Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
‘Đàn bà và Đàn ông / Woman and Man’
tranh của Võ Công Liêm







KHẢ NĂNG , HIỂU BIẾT

VÀ LÒNG KHAO KHÁT





T Trong phút giây sanh đẻ đã mang trong lòng một ước ao mong đợi; đấy là vấn đề thiết yếu khi người mẹ nhìn vào đứa trẻ mới chào đời. Thí dụ: Sau mấy tuần con chim nhỏ nhìn bầu trời là đã có ý niệm để bay, vịt con nhìn dòng nước là khao khát có khả năng lội được và biết mình có đôi bàn chân ‘lá vả’ để bơi, mèo con nhìn những lỗ trống trong nhà là nhận thức (hiểu biết) có chuột để rượt, để vồ chụp, khỉ con mở mắt thấy cành nhánh là nghĩ đến cây trái để ăn và đu nhảy. Dù đó là tạo dựng tự nhiên như một sắp xếp ‘hữu cơ’ nghĩa là đưa vào đó sự sống tự nhiên như muôn loài trên hành tinh này, nhưng; sống không lâu so với loài người. Bởi con người là một ‘sáng tạo đặc biệt’ để sống còn với khả năng (instinct), hiểu biết của trí tuệ (intelligence) và một khao khát hoài vọng (anxiety). Tất cả sự sống là thuộc động vật biết nói và không biết nói. Dẫn ra đây để định lượng một phần nhỏ của thời gian cần có để dân hóa con người; học tập về yếu tính nghệ thuật (sống) của cuộc đời –proportion it takes them only a fraction of the time required for civilized human being to learn the essential art of life, của con người. Vì rằng; sự thể là một hiện hữu sinh tồn, đảm bảo khéo léo về việc sống còn, cầm giữ những gì đã sản sinh và dựng vào đó một thể xác thích nghi hoàn cảnh sống. Nhưng; đối với con người tồn lưu là di vật thể trong ngữ cảnh của ý thức dân hóa, một đặc nhiệm ưu việt trí tuệ của con người, trong đó có cả nghệ thuật, tìm hiểu, học hỏi và chọn lựa những gì dành cho một quãng đời đã đi qua thuộc về thời gian (span of life). Hơn nữa; sự đó tuồng như thấy rằng cuộc sống nằm trong sự khai hóa xã hội đưa tới văn minh của con người là thuộc về tư duy và hành động; tất thảy bao trùm trong khả năng của con người gần như bẩm sinh hay thiên tính, với một trí tuệ nhận biết sâu sắc và đòi hỏi tuyệt đối để đạt tới nguyện vọng.

