Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




“Vô Thường - Luân Hồi - Định Mệnh”:

Vẻ Đẹp của Cuộc sống.








VÔ THƯỜNG


Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm, để lại ý nghĩa tốt đẹp cho đời  và cuối cùng đặt cho mình một dấu châm hết thật tròn.

Cuộc sống và vạn vật quanh chúng ta, từng giờ từng phút luôn luôn biến đổi theo không gian và thời gian, không có gì tồn tại vĩnh viễn. Đó chính là “Vô thường” nghĩa là không có gì thường xuyên trường tồn mãi mãi, 

Thân vô thường, sinh, lão, bệnh, tử ,bệnh tật ,tai nạn bất thường luôn xẩy ra. Cuộc đời con người cũng vậy nay còn mai mất.

Tâm vô thường, lúc này  yêu tha thiết nhưng gặp nghịch cảnh thì chuyển thành oán hận là chuyện thường tình. Lòng tin cũng dễ lung lay, lý tưởng cũng dễ thay đổi.

Thời gian “ vô thường”: Cuộc sống hối hả, ai ai cũng chạy theo công việc tất bật hàng ngày,tranh đấu trong thương trường, trách nhiệm đối với gia đình và xã hội,  chợt ngoảnh lại thấy mình đã già, thời gian trôi mau đời người thật ngắn ngủi để rồi thoáng chốc hiểu ra một điều được sống thanh thản hưởng chọn niềm yêu thương là điều vô cùng quý giá.


LINH HỒN và CÕI ÂM” của GS TS Bùi Duy Tâm (San Francisco, CA)


-Tôi sinh ra trong một gia đình ba đời theo Đạo Kitô, đã đọc Thánh Kinh. Sau này làm bạn tâm giao với cố Linh mục Bửu Dưỡng và Hoà thượng Thích Mãn Giác, nên tôi có điều kiện đàm luận về KiTô Giáo và Phật Giáo.

Tôi đã hiểu được cái tinh tuý của Lý Dịch và Đạo Nho, các cuốn Tử Thư của Ai Cập và Tây Tạng cũng như nhiều sách khác cùng loại, sang Ai Cập, Ấn Độ, Tây Tạng … để tìm hiểu thêm về Huyền Bí Học và Siêu Hình Học. Nhưng tất cả đều mù mờ về “Linh hồn” và “Cõi đời sau khi chết”.

Tình cờ cầm tờ Y Tế Nguyệt San số 5, tháng 5/2001 của Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ nên đề tài “Linh hồn và Cõi âm” đã có cơ hội hé mở sau bao thất vọng. Còn đợi gì nữa mà không về Việt Nam, đến cầu Hàm Rồng để tìm gặp cô Phương cho ra nhẽ ?

Sau này mỗi lần về thăm quê hương, tôi đều đưa mẹ tới gặp cô Phương. Sau này tôi có gặp nhiều nhà ngoại cảm khác ở Việt Nam, họ cũng có khả năng như cô Phương – cô Bằng, cô Thảo, cô Mến trên đường từ Hà Nội qua Hải Dương đến Hải Phòng. Tôi cũng đã gặp các nhà ngoại cảm tìm mộ như Cậu Liên, anh Nguyễn Khắc Bảy, cô Phan Thị Bích Hằng … Tôi cũng đã gặp các nhà khoa học nghiên cứu về tâm linh như TS Nguyễn Chu Phác, GS Ngô Đạt Tam, GS Phi Phi, TS Ngô Kiều Oanh … làm việc ở các cơ quan khác nhau.

Tôi đã được đọc câu kết luận của một tài liệu ở Việt Nam (không phổ biến công khai) như sau : “Thế giới tâm linh là có thật. Đó là một thực tế khách quan cần được các nhà khoa học nghiên cứu nghiêm túc. Chúng ta hãy bình tĩnh, khách quan lắng nghe những lời nhắn như từ thế giới tâm linh để có cuộc sống nhân ái hơn, lương thiện hơn “.


LUÂN HỒI

(trong Phật giáo còn gọi là " Vòng luân hồi" hay " Bánh xe luân hồi") 


Thuật ngữ này chỉ những lần đầu thai tiếp nối nhau, trạng thái bị luân chuyển của một loài Hữu tình khi chưa đạt giải thoát, chứng ngộ Niết-bàn.

Sau khi tái sinh, phần lớn các chúng sinh sẽ không còn nhớ gì về kiếp trước đó. Các chúng sinh sẽ có một cuộc đời mới. Việc chúng sinh sẽ tái sinh vào cõi nào sau khi chết có thể dự đoán được nếu quan sát cận tử nghiệp của chúng sinh đó.

