Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới









NGHĨ VỀ ĐẠI LỄ VESAK




Đ ại Lễ VESAK năm nay (Phật Lịch là năm 2562) sẽ được tổ chức ở Trụ Sở Liên Hiệp Quốc Phật Giáo Thái Lan, và Trường Đại Học Phật Giáo Mahachulalongrajavidyalaya ở Thái Lan từ ngày 25-27/5/2018 nói lên là Đạo Phật đã có mặt tại trần gian gần tới 3.000 năm rồi…

Từ xa xưa, Đại Lễ VESAK hay còn gọi là lễ Tam Hợp: Phật Đản sinh, Phật Thành Đạo và Phật Niết Bàn. (là ngày kỷ niệm 3 sự kiện quan trọng trong cuộc đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni), đã được tổ chức tại các quốc gia Phật Giáo theo truyền thống Nam truyền, bắt đầu từ Sri Lanka sau đó truyền sang Miến Điện, Thái Lan, Lào... (Nguồn Internet).

Theo giải thích này thì Đại lễ VESAK được tổ chức tại các Quốc Gia Phật Giáo theo truyền thống Nam Truyền.

Nói về Nam Truyền là nói về Đạo Phật được truyền bởi Lục Tổ Huệ Năng. Pháp Bảo Đàn Kinh viết: Thời Tổ Huệ Năng giảng Pháp ở Chủa Bửu Lâm tại Tào Khê, thì Sư Thần Tú giảng ở Chùa Ngọc Tuyền tại Kinh Nam. Cả hai phái đều rất thịnh hành, nên người thời bấy giờ gọi là NAM NĂNG, BẮC TÚ. Phía Lục Tổ thì dạy Đốn Giáo. Phía Sư Thần Tú thì dạy Tiệm Giáo. Tiệm Giáo thì cho rằng vì Chúng sinh căn cơ chậm lụt, nên cứ tuần tự mà tu hành dần dà nhiều kiếp mới Ngộ được. Đốn Giáo thì dạy “Trực chỉ Chân Tâm, kiến Tánh thành Phật”, cho là người tu có thể Thành Phật ngay tại hiện kiếp, không phải chờ đợi lâu.Cũng nên nhắc sơ qua về Từ Phật. Nhiều người đã hiểu lầm Phật là một vị Thần Linh có quyền năng, có thể cứu độ “Tam Thiên Đại thiên thế giới”, trong khi đó, thật sự, Phật chỉ nói về tình trạng Giải Thoát của Đức Thích Ca mà thôi, không có thần thông, phép màu, cũng không cứu độ được cho ai.

Nói về ĐỐN, TIỆM, Lục Tổ Huệ Năng giải thích: “Pháp vốn không Đốn, Tiệm. Mê, Ngộ có chậm, mau. Chỉ môn Thấy Tánh ấy. Kẻ muội khó kham vào”, có nghĩa là Pháp vốn không có Đốn hay Tiệm, chỉ vì Mê mà làm chậm bước tiến. Nếu Ngộ thì sẽ đi nhanh hơn. Chỉ riêng môn Thấy Tánh thì người mê muội khó vào được, và tu Phật, nếu không Thấy Tánh thì chưa gọi là chính thức bước vào Đạo, chỉ dừng ở hành Thiện, tránh Ác mà thôi. Đó là điều mà Ngũ Tổ đã nói với Sư Thần Tú khi thấy Bài Kệ của Ông viết trên vách nhà cầu:

Thân thị Bồ Đề thọ.

Tâm như minh cảnh đài

Thời thời cần phất thức

Vật sử nhá trần ai”

Có nghĩa là Thân là cội Bồ Đề. Tâm là đài gương sáng. Giờ giờ cần phủi sạch. Chớ để vướng trần ai.

Bài Kệ đó nói lên suy nghĩ của Sư Thần Tú. Ông đã biết được rằng mỗi người có hai phần: Thân và Tâm. Theo ông, công cuộc tu hành là mỗi người luôn chú tâm lúc nào cũng phủi, quét, đừng để cho bụi trần vướng vào.