Đấy là sự khác biệt là cái gì có tính cách khắc khe, thô thiểm để xác quyết hành động bởi khả năng là cử chỉ tự phát, tự sinh qua hành động, trong khi đó hành động hệ lụy bởi trí năng là một tiến trình khó xử của phân tích lý giải, mà đó là dự đoán và giải quyết –the difference is roughly that action by instinct is spontaneous, whereas action by intelligence involves a difficult process of analysis, prediction and decision. Đứng trên lập trường lý luận thì hành động đó rất đổi ngạc nhiên, một sự khéo léo có từ trí tuệ của con người, tuồng như là cách thức phát tiết trí năng nhận biết (intelligence) là cái thế hành xữ hay nhất để đảm bảo sự sống còn của con người. Cho nên chi con người là ‘đặc thù’ trên muôn loài động vật khác, bởi; ở đó có một trí năng thuộc kỹ thuật khoa học để gia tăng mức sống là ước mong, là khao khát mà con người muốn đạt tới bất luận từ thời man khai cho đến thời kỳ đương đại. Ý chí đó vốn có trong khả năng tiềm tàng, ý thức nhận biết và lòng hoài vọng là chủ trương của con người đang hiện diện trên điạ cầu này. Nó ngự trị và khống chế ở mọi lãnh vực cho một bản năng tự có (instinct itself). Nhưng nhớ cho không ngoài một lý do nào khác hơn, nghĩa là không nắm cơ hội của hành động qua lý trí khôn ngoan để mưu toan hay lợi nhuận; khiá cạnh nầy do từ xã hội gây nên hay do từ hoạt động khác của con người. Sống còn trong lẽ tự nhiên là duy trì ở đó một xã hội thanh bình thịnh trị, đó là ngữ ngôn xưa nay mà con người khao khát, chớ sống còn không có nghĩa hơn thua, lợi ích khác (the gains) mà làm sai đi ý nghĩa làm người. Giá trị khác; không nương vào sự thông minh, nhận biết để có một khát khao của háo danh, tham vọng mà cần có một bản năng phát tiết để chế ngự sự ‘lạm phát’ tư tưởng; nó không còn là bản năng bảo vệ, một trí năng thuần chất để có một ước muốn tốt đẹp cho riêng mình. Sống còn của con người là gạt ra thứ vị ngã cá nhân (selfishness); duy trì nó tức đi tới ‘diệt vong’. Sao vậy? -bởi khả năng phát tiết mất tính sáng tạo, mất tính hiểu biết nhận thức và lòng khao khát chỉ qui vào đòi hỏi của danh vọng. Danh vọng không làm nên lịch sử mà lịch sử làm nên danh vọng. Ba thể thức đó được coi như cách thức của trí tuệ hiểu biết là con người tốt đảm bảo sự sống còn –though thus far it seems that the way of intelligence is the better guarantor of survival. Đánh giá về sự thông minh, hiểu biết như chúng ta biết là một khát khao thâm sâu cùng cốc (chronic anxiety), một khát khao luôn luôn gia tăng trong cuộc đời của con người là cơ cấu chủ lực nằm trong sự hiểu biết. Mô thức của trí tuệ hiểu biết đó là những gì chúng ta có một sự trau dồi (bồi dưỡng) để mang lại khát khao, đam mê là một trong ba lý do chính yếu. Đầu tiên là những gì mà ở đó có một tư duy nhận thức trong những tác phẩm làm nên bởi thông qua một bề dày của kinh nghiệm trong việc tách rời sự cố để dựng vào đó một sáng tạo tư tưởng, một tư tưởng giản đơn cho ý thức, một ý thức không cầu kỳ, chất chứa, nhũng lạm…mà yêu cầu cái cần có cho bất cứ dự đoán nào hoặc xác quyết vấn đề.Tuy nhiên; những dữ kiện đều trở nên một khát khao đặc biệt mà chúng ta gọi nôm na là cảm thức về trách nhiệm (a sense of responsibility), cảm thức này tợ như ‘nối vòng tay lớn / goes hand in hand’ coi như đỉnh cao cho một cảm thức hiện hữu, một chuẩn độ độc lập. Gốc ngọn của hành động không thể cho là tùy vào, thuộc vào một bản năng sáng tạo thông thường hoặc cho đó là tự phát, tự sinh, tự nhiên (spontaneity) mà nói lên như hô hào, kêu gọi, một hình thức cắt bỏ từ những gì còn lại trong dấu lặng tự nhiên (âm nhạc) –Cut off from the rest of nature, trong cái cố gắng thách đố giữa con người và thiên nhiên. Để rồi cho đó là con người thông minh hiểu biết, một ý thức soi rọi của thời đại. Một sự tỏ rõ như cơ bản cuộc đời trong tiến trình và coi đó là những gì con người muốn chống lại; sự đó là lòng khao khát, là nhu cầu thiết yếu để làm nên lịch sử, nhưng; ác thay những gì đưa ra là ngoài tri nhận hiểu biết (intelligence). ‘nối vòng tay lớn’ chỉ là âm vang để lôi cuốn thị hiếu chớ chả phải rút ra từ bản năng để rồi tung hô cho lòng khát khao. Đấy là nhận thức về cái vỏ bề ngoài. Cảm thức trách nhiệm là ý thức, là nghĩa vụ để thực hiện một chức năng có bản năng, đó là hiểu biết, là cốt tủy của lòng ham muốn để xây dựng hoài bảo, là ý chí lớn của đam mê khát khao. Lý cái vụ này có tính chất cường điệu nhưng nó mang lại cái lý của triết học: gọi là đả thông tư tưởng mà bấy lâu nay chúng ta đứng ngoài vòng cương tỏa của lý luận, cái đó còn gọi là tư tưởng thoái trào, vì; ngay chính bản thân ta mất lập trường trước một tư tưởng bị ‘khống chế’ tư tưởng, nghĩa là chúng ta đang đứng trước bờ vực của bản năng, nhận thức và khao khát; một cái gì mà nó mắc dính trong ta.Thí dụ: Bản năng thúc đẩy nhìn thầy dạy triết mà ngỡ là triết gia lớn, nhìn nhạc sĩ, họa sĩ, thi sĩ mà ngỡ là ‘đấng thiên tài’ là do bản năng thèm khát muốn được như họ, nhưng; trong niềm tin lại là thứ trống rỗng, khát khao đó để lại cái gọi là tối dạ (unintelligent), bởi; vượt quá tư duy cho một nhận định; mà là khao khát vô thức. Đó là hành động bởi bản năng của tự phát, trong khi đó hành động bởi trí tuệ nhận thức liên đới một tiến trình khó khăn –that action by instinct is spontaneous, whereas; action by intelligence involves difficult process…Tuy nhiên sự kiện đôi khi vượt ra ngoài sự kiểm soát. Vì vậy; hợp tác vào một tác phẩm (collaboration) là yêu cầu của niềm tin, nhưng; niềm tin là một cái gì thuộc về thể cách bản năng, nói đúng ra thì nó không phải là thứ nhận thức hiểu biết để tin cậy vào những gì mà người đời đã nhận định. Sự thật của nhận định nhiều khi luồng gió bẻ măng mà thôi. Mà do hiện tượng hóa vấn đề. Thế thôi!