Cội nguồn của luân hồi từ đâu, loài hữu tình có từ bao giờ…, những câu hỏi này đã được nhiều người nêu lên nhưng Phật tuyệt đối không trả lời những sự thắc mắc vô bổ này vì theo Phật, chúng chẳng giúp ích gì trên con đường tu tập. Niết-bàn, sự giải thoát khỏi luân hồi chỉ có thể thực hiện trong kiếp làm người; trong tất cả con đường tái sinh khác chúng sinh không thể đạt Bồ-đề vì không có đủ khả năng nhận thức được yếu tố chính của luân hồi, đó là tham và vô minh. Muốn thoát khỏi luân hồi thì cần phải dứt được nghiệp chướng do dục giới mang lại; muốn thoát khỏi nó, theo Phật, chỉ có con đường bát chính đạo mới dẫn con người đến cõi niết bàn.

Trong Đạo Phật, vào thời điểm sắp chết, tâm thức (thức của những giác quan khác nhau, chẳng hạn như nhãn thức, nhĩ thức,...) hoạt động như hạt giống cho sự sản sinh một tâm thức mới trong một cấu trúc sinh học mới, dẫn đến ý chí thúc đẩy tại thời điểm của cái chết (là điều tự chúng tiêm nhiễm bởi những sự thúc đẩy của ý chí kiếp trước).


Đạo Ki Tô và Đạo Phật:


Cả hai bên đều nhìn nhận về sự kiện vô thường

 Là người Việt Nam, chúng ta cần tìm hiểu về Đạo Phật là đạo đang có nhiều người theo.  Chúng ta cần biết sự tương đồng lẫn sự dị biệt giữa Đạo Kitô và Đạo Phật. Chúng ta tôn trọng niềm tin và quyết định của người theo các tôn giáo khác, nhưng chúng ta cần biết sự thật về sự khác nhau giữa các tôn giáo để khỏi mơ hồ và khỏi hiểu lầm.


 Những điểm tương đồng giữa Đạo Phật và Đạo Ki tô:


Cả hai bên đều nhìn nhận về sự kiện vô thường. Nhìn cuộc đời chúng ta thấy sự đổi thay. Không có gì là vĩnh viễn cả, cỏ khô, hoa rụng, đế quốc nầy hưng thịnh rồi suy đồi, người ta sống rồi người ta chết. Đời sống con người sinh ra, lớn lên, trở nên già, mắc bệnh rồi chết. Đó là vô thường.

Cả hai bên đều nâng cao các tiêu chuẩn đạo đức. Cả hai đều dạy mọi người phải nói thật, kỹ luật, tâm trí tinh sạch, thương người. Cả hai đều cấm giết người, cấm gian dối, cấm tham muốn tình dục, cấm nói dối, tham ăn, và say sưa. Trong Đạo Phật có Ngũ Giới và Bát Chánh Đạo thì trong Đạo Kitô có Mười Điều Răn.

Cả hai bên đều nhấn mạnh đến sự suy gẫm và kỹ luật tự giác.

Cả hai bên đều khen ngợi sự thương người và kính trọng sự sống. 

Đạo Phật dạy hãy từ bỏ mọi ham muốn, Đạo Kitô dạy hãy giữ mình khỏi những dục vọng thấp hèn và ô uế.

Đạo Phật phái Đại Thừa tin nơi thiên đàng và địa ngục với phần thưởng hay hình phạt tương lai cũng tương tự như quan niệm về tương lai thưởng phạt của Đạo Kitô. Cả hai đều nói về sự bình an trong tâm hồn (Mục Sư Nguyễn Văn Huệ)


Đạo Ki tô với Luân hồi -LTCG (09.04.2012)


Chuẩn bị cho đại lễ Phục sinh, đức hồng y Godfried Daneels  TGM Malines ( Bỉ ) đã cho phổ biến thư mục vụ mang tựa đề “ Bên kia cõi chết” trong đó ngài  nhấn mạnh những khác biệt căn bản giữa đức tin Kitô giáo vào sự Phục sinh và niềm tin vào Luân hồi”. Về  sự Phục sinh được đề cập thì đây không phải sự sống lại của Đức Kitô nhưng là của mọi con người sau khi chết “ Cái chết không có nghĩa là sự  kết  thúc của hữu thể nhân loại, họ vẫn tiếp tục sống bên cạnh Thiên Chúa là Đấng đưa họ vào mãi mãi  trong cuộc  sống mới cùng với một thân xác được tôn vinh, tất cả những điều này vì cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô Đấng không ở lại trong mồ nhưng quyền uy  Thiên Chúa đã làm cho Ngài về lại  cõi sống” ( KinhThanhvn.org )  Còn đây là  cái hiểu về Luân hồi “ Sau khi chết, hữu thể nhân lọai trở về lại cuộc sống dương thế nhưng là trong một thân xác khác. Tiến trình này thay đi đổi lại một số lần không xác định được, như vậy có khả năng “ làm lại cuộc đời” ( kinhThanhvn.org ).

