn kháng chiến chủ lực (1945–1950) (tập hai) trong bộ Lược sử văn nghệ Việt Nam 1900–1956, cách viết khác với những tập 1, 3 và 4. Đa số truyện và thơ được trích lại từ Tập văn Cách Mạng và Kháng chiến (NXB Sự Thật 1947). Sở dĩ có được tư liệu văn học quí giá này, do Hồ Nam cung cấp vào cuối 1955; bởi ông, một trong những người vào Nam sau chót trước chấm dứt hạn kỳ.

Chương 1.

VÀ ĐỂ NÓI VỀ NHÀ VĂN TRƯỞNG THÀNH TRONG KHÓI LỬA

N hiều nhà văn mà chúng tôi chưa đề cập đến trong tập Nhà văn tiền chiến (1930–1945 (8), ở đây các nhà văn trưởng thành trong khói lửa, nổi danh trong kháng chiến, khởi sự vào giai đoạn tiền-kháng-chiến. Như Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao, Tố Hữu, Hoàng Lộc, Quang Dũng, vv... Nhà văn kháng chiến chủ lực khác với những tập trên, chỉ là sự giới thiệu và trích dẫn nguyên bản. Chẳng hạn về Nam Cao, nói qua tiểu sử (nếu có), giới thiệu khuynh hướng một cách tổng quát và trích dẫn. Giai đoạn kháng chiến rất hiếm truyện dài, chỉ có truyện vừa và nhiều nhất truyện ngắn. Bởi đồng bào là độc giả không có thời giờ, người viết cũng như người đọc phải tự ý thức cô đọng khi viết và có thời gian để đọc.

Tập 2 này chia ra làm hai phần :

Một : nói về các nhà văn chuyên nghiệp trong kháng chiến

Hai : nói về các chiến sĩ cầm bút trong kháng chiến, bài đăng trên báo, bích báo vv...

Tiết 1

NAM CAO

(1917–1951)

Tiểu Sử.

Nam Cao sinh 1917, mất ngày 29–10–1951 trong kháng chiến.Thời tiền chiến, ông viết loại sách Hoa Mai, truyện nhi đồng thôn quê, thành thị, tiền chiến cho NXB Cộng Lực. Tác phẩm: Nửa đêm, Bẩy Bông Lúa Nếp, Cười, Đôi Lứa Xứng Đôi... và các truyện ngắn, thơ, đăng trên các báo. Truyện đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy: Một Đám Cưới (số 3, TTTB, 1944) Lang Rận (số I, TTTB, 1944). Trong kháng chiến ông viết : Ở Rừng, Đôi Mắt v.v...

Nam Cao có giọng văn châm biếm mỉa mai tế nhị. Trong Cười, ông muốn độc giả thưởng thức một đoạn đời vui tươi ; nhưng đôi khi cười ra nước mắt. Ngày cách mạng bùng nổ, Nam Cao đi vào chiều sâu con người hòa đồng với tổ quốc lâm nguy. Chí Phèo cũng như Ở Rừng; Đôi Mắt ; là văn phẩm tuy ngắn nhưng vô cùng đặc sắc. Thật ra truyện ký sự của Nam Cao là tạp văn, không có chuyện mà lại hóa ra những chuyện lý thú phản ảnh mẩu đời sống động trong chốc lát (état brut). Nhớ Nam Cao như nhớ một Nguyễn Tuân ở Gió Lào. Thiên tài văn của Nam Cao là ở chỗ nghệ thuật, hấp dẫn, thành khẩn.

Ở Rừng, tác giả giới thiệu với chúng ta Cô Vẩu. Một cán bộ tinh thần cao, phục vụ và hy sinh cho lý tưởng dân tộc thật nồng nhiệt quên mình ! Rồi đến vai họa sĩ, một vài nét điển hình để độc giả hiểu rõ con người nghệ sĩ dưới mắt Nam Cao nhìn và nhận xét, sống nhiều nội tâm, phong thái trầm lặng, ôm triết lý cao siêu, mà dầu có thất bại đi nữa; người nghệ sĩ chỉ còn cười, một nụ cười chân thật không oán than định mệnh. Về bà cụ Quận, người miền núi Cao Bằng, giàu lòng tốt với lính miền Trung châu, tính tình bà cụ bình dị, chân thật. Những cảnh núi, rừng, buồn man mác – ánh lửa, tiếng hươu, vượn – đều nói lên hình tượng tác giả yêu đất đai, xứ sở. Người học hiểu thêm được người bạn miền núi qua những dòng văn của Nam Cao. Và đến tâm tư nhà văn, tác giả bộc lộ chân thành ý nghĩ từ ngày xưa đến bây giờ, từ những phút mong vợ, nhớ con, Nam Cao ghi lại đầy đủ của con người cảm xúc dồi dào. Văn Nam Cao diễn tả sâu sắc, sự chân thành của ông khiến người đọc vô vàn cảm mến. Nghệ thuật văn của ông là lối văn cảm giác linh hoạt (style cinématographique). Con người nuôi chí lớn, xây dựng cho văn nghệ đã qua đời. Chúng ta mất một nhà văn, lịch sử văn học Việt Nam mất một nhà văn tài ba, có chân tài, mộng lớn đành xếp lại khi trang đời đến số ba mươi. Trích dẫn một bài thơ của nhà văn tài ba ấy, một truyện linh động của người đã sống không màng danh lợi ; chết đi nhường cho chúng ta, những kẻ đi sau hưởng di sản văn chương quý báu như “Ở Rừng”.

Ở RỪNG

13–11–47 – Khang và tôi bắt đầu in truyền đơn cho cô Vẩu. Chúng tôi gọi đùa chị ấy là cô Vẩu. Hơi vẩu thật, nhưng thùy mị và thanh nhẹ. Chị thuộc vào lớp cán bộ đầu tiên xung phong lên Việt Bắc. Đồng bào địa phương rất mến. Bóc tờ giấy ở phiến đá lên, Khang có vẻ vừa ý lắm: -Rõ mà đẹp lắm. Cô Vẩu tha hồ thích nhé! Giọng anh âu yếm. Lần đầu tiên tôi thấy anh như vậy. Quen anh rất lâu, tôi chưa thấy anh nói chuyện gái bao giờ. Người họa sĩ đã ba mươi tuổi ấy hình như chưa bao giờ nghĩ đến tình. Anh ghét vẽ đàn bà. Đứng trước mặt phụ nữ, mặt anh lạnh như tiền. Nói theo thì giáp mặt mỹ nhân, mấy cái râu chuột trên mép anh không hề động đậy. Cảnh hiu quạnh hay cái gì đã xúi dại anh buột miệng nói câu êm ái ấy ? Tôi cười nụ. Chúng tôi vừa in vừa cắn hạt bí bà cụ Quận cho. Bà cụ sang xem chúng tôi in, nói chuyện. Người phúc hậu, mặt đẹp... hay chuyện, âu yếm cháu.