Nhìn xa hơn; nếu như có một sự đối kháng (dù là ngấm ngầm) hay một sự nghịch lý nào trong xã hội thì sự đó là hành động cho lòng khao khát và được coi là một nhận thức rất tự nhiên. Còn nói tài năng thì trong đó vẫn chất chứa một vài cảm thức có ‘dự mưu’ của một tổ chức mơ hồ (sense systematic doubt). Nói ra nghe như không xác thực, nhưng không thể tránh khỏi những nảy sinh khác, cũng không phải có sự ôm đầm lấy nó để cùng nhau có cái sự phản ứng đối kháng của nó –to embrace its polar-opposite. Khổ nổi; thị hiếu đã đánh bại bản năng, hiểu biết và lòng khao khát; đó là cốt tủy để có một nhận định sáng suốt đâu chính, đâu tà hay mượn ngữ ngôn để xóa mạ hay đó là lối hỏa mù che lấp một tri nhận đối kháng? Khổ nổi; giữa hai lãnh hội đã bị sa lầy tư tưởng do từ tư tưởng ngoại vi đưa vào mà làm tê liệt(!).

Sự này có thể gọi là phản kháng không nguyên nhân (rebel without cause) có thể là bản năng, có thể là do từ tri nhận và tất cả đã khơi động trong niềm ao ước khát khao. Cho nên chi những gì đưa ra đều là chứng cớ cho một xác định cụ thể trước hoàn cảnh, chớ không thể đơn phương xét đoán làm ‘mất chất’.

Không những chỉ lòng khao khát nhưng ở đây cũng là dốc đứng đưa tới bế tắc, tê liệt, cái sự đó thường tỏ rõ ở chỗ tri nhận và không thuộc gì về bản năng hành động (unoninstinctual action) mà là có nhiều nguyên nhân nghiêm trọng để chống lại trí năng (anti-intellectual) của những trào lưu trong xã hội. Những trào lưu ta bà thế giới, hùm bà lằn, bầu cua cá cọp, tạp nhạp xà bần làm hư hai và đảo lộn những bản năng phát tiết với một nhận thức sâu xa là hoài vọng khao khát, thiết tha và ao ước. Sự này nó xuyên thẳng vào cái thiếu kiên tâm và gây thêm phiền toái với những gì làm rối loạn tâm tư khi đứng trước một hoàn cảnh khó khăn, nan giải làm dụt trí tuệ nhận biết; tất hoài vọng khát khao trở nên ‘cụt hứng’ gây ra một tệ nạn khác ảnh hưởng vào một kỹ thuật phổ biến qua sự hiểu biết trong văn chương, hội họa, âm nhạc…và; đánh vỡ mọi qui cách trong cái gọi là dốc đứng phát tiết thuộc về bản năng thiên bẩm. Đấy là hậu họa cho bản năng, trí tuệ và khao khát của niềm tin. Đòi hỏi duy nhất là thấm thấu vai trò, chức năng của mỗi đơn vị ứng vào mỗi cá nhân, chớ nhất thiết không vơ đũa cả nắm để phán xét mà ngày nay thường đem ra nhận định phê bình một cách dễ dàng làm lạc hướng tôn chỉ, sai lạc cả nhận thức sâu sắc về mỗi đối tượng trong và ngoài đời đang sống. Mà cần một trí tuệ sáng suốt mới phê nhận rõ vấn đề.