Ngũ Tổ đã giảng cho Sư Thần Tú hiểu là Sư mới tới bên thềm cửa, chưa vào bên trong, tức là Sư chưa nhận được BỔN TÂM, chưa thấy được BỔN TÁNH của mình. Sư đang trong giai đoạn thấy cái Thân phàm và cái Tâm phàm, vì vậy cần phải giữ cho nó được thanh tịnh. Chưa thấy được cái CHÂN TÂM vốn không nhơ, không sạch, không bụi nào làm nhiễm bẩn cho nó được.

Đối chiếu với Bài Kệ của Lục Tổ Huệ Năng. Chỉ cần sửa vài chữ trong Bài Kệ của sư Thần Tú mà ý nghĩa hoàn toàn khác:

Bồ Đề bổn vô thọ.

Minh cảnh diệc phi đài

Bổn lai vô nhất vật

Hà xứ nhá trần ai

Có nghĩa là Bồ Đề không có gốc. Gương sáng cũng không có đài. Trước sau không có vật gì thì đâu có chỗ nào mà vướng bụi trần.

Đó là Ngài Huệ Năng nói về cái Chân Tâm, Chân Tánh vốn không có gốc gác, xứ sở, trước sau không có vật gì thì làm sao vướng bụi trần được.

Hành động lau, quét, phủi bụi được gọi là Tiệm Giáo, còn trực chỉ Chân Tâm, Chân Tánh thì gọi là Đốn Giáo tức là tu tắt, đi thẳng đến kết quả Giải Thoát…

Đọc Pháp Bảo Đàn Kinh, ta thấy Lục Tổ giải thích về những việc mà người tu phải hiểu, phải hành như: PHƯỚC ĐỨC và CÔNG ĐỨC - CÕI PHẬT A DI ĐÀ - TÁNH - XUẤT GIA, TẠI GIA, ĐỊNH, HUỆ - NGỒI THIỀN - SÁM HỐI VÔ TƯỚNG - CHÚNG SANH - QUY Y - THẤY TÁNH, là những căn bản mà người tu cần hiểu đúng hành đúng, để không lạc vào Nhị Thừa, Quyền Thừa, mới đi vào ĐỐN GIÁO được.


PHƯỚC ĐỨC và CÔNG ĐỨC.


Rất nhiều Phật Tử đã hiểu lầm về hai từ này. Họ nghĩ rằng làm những việc có liên quan đến Chùa Chiền thí dụ cất Chùa, độ Tăng, cúng dường cho chư Tăng, bỏ tiền vô thùng Công Đức được đặt trong Chùa, vô Chùa làm Công Quả... là làm Công Đức. Trong khi đó, đối với Nhất Thừa, tức là Con Đường Tu Phật chân chính thì tất cả những việc nào làm bên ngoài mình thì đều gọi là PHƯỚC ĐỨC. Còn CÔNG ĐỨC chỉ liên quan đến việc XẢ những ôm, chấp, dính mắc để được Giải Thoát.

Về CÔNG ĐỨC, Tổ dạy: CÔNG ĐỨC PHẢI THẤY TRONG TÁNH MÌNH CHỚ CHẲNG PHẢI TÌM Ở CHỖ CÚNG DƯỜNG VÀ BỐ THÍ.

Hành động XẢ, hoặc tên khác là Điều Phục hay chuyển hóa Chúng Sanh cũng gọi là ĐỘ SINH hay “CÚNG DƯỜNG PHẬT”.

Muốn Thành Phật thì phải Độ Chúng Sanh. Thành Phật thì phải “Độ Tận Chúng Sanh”. Thế nào là Chúng Sanh thì Lục Tổ Huệ Năng giải thích: “Chư Thiện Tri Thức, Chúng Sanh trong Tâm mình là: Lòng tà mê, lòng giả dối, lòng bất thiện, lòng ghen ghét, lòng ác độc. Các tâm này đều gọi chung là Chúng Sanh. Mỗi người phải dùng Tánh mình mà độ lấy mình mới là thiệt độ”.