Sự khác biệt ấy thế này -Phục sinh   dược hiểu  như là con người chỉ sống có một kiếp sống và sau khi chết đều được về sống…bên cạnh Thiên Chúa. Còn -Luân hồi thì phải trải qua vô số kiếp không thể xác định. Lập luận sau khi chết, con người đều được …phục sinh còn được lập lại thêm một lần nữa.

Tóm lại, Đạo Phật và Đạo Chúa đều có quan niệm về sư kiện “Vô thường” – “Luân hồi”, nhưng diễn tả hơi khác nhau.


ĐỊNH MỆNH


Một số người tin rằng những diễn biến xảy ra trong cuộc đời đã được an bài sẵn. Khoa chiêm tinh (astrology) tin rằng những diễn biến trên quả địa cầu và tánh tình con người đều bị ảnh hưởng bởi những vị trí ngôi sao trên trời. Nếu ta sanh vào ngày tháng nào đó thì sẽ bị dấu ấn của những vì sao ảnh hưởng lên tánh tình và những diễn biến trong cuộc đời. Những người đó tin rằng ngay khi sanh ra là định mệnh đã an bài rồi, không ai chạy khỏi hết. Thí dụ người tuổi Sửu thì trong cuộc sống sẽ trải qua những năm thuận và năm kị tuổi. Năm thuận và kị như những cái đèn xanh đèn đỏ của đời người. Năm thuận thì gặp đèn xanh nhiều, làm gì cũng êm xuôi và năm kị thì trường hợp ngược lại.

Người đạo Ki tô giáo tin rằng những gì xảy ra cho họ là do ý muốn của Đức Chúa Trời. Chúa đặt đâu ta ngồi đó. Có người Chúa đặt vào hoàn cảnh giàu sang, còn người khác bị lâm vào hoàn cảnh nghèo đói. Ta không cãi ý Chúa được. Ta cần cầu nguyện để cho Chúa thương xót mà thay đổi hoàn cảnh cho ta. Có thể những hoàn cảnh khó khăn là những thử thách nên ta không nên than trời trách phận. Một số con chiên còn mang mặc cảm tội lỗi là mình đã làm gì khiến Chúa phật lòng nên Ngài mới đặt mình vào hoàn cảnh khổ sở.

Người Phật tử thì tin rằng định mệnh là nghiệp. Mình đang ở hoàn cảnh xấu là do mình tạo nghiệp xấu từ kiếp trước. Mình nên "trả nghiệp" bằng cách chịu đựng một thời gian thì nghiệp sẽ hết. Khi cái nghiệp xảy ra thì mình không thay đổi được. Nhiều người cũng không muốn thay đổi vì e rằng làm như thế nghiệp sẽ nặng hơn. Giống như thiếu nợ thì phải trả cho chủ nợ, cứ khất nợ hoài thì nó chồng chất, mình sẽ trả không nổi. Có nghĩa là mình muốn thoát hoàn cảnh này thì sợ gặp phải hoàn cảnh xấu hơn nữa, như tục ngữ có câu: chạy ông mồ mắc ông mả.

Những người tin hoàn toàn vào định mệnh thì sẽ rất thụ động. Nói đúng hơn họ sợ làm cái gì đó khác hơn để thay đổi hoàn cảnh, nên phải đứng yên cắn răng chịu đựng. Đó là những người rất lo âu trước cái vô định của cuộc sống nên thích tin vào một đường lối đã vạch định sẵn.
Tha thứ là giải thoát khỏi định mệnh

Hiểu được lực nhân quả tương tác ở nội tâm thì ta mới hiểu được tại sao các vị lãnh tụ tôn giáo kêu gọi sự tha thứ.. Nếu không có tha thứ thì không ai có thể trở về cái vị trí an lạc ban đầu được. Ý nghĩa cứu thế của Chúa Jesus là Ngài tự nguyện tha thứ những người hại Ngài, như một gương sáng giúp nhân loại vượt qua được sự vay trả đời đời của hận thù. Thù qua ghét lại có thể coi như là tội nguyên thủy của loài người. Tha thứ mới là phép mầu nhiệm thật sự. Phép mầu này ít ai nhận thấy được vì nó trong sáng trong sự khiêm nhượng tột bực chớ không phải là sự màu mè hào nhoáng của Superman hay điệp viên 007 làm được những điều phi thường.