Tuy nhiên; sự lý này gặp phải khó khăn cho chúng ta để hiểu, coi như đây là viễn cảnh cho hành động với nhiều lý do, đó là những gì chúng ta có thói quen nhìn tới đối kháng là một khát khao như một tương tác cách riêng (exclusive) tợ như Thượng đế và Xa-tăn. Bởi ở đây ý tưởng của chúng ta là một lập trường nhất thể và đường lối của giải quyết đối kháng là loại trừ một cách đơn giản, nghĩa là không còn níu kéo cho một ý tưởng lệch lạc, mơ hồ. Thứ nhất mất tính sáng tạo và thứ đến không còn ý thức nhận biết đích thực trước vấn đề, dù cho kêu gọi trực tiếp hay gián tiếp, khao khát đó trở nên vô vọng. Và; cho đây là cái lý phản kháng của chúng ta để chống lại thái độ hung hản của lý trí là luôn luôn trong hiểm nguy của việc từ bỏ niềm tin đưa tới bản năng –For this reason our revolts against the excesses of intelligence are always in danger of selling out to instinct. Đấy là xác thực vấn đề chớ chẳng phải hoa mỹ từ ngữ mà làm mất đi định nghĩa của từng vai trò, là những gì con người đang thực thi và hướng tới. Còn cho rằng lý giải xa rời thực tế của con người thì hóa ra chưa đả thông tư tưởng để lãnh hội mà vòng vo tam quốc, vạch lá bắt sâu để tìm chỗ khuyết, nhưng; trên thực tế vẫn không ngoài ý tứ để lấp vào. Đứng trên lập trường luân lý một cách ‘lô-gíc’ thì sự đó là ngoài ‘qũi đạo’ của lý trí, không nhận biết và chẳng có một hoài vọng nào hơn. Thành ra phê bình hay nhận định là nắm vững lập trường phê phán khách quan, còn bằng không: bản năng, nhận thức và khao khát không đứng vững trong một chủ đề mà hàng hai; gió xuôi đâu phất cờ theo đó, bởi; mất bản năng tự quyết, mất ý chí thông minh mẫn cán và hoài vọng khát khao; thời tất không còn chỗ đứng của con người. Hoàn toàn vô vị, vô lai, vô căn cớ. Nó tợ như những nhà phê bình văn học nghệ thuật hiện nay, diễn tả trong vai trò đào bới, tìm củ khoai hư mà không tìm hiểu nguyên nhân của củ khoai hư, tuy nhiên; vẫn có những nhà phê bình chân chính qua nhận định khách quan hơn là chủ quan, bởi họ không có một tâm thức hơn thua (the gain) và có cái sự ngã vị ám thị (the selfishness) trong tâm tư họ. Ngược lại; một ‘nhà giáo’ về ngữ văn phê bình như giận dữ, như phẩn nộ, làm mất chất mô phạm bởi bản năng không thông minh trí thức (unintelligent) để nhận định mà đưa vào đó một sự đố kỵ, so sánh, một đầu óc tàn bạo (inhuman) đả phá, thóa mạ trong bản chất ngu xuẩn, đấy là hành động không có bản năng (unonistintual action) đem lại một tư duy đốn mạt, một hành động hoàn toàn vô tri: không bản năng, tri thức và lòng khao khát để đạt tới lý tưởng. Vô tâm!