Buổi chiều thấy chúng tôi không có rau ăn, chỉ một ít sắn nấu canh lõng bõng bà ái ngại. Bà chạy vào rừng, lấy về một cái hoa chuối và một nắm lá gì giống như lá nhỏi. Bà gọi nó là phiếc phàn– rau phán vậy. Bà bảo chúng tôi đợi bà xào cho một đĩa, ăn hơi chát vì hoa chuối luộc trước. Cũng cứ khen là ngon ! Một lần Chấn mời ăn thịt chuột nướng nấu với nước lã. Tứ cũng gắp ăn không nhăn mặt và khen ngon. Tối nay, nôn nao và mệt rũ. Làm nhiều ? Hút thuốc lá nhiều ? Hay say hạt bí. Đi nằm sớm nói chuyện lẻ tẻ : Lửa tắt cũng không buồn dậy thêm củi. Cháy thật to, cuộn thêm một điếu thuốc lá nữa trầm ngâm hút. Có lửa, vui hơn một chút. Con hươu lạ kêu. Nó kêu luôn mấy đêm rồi. Tiếng man rợ và thảm thiết. Nghe gần lắm sao không ai đi bắt nó ?

30–11–47 - Nhà in đã có thể bắt đầu làm việc được rồi.

Cơ quan nhận tin điện cũng gần xong. Chúng tôi xuống nhà đồng chí Chấn đã hai hôm, đợi ngày trở về làng. Nay mai báo ra, chúng tôi sẽ bận hơn. Có lẽ khá lâu không có thì giờ đến chơi đây. Chúng tôi muốn xuống ở hẳn với họ mấy hôm để được truyện trò với họ nhiều hơn.

Tối hôm nay, ngồi quây quần chung quanh bếp lửa gần đủ mặt cả đến đồng chí Văn, đồng chí Tống. Họ tả lại mấy trận đánh đồn. Họ hát lại những bài cách mạng hồi ấy cho chúng tôi nghe.

Chúng tôi nói với họ về miền xuôi, về Hà Nội những ngày khởi nghĩa, về Trung bộ, Nam bộ, có ý cho họ hiểu nước mình rộng lớn thế nào, nhiều người nhiều của thế nào và họ thuộc vào một khối người dự vào một phong trào cách mạng đang sôi nổi khắp từ Á sang Âu. Nói một cách thật giản dị, thật cụ thể thế thôi. Câu chuyện mỗi lúc thêm náo nhiệt. Mắt những người Mán ngồi bên chúng tôi sáng và nhanh nhẹn hẳn lên. Một cái gì vừa mới thức dậy trong những tâm hồn rừng núi âm u. Chấn và Bảo hát vang. Họ bàn nhau khi nào kháng chiến thành công sẽ kiếm tiền may mấy cái áo tốt, về dưới xuôi chơi. Triệu Văn Hương cũng hứng chí lên, nói toang toang : anh ta hứa sẽ cố bắn một con hươu. Lấy da may áo để mặc về xuôi. Liễu cũng tươi tỉnh hẳn lên. Cô thiếu nữ mảnh người như Liễu ấy rất hay nhìn trộm Tứ. Khi những tiếng cười nói đã ngớt rồi, cô rủ rỉ bảo – “Kháng chiến thành công, đồng chí Tứ giú nảy au me cấn đông thư ná”(9) (Kháng chiến thành công đồng chí Tứ ở đây lấy vợ người Mán làm ruộng). Muốn tránh tất cả sự thôi thôi có thể làm chúng tôi mất cảm tình của đồng bào địa phương, từ đấy, mỗi lần ở đâu lâu chúng tôi thường tìm mánh khóe cho mọi người biết rằng cả chúng tôi đều có vợ, có con rồi. Nhưng khổ cho chúng tôi, những chàng trai trẻ vẫn còn khao khát chuyên yêu đương nhưng lại phải luôn luôn kiềm chế lòng mình. Các cô con gái Thổ da trắng đỏ, mặt rất xinh và cử chỉ rất hồn nhiên lại rất hay cười đùa, bảo chúng tôi :

- Không phải đâu ! Các anh chưa có vợ.

Có những lúc con người cũ của chúng tôi chồm dậy – con người phóng túng và ích kỷ. Những lúc ấy là lúc chúng tôi bảo nhau nửa đùa cợt, nửa chua chát : – Giá chúng mình không phải là...

Nhưng cử chỉ đúng đắn, lễ độ của chúng tôi khiến mọi người xung quanh rất mến phục chúng tôi. Có người khi nói chuyện với chúng tôi, đã đem cái tư cách gương mẫu của chúng tôi so sánh với những thằng Tây đồn ngày xưa bắt các làng phải thay phiên nhau nộp cho nó mỗi ngày một cô gái thật đẹp để hầu hạ quạt cho nó ngủ. Chúng tôi lại càng thấy sự gìn giữ tư cách là cần lắm. Và mỗi khi gặp một người đẹp chỉ đành thở dài vụng thôi.

2–3–48 – Từ hôm ra báo, bận nhiều việc quên hẳn biên nhật ký. Và cũng chẳng có gì nhiều đáng ghi. Mỗi ngày ngồi cặm cụi viết bài. Từ phần phông(10) đến một cái tin vặt đều phải cố và sao cho thật ngắn , thật dễ hiểu. Và xong đưa cho một chú giao thông Thổ đọc trước, hỏi xem có hiểu cả không ? Chỗ nào chú không hiểu viết lại, chữ nào chú chưa quen, thay bằng chữ khác.

Đã từ lâu tôi mong ước có một tờ báo nhỏ, hợp với trình độ của người mới biết đọc, nghĩa là với số đông. Trước ngày kháng chiến toàn quốc ít lâu tôi đã bỏ Hà Nội về một tỉnh nhỏ để làm một cuộc thí nghiệm xem sao. Nhưng tôi đã không tìm được đủ phương tiện để làm. Dịp may mắn cho tôi thử thực hành đã đến đây. Tôi làm rất chăm chú, rất ham thích cái công việc mà giá trước đây người ta bắt tôi làm, tôi có thể điên người lên được. Vẫn còn những lúc thằng nghệ sĩ cả trong người tôi vùng dậy. Tôi chợt thấy buồn rầu vì trong mấy năm nay không viết được một tác phẩm nào khiến cho các bạn tôi nhắc nhở. Hết làm chủ tịch làng thì lại đi tuyên truyền lao động, cuốn tiểu thuyết lớn không mấy đêm làm báo tôi không nghĩ đến luôn mấy năm nay.