Hiểu như thế Chúa cứu thế không đến với ta từ hành tinh khác mà Chúa sẽ hiện diện trong chính ta nếu ta thực hiện được sự tha thứ trong đời ta. Khi sống trong khiêm nhượng và tha thứ thì ta như con nhộng xé được cái vỏ của ngạo mạn để trở thành con bướm muôn màu. Ta không đợi đến khi chết mới được Chúa rước. Khi ra khỏi được cái vỏ của ngạo mạn thì ngay trong giây phút đó ta thấy Chúa hiện diện trong lòng ta.

Phật thì khuyên ta nên hỷ xả, có nghĩa là bỏ qua trong sự vui vẻ. Ở dưới biển, có một loài cua thích sống trong vỏ sò (hermit crab), khi cua lớn lên thì nó phải vui vẻ bỏ cái vỏ sò nhỏ để tìm cái lớn hơn chọn làm nhà. Hỷ xả cũng như thế, là từ bỏ sự nhỏ mọn để nhìn thấy sự rộng lượng. Hỷ xả là một phương pháp trị cái bịnh của ngã (cái tôi). Nếu ta cứ bám vào tiền tài, sắc đẹp, danh lợi thì cái lòng tham và sân của ta càng ngày càng lớn. Khi cảm thấy ta được càng nhiều (sở đắc) thì ngạo mạn càng tăng theo. Sự đời vô thường làm cho ta không bao giờ giữ được mãi mãi những gì mình muốn vì thế lòng tham ngày càng tăng trưởng. Khi có ai tước đoạt những gì ta đang được thì ta sanh lòng bực tức sân hận.

Tham và sân là nguyên nhân chính của lo âu. Tham có thể hiểu theo nghĩa rộng là muốn đem về cho ta vì sợ để lâu thì ta sẽ hết được phần lợi đó. Sân là sự bực bội khi gặp hoàn cảnh nghịch ý ta.. Bề mặt bạo động của sân là chửi bới đánh lộn, còn mặt thụ động là "tự ái", hờn dỗi để bụng. Bụt dạy ta nên thấy cái vô thường của cuộc đời để lúc được thì không tham và lúc mất thì không sân. Ta phải tập hạnh hỷ xả thì mới phát triển từ bi được. 

Tại sao tôn giáo nào cũng khuyên con người bố thí? Ta có thể hiểu tham, sân, si trên lý thuyết nhưng chỉ có hành động thực hiện sự ban cho mới giúp ta nhận thức rõ những hạn chế của ta. Thí dụ như khi cho mà ta thấy còn quyến luyến vật ta muốn cho thì lúc đó mới chợt nhận ra mình còn lòng ham muốn. Khi bớt lòng ham muốn đem về cho mình rồi thì mình mới thông cảm kẻ khác được. Đây là cách bố thí nhận thức của người có căn cơ cao. Người căn cơ thấp thì áp dụng bố thí trao đổi chớ không phải bố thí nhận thức. Bố thí trao đổi là bố thí để được hưởng phước lộc. Ta cho để lấy lòng đấng nào đó mà ta thờ phụng. Ta bố thí để được Chúa hay Phật ban phước lành hay phù hộ. Chỉ có bố thí nhận thức mới giúp ta phát triển tâm linh được.

Định mệnh có hay không là do ta. Khi ta biết tập những phương pháp mở rộng nhận thức tâm linh thì cái khả năng ta thay đổi cuộc đời rất cao. Nếu ngược lại ta thụ động đổ thừa cho số mạng hay ngồi đó chờ một phép lạ xảy ra thì lúc đó định mệnh có thật vì ta không tận dụng khả năng thay đổi cuộc sống của ta. Nói một cách khác, nếu ta tin có ma thì sẽ gặp ma, ta tin có Phật hay Chúa thì sẽ gặp những đấng mà ta tin.

Nếu có người ở trình độ thấp thì tin vào định mệnh cũng có cái lợi của nó là lòng tin đó giúp họ chấp nhận những biến cố xấu và trải qua những đau khổ cuộc đời dễ dàng hơn. Họ không than trời trách phận hay sanh lòng ganh ghét hoặc hận thù vì "đó là số mệnh của mình".