Đây là sự kiện hiển nhiên cho một anh hùng mã thượng (heroic) dũng cảm trước tình thế và chấp nhận thương đau (facing) ngay cả hình phạt. Nhưng; có điều đáng nói về cảm nhận và thức tỉnh; ấy là điều theo đuổi thường trực. Bên cạnh đó có vô số vấn đề nêu ra và không nêu ra hoặc tán đồng hoặc dửng dưng, những hoạt đầu chính trị, những ma đầu thương doanh, kinh tế, những ‘biệt kích’ văn hóa tất cả hàng ngũ đó là thứ phá hoại xã hội và con người, vì; mất hẳn bản năng sinh tồn mà duy trì thứ bản năng hóa (tự động như máy móc); đấy là lý do đã làm tê liệt bản năng, nhận thức và khao khát của con người.

Sự này có hai cái lý để thoát một cách rõ ràng do từ cái sự tiến thối lưỡng nan, tức là đi hàng hai mà ra (mất lập trường để củng cố) –There are two obvious escapes from the dilemma. Thứ nhất chận đứng cái háo hức tri nhận hiểu biết và cái quá mẫn cán ý thức đến của sự việc bên trong của cuộc đời con người và đã dội lui trong hình thức cố chấp, gần như ngang đầu cứng cổ, một thái độ không phục thiện là mẫu thức tha hóa trong hành động. Nếu được nói: ‘hãy làm điều gì đúng (lương tâm) và cũng đừng tỏ ra mình là người sành sõi tâm lý về hành động. Chỉ theo lệnh và đừng đặc vấn đề’-just do the right thing, and; don’t be sophisticatedly psychological about your motives. Just obey, and; don’t ask questions- Sự lý này nó có một liên hệ dây mơ rễ má đến tôn giáo, bởi; tôn giáo đòi hỏi một tâm thức sáng tỏ. Sự này được gọi là hiến dâng lòng tự hào của tri thức –This is called sacrificing the pride of the intellect. Nhưng; trong đó chúng ta tìm thấy ở chính chúng ta cái dật dờ (dilemma) hàng hai; vì rằng tôn giáo có một yêu sách tối thượng là hướng tới nghi thức trống không (empty formalism) và hợp lẽ đạo đức (moral legalism). Đây chính là con đường hành xữ cuộc đời như một hình thức hiện đại, xoá tan hình ảnh xưa cũ là bản năng bán đứng linh hồn, gần như trò đồng bóng (woo-doo) là do từ chỗ ‘ma đưa đường qủy dẫn lối’; có thể coi đó là khát khao và đối kháng, bởi; nó có tính chất khổ-kiếp điạ ngục trần gian (damnation), một thứ tà đạo coi như việc hiển nhiên, nó hoàn toàn không sát nhập vào chủ đề của bản năng, nhận thức và lòng khao khát; nhất là đối với tôn giáo chủ trương giải thoát là cơ bản chủ chốt.

Ấn Độ giáo và Phật giáo đã thừa nhận cho đó là lối đi của con người là lưỡi dao cạo và đó không phải là phóng sinh thực sự mà do từ đối kháng của dục vọng, của cảm nhận và của hành động. Đó là khát khao đi tới vô vọng; không còn lối thoát nhưng nó có một sự dung giải của đối kháng trong cái thời hiện tại cuộc đời –but a resolution of the conflict within this present life; như thể là ‘mọi thứ trôi đi / anything goes’ không còn lưu lại. Thực ra thì đây chỉ là lời nói trên sách vở, trên thực tế là nói đến tốt và xấu, thoả mãn và đau đớn, sống và chết là lẽ chung, là tương thuộc vào nhau và coi như đạo thường tình, một lẽ đạo tự nhiên hoặc tương xứng tự nhiên mà bản năng con người phải đón nhận ‘tự nhiên’; đấy là việc hiển nhiên đòi hỏi ở nơi ta sự nhận biết để thích nghi vào hoàn cảnh, là nghĩa cử của con người tri thức đứng trước một hiện thực cuộc đời, thời cái lòng khao khát đó mới đạt yêu cầu, nghĩa là lãnh hội đến nó để có một sự vượt thoát; tất không còn hệ lụy ngay cả hệ lụy những gì giữa cuộc đời đang sống. Là vì, như thế này; nếu tất cả hành động và hiện hữu tồn lưu là nằm trong ý chí hợp nhất với cái sự không chuyển hướng thời tất lẽ ‘Đạo/Tao’ là thường tình, không có nghĩa lý gì hơn hoặc giáo điều để yêu cầu mang lại; mà đây là tùy vào trong một hiện hữu sống thực. Ngược lại Thiền Phật giáo nhìn hiện thực cuộc đời là ‘giả hợp’ là cái trống không mênh mông, nó không ăn nhập gì giữa cõi đời này, dẫu cho đó là bản năng thiên phú đi nữa thời tri thức nhận biết chỉ là thứ ‘bất khả tri’ và khát khao chì là con đường đưa tới hỏa mù. Thí dụ: Thiền nói: “những lóng chân trên mình con rắn / legs on a snake” hoặc cho đó là những gì không dính tới (irrelevancies). Cái lý của Thiền là hình ảnh vừa trừu tượng vừa nhận thức mà do bản năng phán quyết giữa thực và hư; cốt tủy của Thiền thuộc về tri thức là hành trạng đi tới khao khát của chân-không chớ không phải ‘chân-không’ là hình dung từ như đã nghĩ ‘oan’ cho Thiền (!).