Mỗi lần ta “Độ” hay chuyển hóa được một Chúng Sanh, là ta đã “Cúng Dường một vị Phật”. Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA viết: “Ông Ma Ha Ca Diếp, đệ tử của ta, ở đời vị lai sẽ phụng thờ ba trăm muôn ức các Đức Thế Tôn, cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen rộng nói đại pháp của các Đức Phật, ở nơi rốt sau đặng thành Phật hiệu là Quang minh Như Lai... “Ông Tu Bồ Đề đây phụng thờ ba trăm muôn ức na do tha Đức Phật, cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen, thường tu hạnh thanh tịnh, đủ Đạo Bồ Tát, ở thân rốt sau đặng thảnh Phật hiệu Danh Tướng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, thế gian giải, Vô Thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế Tôn”…

Do đó,“Độ Sinh” cũng là “Cúng Dường Phật”, vì đưa được một chúng Sinh thành Phật. Đó mới là nghĩa đúng của Cúng Dường Phật. Không phải là mang hương đăng, trà, quả, vô Chùa, đặt trước tượng Phật rồi thắp hương để Cúng, vì đó là Y Ngữ, là làm theo Ngữ.

Một trong Tứ hoằng thệ nguyện là “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Người tu phải “Độ” cho hết Chúng Sinh thì mới có kết quả “thành Phật”, tương ưng với lời Phật Thọ ký cho Ngài Ma Ha Ca Diếp và Tu Bồ Đề nói trên, vì trong mỗi chúng ta, từng sát na, Chúng sinh theo pháp mà “trùng trùng duyên khởi”. Chính Đức Thích Ca cũng “diệt độ vô lượng vô số chúng sinh” trong nghĩa đó, không phải là đi giảng pháp để độ cho ai đó bên ngoài.


CÕI PHẬT A DI ĐÀ hay Tây Phương Cực Lạc mà Đức Thích Ca giảng cũng ở trong Tâm của mỗi người. Sở dĩ nói cách xa 18 ngàn dặm là vì Thập Ác và Bát Tà. Nếu ta bỏ Thập Ác, hành Thập Thiện. Bỏ Bát Tà hành Bát Chánh Đạo là ta thu ngắn con đường đến cõi Phật A Di Đà vậy.

Tổ dạy: “Này Sử Quân: “Người Đông Phương tạo tội thì nguyện sanh về Tây Phương. Còn người Tây Phương làm tội thì cầu vãng sanh về xứ nào? Vì người phàm mê muội không rõ Tánh mình. Không biết cõi TỊNH ĐỘ trong Thân mình nên mới nguyện Đông nguyện Tây. Người giác ngộ dầu ở chỗ nào tâm địa cũng thanh tịnh an nhiên, nên Phật nói: Tùy cái chỗ Trụ Tâm mà thường được an lạc. Ngài dạy: Nếu làm Mười điều Thiện thì cần gì phải nguyện vãng sanh. Còn nếu chẳng dứt lòng cưu mang mười điều Ác thì Phật nào đến rước mình. Nếu hiểu rõ pháp Vô Sanh Đốn Pháp, không tạo Ác Nghiệp, dứt ngay 10 điều Ác và 8 Điều Tà thì trong một sát na ắt thấy Cõi Tây Phương. Bằng chẳng hiểu rõ phép ấy mà cứ niệm Phật cầu Vãng sanh thì đường xa vời vợi thế nào tới cõi ấy đặng?”


Về Xuất Gia, Tại Gia thì Tổ dạy: “Muốn tu hành thì ở nhà tu cũng đặng, chẳng cần ở Chùa. Ở nhà mà thường tu hành thì cũng như người Đông phương có lòng lành. Ở Chùa mà chẳng tu thì cũng như người Đông Phương có lòng dữ. Nếu lòng trong sạch thì Tánh mình tức là Tây Phương vậy”.

Ngồi Thiền thì Tổ chê những người Ngồi bất động:

Khi sống ngồi không nằm.

Thác rồi nằm chẳng ngồi.

Thiệt đồ xương thịt thúi.

Sao luống lập công phu”.