Những tác phẩm mớ ước ấy, có phải đến tận bây giờ tôi mới gác nó lại đâu? Tôi đã phải gác nó lại từ ngày nó mới chớm nở trong khối óc tôi. Phần lớn thì giờ của tôi trước đây đều dùng vào việc viết những truyện ngắn truyện dài, truyện trẻ con tôi không vừa ý một chút nào; nhưng nó giúp tôi moi được tiền của bọn buôn văn, để đem về nuôi cái thân tôi và nuôi vợ nuôi con. Nước mình còn nô lệ thì tiếng mình còn bị chê khinh và bọn nhà văn còn bị rẻ rúng bạc đãi, coi như một hạng người không có cũng chẳng thiệt thòi gì. Tôi đã làm được hẳn ý muốn của tôi, chỉ vì cần duy trì đời sống của tôi. Sao tôi lại không dằn cái ý muốn của tôi xuống để góp sức vào công việc duy trì đời sống của dân tộc? Vả lại những công việc “không nghệ thuật” lúc này chính là sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn. Nếu tôi có đủ tài viết cái tác phẩm lớn của đời tôi, nó sẽ được hàng chục triệu người đọc, chứ không chỉ vài ba nghìn người như trước nữa.

Chiều chiều, các anh, các chị Thổ ở các lán chung quanh đến lán chúng tôi nói chuyện hay đọc báo. Tôi càng có dịp hiểu trình độ hiểu biết lời ăn, tiếng nói, cách làm ăn và những băn khoăn mong ước của họ hơn. Dựa vào đấy tôi uốn nắn lời văn và tìm ra những đầu đề để viết. Nói được một điều thiết thực đăng được một cái tin làm người ta phải kể lại với nhau, làm được những câu ca dao thật mộc mạc, nhưng đủ ý đọc lên đàn bà, trẻ con nghe cũng hiểu, tôi thấy sướng như viết được một truyện ngắn chính tôi ưng ý. Ngoài thời giờ viết báo tôi đọc sách. Chúng tôi tổ chức những lớp tự học trong nhóm anh em cùng trình độ và mở những lớp huấn luyện cho các anh em trình độ kém ở ấn quán. Buổi tối, ngồi bên bếp lửa, tôi dùng lối hỏi chuyện, giảng những điều thường thức về địa dư, lịch sử, chính trị cho chú giao thông Thổ với tôi. Và nửa đêm trong lúc chú giao thông ngủ tôi lặng lẽ chui ra khỏi chăn, cầm mấy ống tre, đi chân không, lần từng bước xuống một cái dốc khá trơn để đi lấy nước ở một cái vũng nhỏ ban ngày cạn vì nhiều người lấy quá. Từ chủ nhiệm, chủ bút đến chú giao thông, tiếp tế chúng tôi ăn ở với nhau thân mật và bình đẳng, hòa thuận hơn anh em ruột. Vì vậy, mà ai cũng hết lòng, cố gắng. Và mặc dầu khí hậu độc, ăn ở khổ, lương rất ít, xa gia đình quê hương, chúng tôi đều vui vẻ và lưu luyến cơ quan lắm. Đồng bào ở chung quanh nhìn vào đó có lòng yêu. Nhiều người đem con em, nhờ chúng tôi dạy học hay xin cho vào ở hẳn trong cơ quan, vừa học nghề, vừa học chữ. Họ hứa cơ quan đi đâu họ bằng lòng cho con em họ theo đi đấy.

Chúng tôi gọi đùa trên Mán là nhà quê của chúng tôi. Tết đến, Tứ và tôi phải cố bỏ một ngày về quê đi chúc tết cả mọi nhà. Vớ được trong cái va ly của một anh bạn gửi mấy cái kiềng, xuyến mạ vàng, chúng tôi đem theo làm quà cho mấy cô gái chưa chồng và lũ trẻ con. Những bà mẹ trông thấy mừng rú lên. Thịt lợn sống để từ hôm nảo hôm nào ở trong bồ, họ lấy ra xào nấu cho chúng tôi ăn. Tởm đến buồn nôn lên cũng phải cố ăn. Anh chàng Tứ ăn quá thực thà đêm hôm ấy bị nôn mửa và đi tả. Tôi nhờ lẩn khéo chỉ ăn đậu nên không việc gì.

Mấy ngày nghỉ Tết, tôi dùng để viết một truyện ngắn cho đỡ nhớ. Truyện Tiên sư thằng Tào Tháo. Tôi đặt cho nó một cái tên giản dị và đứng đắn Đôi Mắt.

7 – 3 – 48 – Trời mưa. Lớp này mưa nhiều quá. Vắt vào tận trong nhà.

Tôi xắn cao quần, mặc áo mưa chống gậy đi sang một lán bên nói việc về suôi. Hơn hai chục học viên, vừa trẻ vừa già. Toàn thể anh em chỉ vừa đủ tiếng Kinh. Giảng cách nào đây?

Tôi rất sung sướng khi thấy đôi mắt chú ý của một đồng chí có tuổi đột nhiên lòe sáng vì hiểu được điều tôi nói. Đến giờ nghỉ đồng chí vui vẻ bảo tôi: “Giờ tôi mới biết đấy. Trước kia không hiểu gì đâu. Không có báo đọc. Đọc cũng không hiểu hết”.

9 – 3 – 48 – Vẫn ở lớp huấn luyện. Ngồi bếp hút thuốc lào, nói chuyện với anh em. Họ đều than phiền thuở bé không được học.

– Nói là không được học, không ai tin không học sao biết chữ, sao được đi làm cán bộ. Nhưng cán bộ có được đi học đâu ? Ngày còn bé coi trâu. Lớn lên đi phu, làm để đóng thuế. Con quan, con nhà giàu mới học được.

Một anh xừng xộ bảo tôi như vậy các anh phần lớn đều tự học. Nhiều anh vừa chăn trâu vừa vạch chữ lên mặt đất. Thế mà rồi cũng biết.

– Thế mà nhiều thằng con nhà giàu cho đi học chỉ chơi, ba bốn năm không biết chữ.

Tôi tỏ vẻ không tin. Anh trợn mắt :

– Thật đấy, nó ngu quá. Không biết chim gái lấy vợ bằng tiền đấy.

Các anh kể lại những chuyện Pháp khủng bố ngày xưa.

– Người đi hoạt động khổ một phần, ở nhà khổ mười phần. Nhưng đến lúc chúng nó đem gia đình các cán bộ tập trung vào một chỗ để giam giữ thì cán bộ không cần gì nữa, không lo cho gia đình nữa. Càng hoạt động già...