Vậy thì ở đây là những gì bao gồm một cách rõ ràng cho việc chọn lựa cho những gì thúc đẩy hơn là những gì phản ảnh vào; tất cả là hành động của tri nhận. Do đó; những gì vượt ra khỏi đối kháng giữa tri thức và bản năng là việc cần thiết đầu tiên để nhận thức hoặc ít ra cho đó là tửởng tượng hoặc có lẽ đó là trạng thái của lý trí, là những gì thuộc kinh nghiệm hơn là thuộc về tri nhận; đấy là lý do luôn luôn nghịch lý. Nhưng nhớ cho cái điểm này: kinh nghiệm không là thứ nghịch lý đối với tất cả –but in experience it is not paradoxical at all. Mà nó nằm trong nhận thức hiểu biết để có kinh nghiệm. Trong cùng một cách thức nó chỉ là một chuyển động biểu quyết / apparently nghĩa là nó rành rành cho một bản năng tự quyết, tuy có đôi phần mâu thuẩn hay nghịch lý để miêu tả cảm thức; mà trong đó như thể là có bất cứ thứ gì muốn nói đến cái sự tùy thích không ràng buộc và một sự thông minh hiểu biết để minh định một cách đầy đủ và rõ ràng. Điều này coi như có hai bề mặt của bên trong và bên ngoài là những gì xẩy ra ở tự nó. Bởi như thế này (theo triết học) -người theo thuyết duy thực chống lại thứ người hay đặt danh –the realists against the nominalists, và; thứ người theo duy tâm thì chống lại thứ người chuộng vật chất –the idealists against the materialists và như thế mà luân lưu. Nhưng trong cảm thức là miêu tả một sự thật qua kinh nghiệm của những gì đã thu tập và ngay cả mọi tình huống khác nhau để có liên hệ với nhau; coi như bản năng có một phần trong kinh nghiệm mà ra; cho dù trong tình cảnh cách xa hoặc cho tất cả những gì là sự thế chẳng đặng đừng / suchness đi nữa. Nói rộng ra nó là như thế đó; có nghĩa rằng mọi sự đều liên hệ lẫn nhau là thế. Cho nên chi có lý giải chỉ đi tới cái sự cân nhắc, xét đoán là đáng kể mà thôi, bởi; không một vật, không sự kiện mà đã có trong bất cứ hiện thực của cuộc đời. Còn nói khao khát là những gì xuyên qua trong một đối kháng nội tại với bản năng tự phát của con người ý thức; ngoại trừ đó là vấn đề của cảm xúc, là những gì xác định cụ thể cho một hiện hữu của nó. Hơn thế nữa cảm nhận để quét sạch những gì nói đến bản năng đặc biệt của một trí tuệ thông minh mẫn cán mà nó đến từ kết quả của những gì đã được thổi phồng như ngợi ca những gì không đáng (phải /have to) ngợi ca. Chính cảm nhận đó đã đi xa bản năng để định vị cho một cá thể có trí tuệ. Tư duy đó không thống nhứt tư tưởng mà đưa tới tư duy nghịch lý, thời tất bản năng, thông minh trí tuệ và khát khao trở nên vô vọng, xa rời vũ trụ ý thức (cosmos-consiousness) mà để lại ngã vị lớn lao (great-self) là ngã mạn (own-self); tất cả là thấp kém (beneath all) mà là tận cùng của bản năng; những thứ đó là hiện hữu tồn lưu nhân thế.