Tổ giải thích: “Đạo do Tâm mà ngộ, đâu phải do chỗ Ngồi? Kinh nói; Nếu nói Như Lai hoặc ngồi, hoặc nằm ấy là tà đạo”. Bởi cớ sao? Không do chỗ nào mà lại. Cũng không do chỗ nào mà đi. Không sanh không diệt. Ấy là Tánh Như Lai Thanh Tịnh Thiền. Các pháp đều vắng lặng trống không, ấy là Tánh Như lai Thanh Tịnh Tọa. Thế là cứu cánh không chứng. Không gì mà chứng. Cũng không chấp chỗ chẳng chứng, hà huống là Ngồi”.

Lại có người dạy ngồi xem cái Tâm. Quán tưởng tâm, Cảnh vắng lặng. Ngồi yên chẳng dậy (Thiền) Bảo y theo đó mà lập công phu. Người mê chẳng hiểu, cố chấp làm theo rồi thành điên dại. Số người lầm như thế không phải là ít. Truyền dạy nhau như thế là lầm to”.


Về SÁM HỐI thì Tổ dạy Sám Hối Vô Tướng: “SÁM nghĩa là ăn năn các tội trước của mình. Những tội do các nghiệp ác ngu mê, ngạo dối, ghen ghét đã tạo ra từ trước. Tất cả đều ăn năn, chẳng gây lại nữa, gọi là SÁM.

HỐI nghĩa là ăn năn các Lỗi Sau của mình. Những tội do các nghiệp ác, ngu mê, ngạo dối, ghen ghét tạo ra. Nay đã giác ngộ rồi. Tất cả đều bỏ đời đời, ngày sau chẳng gây lại nữa. Gọi là Hối. Cho nên kêu là SÁM HỐI.

Các người phàm phu ngu muội chỉ biết ăn năn tội trước của mình, mà chẳng biết ăn năn lỗi sau. Bởi chẳng ăn năn nên tội trước chẳng dứt, tội sau lại sanh. Tội trước chẳng dứt, tội sau lại sanh thì sao gọi là SÁM HỐI”.

Thường thì Phật Tử muốn Quy Y thì đến Chùa để xin Sư làm lễ Quy Y. Nhưng Lục Tổ dạy:

Phải Quy Y cái Diệu Giác của Tánh mình.

Quy Y cái Chánh của Tánh mình

Quy Y cái thể thanh tịnh của Tánh mình

Từ đây về sau hãy xưng Giác là Thầy,

chẳng nên Quy Y theo tà ma ngoại đạo.

PHẬT nghĩa là Giác.

PHÁP nghĩa là Chánh.

TĂNG nghĩa là Tịnh.

Tâm mình Quy Y Tánh Giác, thì tà mê chẳng sanh, lại ít có sự ham muốn. Thường thiểu dục tri túc, lìa được của tiền và sắc dục.

Tâm mình Quy Y Tánh Chánh, thì niệm niệm không sanh tà kiến. Bởi không tà kiến nên không lòng nhơn ngã, cống cao, tham ái, chấp trước.

Tâm mình Quy Y theo Tánh Tịnh, thì cả thảy cảnh giới trần lao, ái dục, tâm mình chẳng nhiễm, chẳng vương.

Nếu nói Quy Y Phật thì Phật ở xứ nào? Bằng không thấy Phật thì Quy Y ở chỗ nào? Kinh văn nói rõ Quy Y Phật ở Tánh mình chớ chẳng nói Quy Y Phật nơi nào khác. Phật ở Tánh mình mà mình chẳng Quy Y thì không có chỗ nào mà Quy Y vậy.

Chư Thiện Tri Thức. Tâm mình Quy Y Tánh mình. Ấy là Quy Y Chơn Phật. Tự mình Quy Y nghĩa là dứt trừ hết các tật xấu trong Tâm mình, là Lòng chẳng lành. Lòng ghen ghét. Lòng tà vạy. Lòng vị ngã. Lòng giả dối. Lòng khi người. Lòng nhạo người. Lòng tà kiến. Lòng cống cao, cùng các hạnh bất thiện. Trong cả thảy thời gian thường thấy lỗi mình. Chẳng nói việc tốt xấu của người ẤY LÀ MÌNH QUY Y TỰ TÁNH MÌNH VẬY.