16–3–48 – Cái giọng nghiện trong đài phát thanh Hà nội sáng nay cho biết hôm qua chúng nó đã ký kết với nhau hiệp ước năm nước. Trong cái mào đầu hiệp ước có nói đến “phẩm chất con người, tự do của mỗi cá nhân trong xã hội”. Mình như đột nhiên bị một cái cật nứa cài vào hậu môn hành hạ những người bị giam giữ để tống tiền, nói truyện nhà nó ba đời tu nhân tích đức. Muốn chửi to một tiếng.

Nhưng tin tối hôm qua cho biết Giải phóng quân vẫn tiến. Khi mà làn sóng dân chúng đã dâng lên. Nó cứ đi tràn mạnh mẽ và cuốn đi, và rửa sạch tất cả những nhây nhớp của một xã hội đã thối nát. Vàng của bọn tài phiệt sẽ vô hiệu quả. Chúng tôi đợi ngày nắm tay chào các anh.

19–3–48 – Vẫn mưa. Đêm qua càng mưa dữ dội. Bị nước lọt qua màn rỏ vào mặt tôi thức giấc quay đầu lại phía chân. Cảnh cố thu hẹp người lại để tránh nước từ trên mái nhà dột xuống. Rất lâu không ngủ được. Mưa đến từng đợt như đợt sóng. Ào ào rồi ngớt. Nước không gõ trống trên lá nữa. Nước chảy thành thác lá rậm. Tiếng giòng suối dưới gầm sàn như một cái nhọt vỡ, ăn loang đêm tối.

Ôi chao ! cái giống bọ vô hình ở cái chăn bông bò ra ngứa ran trên mặt, trên cổ, không sao ngủ được. Cố nhiên lại là nhớ đến Liên nhớ các con. Những lần mưa trong đời mình. Đời mình như toàn mưa cả. Mưa vào những dịp quan trọng. Mưa vào những ngày bước đi. Mưa. Mưa ! Cả đêm mưa trên thuyền nữa. Những đêm mưa trong nhà dột trong cái lều nhà bà cụ Xoan.

Nhưng mỗi lúc ngớt mưa, lại nghe tiếng súng nổ ran. Tiếng súng đã nổ ran suốt ngày hôm qua, mặc dầu mưa. Trông cái đêm mưa tầm tã này súng vẫn còn nổ như thường. Súng không biết có giời mưa. Lòng súng anh cũng không ỉu xịu bao giờ. Ôi súng, ôi những cây súng thép ! Ôi những anh Vệ quốc quân ! Tôi biết các anh nhiều khi phải nhịn cơm ăn cháo, đứng dưới trời mưa suốt ngày suốt đêm mà đánh giặc. Lòng các anh cũng là lòng súng thép. Mưa có bao giờ làm ỉu xịu một tấm lòng bằng thép đã tôi già. Tôi xấu hổ cho tâm hồn ủy mị của tôi. Vẫn chưa mạnh hẳn ư ? Các anh ! Các anh chiến sĩ không tên. Các anh hãy dạy tôi biết hy sinh mình, không nghĩ gì cả thân mình nữa. Các anh hãy rọi vào lòng tôi ánh nắng rực rỡ trong đôi mắt và cõi lòng của các anh. Những đám mây đen xưa cũ vẫn còn lởn vởn. Các anh hãy quét sạch nó hộ tôi. Quét sạch ! để cho tâm hồn quang quẻ và mới hẳn.

Súng vẫn nổ giòn. Tôi lắng tai nghe, cố nghe tiếng súng. Tiếng súng máy cười khành khạch. Hôm qua khi lính Pháp ra hàng. Chúng nó chịu làm sao được cảnh ăn cháo đánh nhau ? Mưa ! Mưa ! Mày cứ mưa mãi cho tao ! Chúng nó sẽ còn ra hàng nhiều nữa ...ª

Thơ Nam Cao

2– KHI CHIỀU THẪM

Chiều thẫm lại. Hàng cây yên dáng nhớ

Trăng không lên. Sắc đẫm lệ, lu mờ.

Tôi khua lòng, lòng ướt át, và thơ

Buồn đẫm cánh không bay nhè nhẹ được.

Đời tối quá ! Em ơi, tôi nguyện ước

Một bàn tay thắp hộ lửa lòng lên;

Một tấm thân ấm áp ghé ngồi bên;

Câu dìu dịu vỗ về hồn nhức nhối ;

Đôi tai bạn để nghe lời tim nói.

Em xa xôi, tôi cô độc, em ơi !

Từng hạt nặng trên lưng tàu lá chuối !

Sương khóc hộ cho đời tôi trơ trọi,

Cho đời em lạnh lẽo chốn phòng không,

Cho con chim đơn lẻ giữa mênh mông,

Khi chiều thẫm, hàng cây yên dáng nhớ.

Trích trong báo Hà Nội Tân Văn số 72 (28–6–1941)

NAM CAO

Tiết 2

NGUYỄN HUY TƯỞNG

(1912–1960)

Tiểu Sử.

Nguyễn Huy Tưởng, nhà văn ở ngưỡng cửa tiền-kháng-chiến. Năm 1944, ông viết tiểu thuyết lịch sử “An Tư” đăng trên báo Tri Tân do Nguyễn văn Tố chủ trương. Ông còn viết nhiều truyện ngắn và làm thơ đăng báo. Năm 1945, cách mạng bùng nổ, Nguyễn Huy Tưởng bắt đầu chuyển mạch văn. Tác giả những vở kịch Anh Năm tòng quân, Những Người Ở Lại, tản văn như Ngày Mùa. Một sinh khí mới của hình tượng sống mới. Truyện Ngày Mùa mang tính chất thực, hình ảnh những người thành thị bị nông thôn hóa chiến đấu nông thôn. Họ cùng sát cánh nhau chiến đấu độc lập cho tổ quốc. Cảnh sống nơi thôn quê, được Nguyễn Huy Tưởng ghi lại dưới con mắt quan sát một nhà văn có tài nên linh hoạt có cá tính riêng biệt. Từ những ảnh hình mộc mạc của quê hương, người và muông thú hợp thành bản ca của cuộc hồi sinh vĩ đại. Tác phẩm chính: Đêm Hội Long Trì (1942, tiểu thuyết lịch sử), Vũ Như Tô (1943, kịch lịch sử), Những Người Ở Lại (kịch, 1946), Ngày Mùa, Ký Sự Cao Lạng (bút ký, 1951)v.v...

NGÀY MÙA

Hà Nội đã xa tôi rồi. Xe đạp của tôi chuồi trên một dốc không cao. Ngày hôm nay, tôi tạm gác một bên những lo âu mà cuộc sống tranh đấu giải phóng dân tộc đòi hỏi từng giây từng phút.

Tôi về với mùa màng.