Ngoài ra cho ta thấy trong thi văn đã phản ảnh rõ nét về bản năng của nó. Có hai loại bản chất khả năng: Một do thiên tính. Hai do thói quen du nhập vào bản năng tự động hóa (automatize) để làm nên. Ngay cả bẩm sinh thiên tính của thi ca cũng chưa hẳn là khả năng tự quyết để thành thơ, nó thành thơ gần như máy móc hóa, nó không đi từ trí tuệ (intellectual) hay cảm hứng (inspiration) mà nó nằm trong dạng săn đuổi con-chữ (thơ không bốc đồng (sponteneouness) mà xuất thần (transcendent). Bởi; thơ là cái siêu lý vượt thoát của tâm hồn, nó có cái phi ngã của nó để thành thơ; ngay cả hồn du nhập giữa hiện thực cuộc đời (thiên tai, thể thao hay thời sự…). Cái đó là thơ-kể-chuyện chả phải là hình thức thơ mới. Văn cũng thế do từ thói tính; dù cố gắng lột tả toàn chân nhưng hóa ra nằm trong cái vòng vo tam quốc, ta bà thế giới. Mạch văn lộ cái chân tướng ‘văn tức là người’ là thấy được bản chất trong đó, thấy được con nhà tông không giống lông cũng giống cánh là sở đắc của nó; cho dù tạo một thông minh hóa để thành văn hay thơ. Tựu chung hai ‘trường phái’ nầy đã phản biện vào ba điều nêu ra: bản năng, trí tuệ và khao khát; hoàn toàn cách xa và không hòa nhập vào tạng thể của nó. ‘Type’ nầy nằm trong thành phần phá hoại văn chương chữ nghĩa, đi ngược trào lưu đương đại gây ra một bản năng tự kỷ, một trí tuệ mù tăm và một khát khao vô vọng. Duy trì như thế tất đưa con người vào ngõ bí của hồn và xác, là vực thẳm.


Nói tóm lại những gì đã miêu tả là chủ thể nhận ra từ bản năng hiểu biết hay bản năng tự phát, tất cả đưa tới khát khao; ở bản văn này là lời bày tỏ một cách tự nhiên, đấy là vấn đề cảm tưởng và một vận dụng tuyệt đối qua tư duy. Vậy cho nên chi những gì xẩy ra trong ba trường hợp trên là những gì cần có của con người đứng trước mọi tình huống cho một xác quyết rõ ràng và trung thực giữa những gì đã phân chia từng mảng thuộc hai bề mặt bên trong (tinh thần) và bên ngoài (thể xác). Như vậy; đây là một khám phá mới trong ý thức chuyển đạt tư tưởng là bản năng có từ nhiều phiá trong ý thức vũ trụ. Đây là sự kiện vượt ngoài trí năng để tìm thấy một sự độc lập bản ngã, xa rời mọi nhu cầu khác và có từ trong chúng ta một ngã vị tự thể (itself). Nói chung: ‘như là sự vật vây quanh sự vật / as things among things’. Do đó; trong mọi hành động là thấy được sự phát tiết của trí tuệ theo cách riêng. Thế nhưng; chưa hẳn là hội đủ điều kiện để đòi hỏi nhận biết / knowing mà là tương thức gần gũi.Thí dụ: khi bạn uống nước thì bạn biết nước uống đã ướp lạnh.Tợ như trong Thiền; đánh rấm nghe rõ là nhận biết qua việc: nếm thiền, ngửi thiền, sờ thiền; tất cả chỉ là cảm nhận tự nhiên do từ bản năng, tri thức và lòng khát khao mà ra ./.


(ca.ab.yyc. Cuối 6/2018)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 29.6.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004