Mọi người thường đến Chùa để lễ Phật, cầu Phật phù hộ, độ trì. Tổ dạy: “MUỐN THẤY PHẬT PHẢI NGÓ TRONG TÁNH MÌNH MÀ TÌM, ĐỪNG NGÓ RA NGOÀI THÂN MÀ KIẾM. TÁNH MINH MÊ TỨC LÀ CHÚNG SANH. TÁNH MÌNH GIÁC TỨC LÀ PHẬT”.

Lòng Từ Bi là Quan Âm. Lòng Hỷ Xả tức Thế Chí. Lòng Năng Tịnh tức là Thích Ca. Lòng bình trực tức là Di Đà.

Lòng nhơn ngã là núi Tu Di. Lòng tà vạy là nước biển. Lòng phiền não là sóng trào. Lòng độc hại là rồng dữ. Lòng dối giả là quỉ thần. Lòng trần lao là cá trạch. Lòng Tham Sân là Địa Ngục. Lòng ngu si là Súc Sanh.

Chư Thiện Tri Thức. Thường làm Mười Điều Thiện thì Thiên Đường liền đến. Dứt lòng nhơn ngã thì núi Tu Di sập ngay. Bỏ lòng tà vạy thì nước biển khô cạn. Trừ lòng phiền não thì sóng lặng êm. Quên lòng độc hại thì rồng dữ ắt tuyệt. Tu được như thế thì cái Giác Tánh Như Lai ở trong tâm địa mình phóng đại quang minh. Ngoài soi Sáu Cửa trong sạch, có thể phá được cõi trời Lục Dục Thiên. Lại soi trong Tánh mình làm cho Tâm Ba Độc đều dứt, cả thảy tội Địa Ngục đồng tiêu một lần. Trong ngoài sáng thấu, chẳng khác gì cõi Tây Phương. Nếu chẳng tu các hạnh ấy thì thế nào Tây Phương được?”


Về PHẬT TÁNH, Tổ dạy: “Chúng ngươi hãy chú tâm mà nghe cho rõ. Những người mê muội đời sau, nếu biết cái Tâm Chúng Sanh, tức là Thấy Phật Tánh. Bằng chẳng biết cái Tâm Chúng Sanh thì muôn kiếp tìm Phật ắt khó gặp. Nay ta dạy các ngươi phải biết Chúng Sanh ở Tâm mình thì thấy Phật Tánh ở Tâm mình. Muốn cầu Thấy Phật thì phải biết cái Tâm chúng sanh. Chỉ vì Tâm Chúng sanh làm mê muội Tánh Phật chớ chẳng phài Tánh Phật làm mê muội Tâm Chúng Sanh. Nếu Tánh mình Giác Ngộ thì Chúng Sanh là Phật. Bằng Tánh mình mê muội thì Phật là Chúng Sanh. Tánh mình bình đẳng thì Chúng Sanh là Phật. Tánh mình tà hiểm thì Phật là chúng Sanh. Nếu Tâm chúng ngươi hiểm khúc tức là Phật ở trong Chúng Sanh. Một niệm bình đẳng, ngay thật tức Chúng Sanh thành Phật. Tâm ta tự có Phật, Phật ở Tâm mình mới là chơn Phật. Nếu tự mình không có Tâm Phật thì Tâm chơn Phật ở nơi nào? Cái Tự tâm chúng ngươi là Phật, chớ khá hồ nghi”.

Trong Kinh có câu của Ngũ Tổ mà người tu Phật có thể lấy đó làm căn bản để đối chiếu với công năng tu tập của mình: “Nếu chẳng biết Bổn Tâm thì học Pháp vô ích. Bằng biết Bổn Tâm và Thấy Bổn Tánh mình tức gọi là trượng phu, là Phật, thầy cõi trời và cõi người vậy”. Nếu chúng ta tu hành bao nhiêu năm, làm bao nhiêu công phu mà không biết Bổn Tâm thì Chư Cổ Đức cho là “Gãi ngứa ngoài giày”, vì chưa vào được Phật Đạo.