Gia Lâm đang kiến thiết. Tiếng búa nện vào sắt nghe đanh đanh, ròn rã nhịp nhàng đưa ra từ dãy nhà máy sau ga đã bị bom tàn phá. Bên những bộ xương nhà trống và mấy chiếc toa ọp ẹp lẫn vào cỏ và đất, hai ba nhà máy đã được uốn nắn, thẳng thắn đứng ngang nhiên dưới những mái phên tạm thời. Tôi không trông thấy những người thợ vô danh, nhưng tôi nghe thấy sự cố gắng. Trước kia tôi yêu Tagore ghét lây nhà máy, bây giờ tôi yêu nhà máy ghét lây Tagore. Tôi chắc rằng quan niệm yêu ghét của tôi bây giờ đúng hơn trước.

Tôi vững dạ hơn những ngày tin tưởng nhất. Vậy mà cảnh tượng lặng lẽ làm sao, chẳng có gì lặng lẽ thợ máy khởi công. Lặng lẽ nhà nông tăng gia sản xuất. Lặng lẽ họ thành công. Tôi liên miên nghĩ đến sự lặng lẽ của chiến sĩ ngoài tiền tuyến. Vậy mà họ đã chặn đánh quân thù bất cứ ở chỗ nào. Tôi càng ngày càng bị quyến rũ bởi những việc làm không tên của những người không tên, nó bảo đảm cho sự thành công nhiều nhất.

Xe tôi đã đi vào giữa mùa màng. Nhiều ruộng đã được gặt rồi chỉ còn trơ gốc rạ. Nhiều miệng lầy có những bó rơm xếp thành hình tháp bút chữ nhất như những manh chiếu nát. Ruộng lúa chửa gặt rạt xuống như những hàng vó cao thấp. Đã có nhiều ruộng mạ non mơn mởn và cũng có nhiều ruộng đã trồng khoai, lá bị đè dưới những tràng mạng rạ. Rõ rệt sự liên tiếp về công việc của người nông phu cần cù tranh đấu trên trang kỳ lịch sử tồn tại của nòi giống. Mắt tôi ngợp trông những mầu hung, mầu vàng trà trộn lẫn nhau, nhiều lúc phản ảnh ánh sáng mặt giời lóng lánh như kim nhũ. Cánh châu chấu xe xè, càng cào cào tanh tách làm thành những tiếng nổ êm dịu của những bông lúa cháy như rang.

Tôi không ngửi thấy mùi thơm. Nhưng có một mùi say sưa lành mạnh. Xe tôi bỏ đường nhựa, rẽ vào con đường đất quen quen. Một chim khách đậu trên đỉnh một cây tháp đá xanh dựng ở đầu đường nhà hạ vỗ cánh bay. Một chú trâu già đứng trên một đỉnh gò cao, cắp ngang đôi sừng đồ sộ, nhìn người lạ bằng đôi mắt chứa chan những mộng hiền lành. Ôi chim muông đồng ruộng người và vật, và làng xóm thân yêu, ta lại về đây ! Tuổi ta đã đứng, tính tình ta đã khác, nhưng ta vẫn còn nguyên vẹn lòng hồn nhiên của kẻ quê mùa. Ta chào rừng ở các người và ở cả ta đây một cuộc sống hồi sinh vĩ đại. Nhưng sao trong ngày hội của màu vàng này, trong ngày thu hoạch tưng bừng này không có một tiếng ca, không có một lời nói. Có lẽ tiếng ca sẽ nhạt, lời nói sẽ vô duyên trước cái đẹp lớn lao và mãnh liệt của ngày mùa. Hay có lẽ đã chịu quen với áp bức chiến tranh, với trung thu, với hạn hán với lụt lội, với luôn luôn mấy vụ mất mùa, với nạn đói khủng khiếp vừa qua cho nên đã nắm trong tay cái no, họ vẫn còn hoài nghi, vẫn còn sợ có người đến cướp. Cho nên họ lặng lẽ làm việc, họ khoan thai đến nỗi tưởng như họ đã hóa thành những tượng đá im lìm hoặc đứng ; hoặc rạp người trên bông lúa nằm sóng soài. Có thấy cánh đồng lúa ngoảng dần, những chụm lúa đã gặt xếp hàng đều tăm tắp trông như những con dím chìm trong giấc ngủ triền miên người ta mới biết rằng họ vẫn đang làm và làm mau lẹ.

Trên đường đất, cảnh tấp nập hơn. Những gánh lúa lặc lô của anh thợ gặt, những gánh lúa nhỏ hơn của ả thôn nữ, nhỏ hơn nữa của nhi đồng nhẩy nhót trên con đường gập ghềnh thỉnh thoảng lại nép bên ven đường, nhường lại lối đi cho những người gánh gạo mới đem ra ngoài tỉnh bán tiếp nối theo nhau thành những hàng dài dằng dặc. Chốc chốc lại lóe lên đến nhức mắt một lưỡi cày mới rũa hay những luồng điện nê ông của những đòn gánh bóng loáng phản chiếu ánh sáng mặt trời. Dưới bóng mát một cây cổ thụ, một tốp đàn bà ngồi nghỉ bên những bị cói ăm ắp toàn một thứ gạo trắng tinh. Trên quang gánh treo những tàu lá cải xanh mướt như bông hoa điểm trên mái tóc một thiếu nữ. Họ thì thầm nói chuyện Hải Phòng. Tây đánh cướp, họ bĩu môi kết án một bọn người trong làng đã bán gạo cho Tây tích trữ. Âm thầm những bóng râm đang chảy xuống bờ ao bên sau gốc cây làm những vật đen trên mặt nước váng xanh. Câu chuyện của mấy bà nhà quê nhờ đấy mà càng thêm im lặng. Chuông kêu vang lên, xe tôi đi qua họ rạt ra hai bên. Chao ôi ! Nhìn gần sao mà họ tiều tụy lắm vậy. Màu vàng của lúa đẹp thế mà không ánh đến mặt hoa. Quần áo họ tả tơi, bẩn thỉu. Nước da họ xanh xao vàng ệch có người mặt nằng nặng và bủng tái. Tôi thở dài. Không biết nỗi vui đang tràn ngập trong lòng tôi có lọt qua những khối óc đặc xịt và những vỏ ngoài cứng dắn kia không? Tôi phảng phất nhận ra trong đám người già xọm toét nhèm hay mù lòa, mà khuôn mặt lõ xương đã gợi hình ảnh sự chết, dăm ba thôn nữ tươi năm xưa có người đã rủ đôi mắt đen lánh và xâu sa xuống tuổi thanh xuân tình tứ của tôi ; có người đã từng chút lên tôi những tiếng chua ngoa của một sắc đẹp và tự kiêu, vừa khêu gợi : nhận ra một cách phảng phất thôi chứ nhìn kỹ lại hoang mang. Không biết có phải là cố nhân không? nhất là họ không dám nhìn tôi hoặc chỉ dám nhìn một cái nhìn tôi tớ. Tôi se se trong lòng. Cuộc sống mới hồi lại một chút mà thôi, đủ để cầm chừng đặng ra tranh đấu và xây một đời sống tốt đẹp và sung túc hơn. Vết nanh của thực dân còn hằn nổi , đau khổ còn đầy rẫy chưa tiêu trầm. Chưa phải là hạnh phúc. Nghĩa là chưa mãn ý.