Tuy nhiên nếu ta có trình độ cao thì nên tập những phương pháp giúp tâm tĩnh lặng vì đó là phương pháp nhanh và gọn để "chuyển nghiệp" dẫn ta đến hạnh phúc ngay trong đời này. Phương pháp này cũng giúp ta hiểu các tôn giáo một cách sáng tạo chớ không kẹt vào chữ nghĩa văn tự nữa.

Bất kỳ độc giả ở tôn giáo nào, khi mỗi người trong chúng ta phát triển được ý thức tâm linh qua tâm tĩnh lặng thì ý thức này sẽ cộng hưởng với nhau. Rồi một ngày nào đó nó sẽ trở thành ý thức tâm linh cộng đồng (collective spiritual consciousness) làm xoay chuyển xã hội vật chất. Chúng tôi hy vọng sẽ có một ngày ý thức tâm linh cộng đồng sẽ phát triển đến độ mà con người sẽ nhận thức rằng những tôn giáo đều hướng về một con đường chung: đó là con đường tâm linh (spiritual way). Lúc đó con người sẽ sống hạnh phúc an bình ở một kỷ nguyên mới.

Ta cần có về một triết lý sống có thể giúp ta có hạnh phúc ngay trong đời này, và đưa những dẫn giải y khoa rất lý thú! (BS Thái Minh Trung).


LỜI KẾT


-Đạo Phật và Đạo Chúa đều có quan niệm về sư kiện “Vô thường” – “Luân hồi”, nhưng diễn tả hơi khác nhau.

Tha thứ là giải thoát khỏi định mệnh: Hiểu được lực nhân quả tương tác ở nội tâm thì ta mới hiểu được tại sao các vị lãnh tụ tôn giáo kêu gọi sự tha thứ.. Nếu không có tha thứ thì không ai có thể trở về cái vị trí an lạc ban đầu được, một triết lý sống có thể giúp ta có hạnh phúc ngay trong đời này, và đưa những dẫn giải y khoa rất lý thú!

-Những hiểu biết về kiếp trước kiếp sau giúp chúng ta sống an nhiên tự tại. Đối với người viết, thế giới kia cũng rất thật như thế giới này. Khi người thân qua đời thì đau buồn là chuyện thường tình, nhưng không nên tỏ ra bi thương thái quá…


THƠ NHẠC về Vô thường, Nhân quả và Định mệnh


-Niệm khúc cuối


(Dù cho mưa ta xin đưa nhau đến cuối cuộc đời… –Ngô Thụy Miên)

Ngày chia tay sớm muộn gì cũng tới

Ở lại đừng buồn tiếc nhớ thương nha!

Khi tôi chết hãy mang tro ra biển

Ngược trôi đi đưa hình hài phiêu bồng” (Du Tử Lê)

Đừng cầu chúc tôi lên miền cực lạc

Đời Vô thường – Nhân quả, một niềm tin

Sau chết, Tái sinh chờ đúng thời cơ

Kiếp sau tùy thuộc Nghiệp-duyên mỗi người!


-Tống biệt


(Lá vàng rơi rắc lối Thiên thai, Suối tiễn, oanh đưa những ngậm ngùi…-Tản Đà)

Nằm đây tưởng chuyện ngàn sau

Lung linh nến cháy hai đầu áo quan

Nhìn lên tươi tốt nắng vàng

Tơ xanh trần thế, dịu dàng cõi âm” (Huy Cận, Hồ Dzếnh)

Nhạc thính phòng, kinh cầu vang

Sen hồng, huệ trắng bần thần tiễn nhau

Hồn ta là đốm tinh hoa” (Vũ Thành An)

An nghỉ (Rest in peace –RIP) rồi về viễn phương tái sinh …


-Cát Bụi - Trịnh Công Sơn


Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi/ Để một mai vươn hình hài lớn dậy . 

Ôi cát bụi tuyệt vời/ Mặt trời soi một kiếp rong chơi . 

Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi/ Để một mai tôi về làm cát bụi . 

Ôi cát bụi mệt nhoài/ Tiếng động nào gõ nhịp khôn nguôi … 


- Thinh Không (Thiền Ca 1 trong 10 bài của Phạm Duy)


Thinh Không/ Trống trải mênh mông/ Rộng rãi vô cùng/ Cao thấp vô lường 

À à a a bỗng/ Đầy ắp sinh trùng/ Tất cả là tôi/ Mà cũng là chung... 


Thinh Không/ Vắng vẻ trầm ngâm/ Lặng lẽ âm thầm/ Yên tĩnh vô cùng 

À à a a bỗng/ Rộn rã tưng bừng/ Nhất nhất trùng trùng/ Nhưng cũng là không…


(Tham khảo: Sách báo - Internet)



Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ SàiGòn ngày 03.6.2018 .

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004