Tóm lại, nhân Đại Lễ VESAK được tổ chức do Phật Giáo theo hệ thống Nam Truyền, tôi xin trích một số lời của Lục Tổ Huệ Năng, vì Ngài là Tổ Sư của hệ thống NAM TRUYỀN, để người tu theo NAM TÔNG có thể qua những lời dạy của Ngài, kiểm chứng những hiểu biết, hành trì của mình xem có khế hợp hay không? Bởi vì NAM TÔNG được học Pháp Đốn Ngộ của Lục Tổ, mà theo Pháp này thì người tu phải Thấy Tánh, thành Phật. Muốn Thấy Tánh, thì Phải biết Cái Tâm Chúng Sanh. Biết Cái Tâm Chúng Sanh là để chuyển hóa nó cho nó Thành Phật. Đó là cách tu hành theo ĐỐN GIÁO mà Lục Tổ Huệ Năng truyền lại trong Pháp Bảo Đàn Kinh. Ngài dạy rất đơn giản: “Tánh mình Giác Ngộ thì Chúng Sanh là Phật. Bằng Tánh mình mê muội thì Phật là Chúng Sanh. Tánh mình bình đẳng thì Chúng Sanh là Phật. Tánh mình tà hiểm thì Phật là Chúng Sanh. Nếu Tâm chúng người hiểm khúc tức là Phật ở trong Chúng Sanh. Một niệm bình đẳng, ngay thật tức Chúng Sanh thành Phật. Tâm ta tự có Phật, Phật ở Tâm mình mới là Chơn Phật”. Như vậy, hơn ai hết, những người tu theo Pháp môn Đốn Giáo của Lục Tổ Huệ Năng thì phải tự mình Thành Phật. Ngài dạy cho người tu theo Pháp môn của Ngài THÀNH PHẬT, đâu có dạy đi thờ lạy, tôn sùng cầu xin Phật nào bên ngoài? Bởi Phật chỉ có một nghĩa là Giải Thoát, đâu có phải là Thần Linh để cho ta cầu xin? Lục Tổ đã khẳng định: “Tâm ta tự có Phật, Phật ở Tâm mình mới là Chơn Phật”, vậy thì ta còn đi tìm Phật nào bên ngoài?

Đạo Phật ra đời cũng đã gần ba ngàn năm. Gần đây nhất là Lục Tổ Huệ Năng mà Pháp Bảo Đàn Kinh là Kinh chép lại lời Ngài giảng cách đây cũng đã 1.200 năm. Với bao nhiêu thời gian đó. Với những lời tâm huyết của Chư Tổ. Với bao nhiêu Trường Phật Học được mở ra, đào tạo biết bao nhiêu thế hệ, mà nếu những người có trách nhiệm không đọc kỹ để áp dụng, vẫn tiếp tục hướng dẫn cho mọi người tôn thờ Phật để Cầu Xin, thì rõ ràng chúng ta chưa phải là Đệ Tử thật sự theo Tông của Ngài.

Mong rằng dịp lễ VESAK cũng là lời nhắc nhở cho chúng ta, vì Đức Thích Ca đâu có muốn Thành Phật một mình như lời Ngài trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa: “Xá Lợi Phất nên biết. ta muốn tất cả chúng. Bằng như ta không khác”. “Bằng như Ngài” tức là phải Thành Phật như Ngài đã thành, như lời Ngài đã Thọ Ký “Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành”. Như vậy, nếu với một thời gian quá dài, hàng Ba ngàn năm rồi, vậy mà cứ năm này qua năm khác, chúng ta vẫn tổ chức long trọng để ăn mừng ngày Thành Đạo của Đức Thích Ca, mà không biết bao giờ mới đến lượt mình ăn mừng cho sự Thành Phật của mình, thì rõ ràng chúng ta đã phụ công ơn của Đức Thích Ca đã mang Đạo Phật ra giữa đời, và bao nhiêu đời Tổ đã hy sinh cả đời chỉ để truyền Pháp Đốn Giáo cho chúng ta vậy.


(Tháng 5/2018)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 03.6.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004