Rơm phơi đầy trong các ngõ mấy cái làng tôi qua. Chỉ những rơm là rơm. Bóng người thưa thớt. Tôi có cảm tưởng làng này như một hộp bánh ngọt mà người làm bánh điêu toa độn giấy quá nhiều. Nhiều gian nhà bỏ trống, chất toàn một thứ rơm óng ánh như tơ. Trẻ con gần như không có. Trận đói năm xưa đã mang đi hơn nửa dân số, và bệnh sốt rét định kỳ vừa qua tiêu diệt gần hết những phần tử còn sống sót. Hiu quạnh quá. Tôi rợn người như vào một xứ xa lạ. Người Việt Nam có lẻ tẻ thưa thớt đâu ? Tôi ưa sự đông đúc và những xum họp vui vầy. Tôi gần như ứa lệ trước một bức tường gạch rêu đen, dài đến hơn mười thước. Trên tường có kẻ rất công phu một biểu ngữ bằng vôi trắng nét già dặn “Một lá phiếu là một hòn đạn bắn vào đầu quân thù”. Hỏi ra mới biết bàn tay kẻ chữ kia là bàn tay một thanh niên đã chết trong vụ đói năm trước. Tôi ra khỏi làng, lòng uất ức, tưởng như có gì nặng chĩu chụp lên đầu. Bao nhiêu là tang tóc. Và cần phải bấy nhiêu nỗ lực. Lúa vàng làm cho tôi khuây khỏa. Tôi đã về tới cánh đồng nhà. Một tiếng gọi thân mật. Dưới ruộng lúa, một nông phu quen biết vẫy tay. Y cầm liềm đứng bên mộ mẹ tôi, cải táng từ lâu ở ruộng này. Mấy em thiếu nhi ý muốn ở làng bên đang loay hoay gặt lúa. Tôi bỏ xe lên bờ ruộng và xuống với người quen. Tiếng cười, tiếng gọi, tiếng hỏi thăm qua loa tíu tít từ những ruộng chung quanh. Nông phu này trước làm cho mẹ tôi, sau đi phu lục lộ, dành dụm được ít tiền tậu ruộng . Trong khi ấy thì nhà tôi sa sút, nhưng anh ta đối với tôi vẫn còn nhiều tình nghĩa. Tôi cũng học chàng Lévine trong một tiểu thuyết vĩ đại của Tolstoð, cùng gặt hái với dân quê. Tôi cầm liềm, giữa những tiếng cười bốn phía, tôi gặt được mười hàng lúa. Mộ mẹ tôi nay không lạnh lẽo, trái lại đầy hơi ấm mà người có thừa những ngày còn sống.

Tôi thấy một sự gì êm dịu. Không để ý tới tiếng sột soạt, tôi hình dung người mẹ đảm đang khi xưa, ngược xuôi buôn bán, vào sinh ra tử và làm lụng mãi cho đến giờ hấp hối. “Trời nào đóng cửa ai” tôi chợt nhớ đến câu nói quen quen mà mẹ tôi thường thốt ra trong những giờ u ám của một cuộc đời vô cùng vất vả. “Trời nào đóng cửa ai”, bác An nhỉ, tôi vừa gặt vừa nói chuyện với người nông phu.

– Vâng, y cười khì. Trời nào đóng cửa ai. Thật năm ngoái năm kia tưởng chết cả. Ăn cháo không xong. Chết, chết, cứ nghĩ đến mà rùng mình.

– Thế nào được mùa rồi tha hồ mà đánh bạc, đánh chén nhỉ.

– Thế nào lại đánh bạc mấy đánh chén. Cụ ... cấm rồi lại còn. Bây giờ thì chỉ mong cụ (Trời) cho mấy trận mưa làm mầu, còn khối việc cậu ạ. Đánh bạc mấy rượu chè có mà khốn. Tôi thôi cái tạng ấy đã lâu rồi, cậu ạ. Có các cụ trong làng đang kêu rào rạt vì Ủy ban không cho chén nhiều như trước nữa. Ủy ban nay khá lắm rồi.

– Thế thì tốt lắm. Đây là lúa nếp có phải không ?

– Đây là nếp mơ. Dùng để nấu cồn tốt lắm.

Tiếng máy bay làm cho y lơ đãng. Y nheo mắt nhìn lên trời, bỗng hỏi tôi :

– Không biết ta có máy bay xe tăng không cậu nhỉ. Trông thấy máy bay của Tây ngứa tiết lắm.

– Có chứ.

– Phải có mới được. Anh ta vừa bó lúa vừa cụp mắt xuống một cách nhẫn nại giọng nghiêm trang. Chúng cháu được mùa thế này, mừng thì mừng thật nhưng lúc nào cháu cũng nghĩ làm thế nào đuổi được thằng Tây đi, nước ta độc lập thì cháu mới được yên tâm mà các cậu cũng mới yên tâm ở ngoài .

Tôi cầm liềm tới gần y, lòng đột nhiên khấp khởi và vui đến tột độ. Tôi nhìn y muốn nắm chặt tay y. Ý thức quốc gia ở một người, có lẽ như giữa một khung cảnh lớn lao và đẹp đẽ, làm cho ngày mùa thêm ý vị, lòng tôi thêm tin tưởng. Tôi nghĩ không biết có phải anh lặp lại những lời tuyên truyền không ? Nhưng không, lời nói của anh có sức mạnh của thành thật. Vì thế nó sâu sắc thấm thía. Tiếng cần lao đạp đều như máu chảy. Lửa yêu nước ầm ỹ trong lòng mọi người. Tiếng búa của nhà máy Gia Lâm nghe càng rõ. Cánh đồng lúa cháy rực sáng chạy xô tận chân trời như từng một trận giáp lá cà. Những ngọn súng của chiến sĩ dựng chơm chởm trên những bông lúa hòa bình. Người nông phu tầm thường đứng kính cẩn trước mặt tôi trở nên vĩ đại như những nhân vật của Homère. Y chẳng là hồi quang của Bạch Đằng, Đống Đa, Nam Bộ ư ? Y chẳng là nguồn cần lao Việt Nam ư ? Tôi tự trách đã hoài nghi không công nhận cho y có thể nói câu kể trên.

Buổi chiều, tôi từ biệt người nông phu. Vừa đạp xe, tôi vừa nhắc trong lòng lời nói của y mà tôi sẽ đem khoe cùng các bạn Thủ Đô. Thỉnh thoảng tôi lắp lại một điệp khúc không biết tự tôi sáng tạo hay là cần lao thiêng liêng đưa đến. "Gắng sức nữa" và đời sẽ còn đẹp thêm, những lầm than sẽ hết. Điệp khúc ấy tự nó hát ở trong tôi và ở ngoài tôi. Toàn thân tôi chơi vơi giữa khúc nhạc của mầu vàng.

NGUYỄN HUY TƯỞNG

Tiết 3

NGUYỄN ĐÌNH THI

(1917–2003)

Tiểu Sử.

Sinh năm 1924 ở Savanakhet, Lào. Thi sĩ, nhạc sĩ, văn sĩ và lại còn là nhà biên khảo sách triết học. Ở tiền chiến, ông viết nhiều sách khảo luận, triết học. Tác phẩm cùng loại ấy như : Triết học Einstein (Tân Việt 1942), Triết học Descartes (Tân Việt 1943), Triết học Nietzsche (1943), Siêu Hình Học (1943)... và tác giả những bải khảo cứu phân tích thơ triết học đăng trên báo Tri Tân, như Thơ triết học đăng ở số 135, 1944. Thảo luận về thành phần thơ triết, một vài ý kiến quan yếu như : Thơ triết học gồm hai phần rất dễ thấy : một phần thơ và một phần triết học. Nó tham lam hơn thơ, vì muốn có một hình thức đẹp và say sưa. Nhà thơ thường (xin chớ lầm với nhà thơ tầm thường) muốn làm rung động lòng người, nhà thơ triết học tham lam hơn muốn bắt người đọc phải suy nghĩ trong khi say sưa nữa. Vì thế một nhà thơ triết học kém nghệ thuật có thể thất bại khi làm thơ triết học. Kém tài ghép vần xếp nhạc, một nhà thơ triết học không thể làm say sưa kẻ đọc, cũng không bắt người nào suy nghĩ. Trái lại, nhà thơ ấy sẽ chỉ khiến người đọc bực mình. Nhưng một nhà thơ nghệ thuật vững vàng tư tưởng sâu sắc, có thể làm thơ triết học giá trị được không ?Thơ triết học có thể vừa bắt trí tuệ suy nghĩ, vừa ru tình cảm say sưa hay là trái lại ? Thơ có thể đi đôi với triết học...”

Vì thế thơ triết học phải xa lánh thứ triết học giả dối và ảo huyền, vì đó thực ra không phải là thơ triết học mà làm mê tín triết thơ. Còn nếu triết học chính đáng không thể đem vào thơ được vì thiết thực, và duy lý quá. Dùng thơ nói chuyện luận lý vừa buồn cười vừa khô khan. Nên triết học chỉ có một phần có thể đem vào trong thơ: ấy là phần phê bình, phần nói về sự đẹp xấu, sự phải trái , sự thiện ác, chú ý nhất đến phần triết học về nhân sinh. Thơ triết học có một giá trị tư tưởng khi nói về đời người vì trong phạm vi này, lý thì ít mà thiết thì nhiều hết sức...

Trong kháng chiến, ông sáng tác lối thơ mới gọi là thơ tự do. Thơ ông mở đầu cho một sự kiện mới về hướng thơ tự do diễn tiến của nền thi nghệ Việt Nam. Chịu ảnh hưởng từ Nga và Pháp, nhất là Simonov và Éluard, hai thi sĩ ấy đã gợi nguồn cho lối thơ tự do của Nguyễn Đình Thi. Những bài thơ như : Sáng Năm Xưa, Mít tinh, Không Nói... thơ đầy âm điệu tân kỳ có nội dung rất thoát ý. Nguyễn Đình Thi còn là tác giả Diệt phát xít, Thăng Long phi chiến địa... những bản nhạc điệu quân hành, nội dung đề cao sự chiến đấu chống xâm lăng. Trích bài Sáng Năm Xưa, bài thơ mang sinh khí mới của một trong những người kháng chiến đầu tiên năm 1945 đuổi thực dân Pháp tài xâm lăng.

1. SÁNG NĂM XƯA

Sáng mắt trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới.

Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em.

Gió thổi mùa thu vào Hà nội

Phố dài xao xác heo may

Nắng soi ngõ vắng,

Thềm cũ lối ra đi.

Lá rụng đầy.

Ôi nắng dội chan hòa,

Nao nao trời biếc,

Gió đượm hương đồng ruộng.

Hương rừng chiến khu

Tháp Rùa lim dim nhìn nắng.

Những cánh chim non

Trong vời nghìn nẻo

Mây trắng nổi tơi bời

Mấy đứa giết người

Hung hăng một buổi

Tháng tám về rồi đây

Hôm nay nghìn năm gió thổi

Trời muôn xưa

Đàn con hè phố

Môi hớn hở

Ngày hẹn đến rồi

Các anh ngậm cười bãi núi ven sông

Hà Nội !

Ôi núi rừng !

2. VỀ NHÀ

Về nhà chiều ba mươi

Áo ướt đẫm hai vai

Giữa trời mưa đứng sững

Nhìn quanh không một ai

Cỏ dại leo trên thềm

Hàng cau đứng lắng yên

Bếp từ lâu đã lạnh

Vại nước còn đầy nguyên

Đêm khuya ngồi đốt lửa

Ngoài hiên mưa ào ào

Thương vợ suốt đời khổ

Hai hàng nước mắt dài

Em nuôi đàn con nhỏ

Trăm nghìn nỗi gian lao

Suốt đêm trường súng nổ

Em gánh con đi đâu

Sáng sớm ta lên rừng

Mưa bay trên cánh đồng

Ta quay nhìn xóm cá

Xa dần bên bờ sông

Ta nhớ ngày hôm nay

Ta nhớ con sông này

Thắng giặc tao còn sống

Có tao không có mày.

1948

NGUYỄN ĐÌNH THI

(trích lại trong Thơ Kháng Chiến 1945–1954)

Tiết 4

QUANG DŨNG

(1918–1988)

Tiểu Sử.

Tên thật Bùi Đình Diệm (hoặc Dậu). Sinh 1918 ở Phùng, Sơn Tây. Mười tám tuổi sang Trung Hoa theo học ở Trùng Khánh Kháng chiến Đại Học Hiệu rồi tham gia mặt trận chống Nhật của Tưởng Giới Thạch. 1945 về nước giữ chức Ủy viên quân sự Bắc bộ. Sau làm tham mưu Trung đoàn Tây Tiến. Chiến đấu ở Liên Khu Ba. Năm 1951 rời quân ngũ; hoạt động văn nghệ chuyên nghiệp.

Chất thơ Quang Dũng hào hoa tiểu trí thức, không sắt máu như Tố Hữu ở tiền và kháng chiến; nặng nề phần tình cảm con người. Những vần thơ nhẹ nhàng, hào hoa, thương nhớ hình tượng quê hương mà ông đã đi qua đều phản ảnh trong các thi bản : Đi, Tây Tiến, Chuông Ban Trưa, Đường Dài, Buồn Êm Ấm, Cô Gái Sơn Tây, Lính Râu Ria, Mẹ, Đôi Bờ... Nào là hình ảnh trong thơ có lá chuối phần phật reo, quán nghèo bún riêu bốc hơi ấm áp, chuối tiêu vàng, hoặc đâu đó có nàng thợ cấy, anh Vệ quốc kháng chiến trong lần Tây tiến.... Thơ ông gần gũi với tâm trạng người yêu quê hương khi phải xa quê hương ; bùi ngùi càng hơn nữa khi đọc thơ ông nói về hình ảnh nhớ miền trung châu xa xưa đành rời bỏ lên rừng chiến đấu.

Thơ ông còn phản ánh nếp sống con người mới trong một giai đoạn lịch sử, đây là Ngày Lớn. Những chàng trai trong thời binh lửa đầy lòng tin chính nghĩa tất thắng lên đường giúp nước. Ôi, kỷ niệm chan hòa và lòng yêu tổ quốc lâm nạn nguy cơ. Tôi nói đến Tây Tiến, một trong những bài thơ đẹp nhất hình tượng kháng chiến nói về đoàn quân từ miền trung châu lên rừng núi, từ cảm nghĩ đến nếp sống mới ghi lại thật tuyệt diệu. Và Xuân Diệu đã nhiều lần đem thơ ông bên mình đi các nơi ngâm cho đồng bào, anh em chiến sĩ thưởng thức. Phải nói rằng, nếu kháng chiến không có Quang Dũng quả là một thiệt hại lớn cho bình diện văn nghệ hưng phấn ở độ hứng khởi nhất.

TÂY TIẾN

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lớp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng tha thướt

Nhạc về Viên Chiên xây hồn thơ

Ai đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có nhớ hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng thuyền trôi độc mộc

Trên dòng nước lũ hoa đong đưa

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên mũi súng bỏ quên đời

Nhớ ơi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp sôi.

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt chừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai đi Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.(11)

QUÁN BÊN ĐƯỜNG

Tôi lính quá đường trưa nắng gắt

Nghỉ nhờ đầy quán lệch tường xiêu

Giàn mướp nghèo không hứa hẹn bao nhiêu

Mùa gạo đắt, đường xa thưa khách vắng

Em đắp chăn dầy tóc em chĩu nặng

Tôi mồ hôi ra ngực áo chan chan

Đường tản cư bao suối lạ sương ngàn

Em mê sảng sốt hồng lên má đỏ

Em có một mình nhà hoang vắng quá

Mảnh chăn nào em đắp có hoa thêu

Hàng của em chai lọ xác sơ nghèo

Tôi nhìn lại mảnh quần nâu đã vá

Tôi chợt nhớ chúng ta không nhà cửa

Em tản cư tôi là lính tiền phương

Xa Hà Nội xa nhau từ một thuở

Lòng rưng rưng thương nhau qua dọc đường

Tiền nước trả em rồi nắng gắt

Đường xa xa, mơ mơ núi và mây

Hồn lính vương qua vài sợi tóc

Tôi thương mà em đâu có hay

QUANG DŨNG

Tiết 5

HỮU LOAN

(1916- )

Tiểu Sử.

Tên thật Nguyễn Hữu Loan. Sinh 1916 ở Thanh Hóa, là giáo học ban đầu, sau tham gia chiến đấu trong kháng chiến. Thơ ông giàu nhạc điệu, hình ảnh, rung cảm chân thành, lời nói đưa vào thơ chau chuốt, tự nhiên. Tác giả những thi bản : Gác chuông, Mầu tím hoa sim, Những người đi qua làng, Người quay tơ... Hữu Loan làm thơ tự do, thơ tự do dung dị, nội dung phong phú, phản ánh hình tượng mới trong nếp sống mới. Tình tiết lãng mạn cách mạng hướng thượng, đề cao chiến đấu chống xâm lược. Đọc thơ ông, hương vị buồn man mác, nhưng không phải nỗi buồn tiêu cực. Thơ ông truyền cảm, sâu sắc, không cầu kỳ. Mầu tím hoa xim là bài thơ đưa ông lên hàng thi sĩ có hạng trong bình diện văn học kháng chiến. Bài thơ này lần đầu được đăng đầy đủ trên báo Trăm Hoa, Nguyễn Bính trả nhuận bút 15 đ ( lương công nhân bình quân 27 đ/tháng)

MẦU TÍM HOA SIM

Nàng có ba người anh

Đi bộ đội

Những em nàng có em chưa biết nói

Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người Vệ Quốc quân

Xa gia đình

Yêu nàng

Như tình yêu em gái

Ngày hợp hôn

Nàng không đòi may áo cưới

Tôi mặc đồ quân nhân

Đôi giày đinh

Bết bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh

Bên anh chồng độc đáo

Tôi ở đơn vị về

Cưới nhau xong là đi

Từ chiến khu xa

Nhớ về ái ngại

Lấy chồng đời chiến chinh

Mấy người đi trở lại

Lỡ khi mình không về

Thì thương người vợ chờ

Bé bỏng chiều quê .....

Nhưng không chết người trai khói lửa

Mà chết người gái nhỏ hậu phương

Tôi về không gặp nàng

Má tôi ngồi bên mộ con

Đầy bóng tối

Chiếc bình hoa ngày cưới

Thành bình hương

Tàn lạnh vây quanh ...

Tóc nàng xanh xanh

Ngắn chưa đầy búi

Em ơi !

Giây phút cuối

Không được nghe nhau nói

Không được trông thấy nhau một lần

Ngày xưa ...

Nàng thích hoa xim tím

Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa

Một chiều rừng mưa

Ba người anh

Từ chiến trường Đông Bắc

Biết tin em gái mất

Trước tin em lấy chồng

Gió sớm thu về

Rờn rợn nước sông

Đứa em nhỏ lớn lên

Ngỡ ngàng trông ảnh chị

Khi gió sớm thu về

Cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân

Qua những đồi hoa xim

Những đồi hoa xim...

Những đồi hoa xim...

Mầu tím hoa xim

Tím cả chiều hoang biền biệt

Nhìn áo rách vai

Tôi hát trong mầu hoa

" Áo tôi sứt chỉ đường tà

Vợ anh chết sớm mẹ già chưa khâu”.

HỮU LOAN



CÒN TIẾP ...

Trở lại : LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 16





© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ VÀ NEWVIETART .



TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ TRUYỆN NGẮN NHẬN ĐỊNH