Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





CHÁNH TẢ VIỆT NGỮ








I. Đại cương


Báo Thanh Niên ngày 07-3-2018 với tựa: “Sẽ có quy định mới về chuẩn chính tả?”, tác giả là Tuệ Nguyễn. Đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, lần thứ hai học lại Sư phạm môn Văn, tôi còn nhớ rõ vị giáo sư Ngôn Ngữ học nói là chánh tả Việt ngữ của ta, tôi thấy đã hoàn chỉnh. Chỉ có một từ sai là “QUỐC”. Từ này phải viết “QUẤC” mới đúng. Nay ta viết “QUẤC” là ổn thôi. Nếu có đặt quy cách viết danh từ riêng… đó chỉ là sự sửa nho nhỏ ghi trong sách giáo khoa và chỉ đạo các thầy cô Văn phải thi hành. Chỉ có vậy thôi.


II. Viết tên tiếng Việt và phiên âm tiếng nước ngoài


Với ý kiến nói rằng chánh tả chữ Quấc ngữ là hoàn chỉnh rồi, thiển nghĩ nó đã đạt chuẩn rồi thì còn nói chuẩn gì nữa. Đọc bài báo, tôi thấy có hai điểm lớn:


1. Viết tên riêng tiếng Việt


Là người biết chữ, có lẽ ai cũng đã viết tên riêng tiếng Việt. Về mặt nầy, tôi thiển nghĩ chỉ nêu một câu là đủ: tên người, tên nước, địa danh cần viết hoa các chữ cái khởi đầu.

Ví dụ: Nguyễn Tri Phương, Mỹ Tho, Thủ Dầu Một, Lê Thị Hồng Gấm…

Chữ “Thị” của Lê Thị Hồng Gấm, viết hoa hay không cũng không có gì đáng nói.

Viết: thị trấn Bến Lức, thành phố Vũng Tàu…

Chữ “Thị” và “Thành” viết hoa hay không tôi thấy cũng được thôi. Đó là chuyện nhỏ. Nếu muốn thống nhứt cho có quy củ ta nói thêm: “Thể hiện tên địa phương, tên một sự kiện… ta viết hoa chữ đầu cho trang trọng là đủ.

Ví dụ: Thành phố Vũng Tàu, Trường Tiểu học Bình Chánh…


2. Phiên âm tiếng nước ngoài


Có lẽ phải nói rằng ghi âm một tiếng thì nghe sao viết vậy. Tiếng Việt ta là tiếng đơn âm, một từ, một tiếng là một âm tiết nên ít ai bàn đến âm tiết trong tiếng Việt. Nhiều thứ tiếng của nước ngoài thuộc loại đa âm tiết nghĩa là một từ gồm nhiều âm tiết.

Ví dụ: Lamartine (tên một thi sỹ Pháp)

Đó là một từ nhưng có ba âm tiết:

La + mạt + tin + nờ nhưng “nờ” là tử vận, ta nghe như có “nờ” trong họng mà thôi nên bỏ đi.

Vậy tiếng nước ngoài có lẽ chỉ cần nói:


a/ Từ đa âm tiết thì chữ cái của âm tiết đầu viết hoa, các chữ cái đầu của các âm tiết tiếp theo thì không viết hoa nhưng giữa chúng cần có ngang nối (La-mạt-tin).


b/ Trên phương diện bang giao quấc tế, tiếng Anh và Pháp hiện nay khá thông dụng, các thứ tiếng nói nghe lạ tai nhưng Pháp hay Anh có phiên âm, ta phiên âm theo cách đọc của Anh hay Pháp.

Ví dụ: Genève, một địa danh của Thụy sĩ.

Không biết địa danh nầy Thụy sĩ đọc như thế nào nhưng thời 1954-1960 ở Saigòn đọc là Gjơ-ne-vờ. Nhưng âm “vờ” là tử âm nên nghe là Gjơ-neo thôi.


c/ Vài từ nước ngoài phiên âm sang tiếng Việt

- Genève: sách Lịch Sử Việt Nam 1945-1975 do Trần Thục Nga chủ biên xuất bản năm 1987 ghi: Giơnevơ.

Từ nầy thời 1954 không đọc Giơnevờ. Âm tiết Giơ khi đọc miệng hả ra, nó là âm miệng.

Nhưng “Giơ” thời 1954 thì đọc “gjơ” nó là âm sát miệng + lưỡi + răng hàm trên.

Âm “vơ” là tử âm nên từ nầy đọc “Gjơ-neo” thôi.

Bài báo của Tuệ Nguyễn có ghi: “Đối với SGK lớp 4 và lớp 5, bên cạnh tên riêng được phiên âm có tên nguyên dạng hoặc chuyển tự đặt trong ngoặc kép”. Như vậy là tốt quá. Theo tôi, đó chỉ là sự sửa đổi nho nhỏ mà Bộ Giáo Dục thông báo cho các nhà soạn SGK và hướng dẫn cho giáo viên giảng dạy là đủ.

- Club: tiếng Anh, đọc “klʌb”, người Trung Hoa phiên âm là Cơ-lắp-bô. Từ cách phiên âm của Trung Hoa, xưa nay từ nầy được phiên âm sang tiếng Việt là Câu-lạc-bộ. Nghĩa của từ nầy là Hội hay Nhóm. Có lần lên Bình Dương chơi, tôi nói: “Hội thơ Bình Dương…”. Thi hữu Bình Dương nói trên nầy không cho nói “Hội thơ” mà phải nói “Câu-lạc-bộ thơ…”. Dùng đã quen, ta thêm một từ vậy.

- Tôle: tiếng Pháp, từ điển Pháp Việt của Đào Văn Tập ghi: Tôn, lá sắt (thập niên 1960). Chữ nầy không đọc là “Tôn” nghĩa là miệng hơi tròn, chót lưỡi đặt ở nướu hàm răng trên hạ chót lưỡi xuống phì hơi ra và ngậm miệng lại. Nó khác với cách đọc của tiếng Pháp là môi không tròn, chót lưỡi đặt ở răng hàm trên và hạ chót lưỡi xuống. Tôi cho rằng ta thêm một âm “ÔL” để viết và đọc từ nầy gần với âm người Pháp đọc chăng. Nếu đọc là “Tôn” lợp nhà, tôi cho là không ổn vì bản thân từ “Tôn” có nghĩa riêng là đề cao, tôn kính.

Thời thập niên 1950, dân thôn quê và người bình dân ở Saigòn gọi là “Tuôn”. Mua tuôn về lợp nhà. Người có học ở Saigòn thì không nói “Tuôn” mà nói “Tôl” theo cách đọc của Pháp. Sau 1975, từ “Tôn” chỉ “Tôle” được ghi trên các bảng quảng cáo ở khắp nơi nên từ “Tuôn” đi vào quên lãng. Theo tôi, các nhà ngôn ngữ học cần lưu ý và lên tiếng.

- Rousseau Jean-Jacques: nhà văn, nhà triết học Pháp (viết tên theo Tự điển triết học). Ông Rousseau được người Trung Hoa phiên âm thành “Rút-xô”. Có những âm mà người Trung Hoa không có hay không đọc được ví dụ: “Chèo ghe” thì họ đọc là “Chào ghe” chẳng hạn. Từ “Rút-xô” thì cách nói như thế nào đó rồi ghi thành chữ Hán, các cụ xưa ghi từ chữ Hán nầy sang tiếng Hán Việt là “Lư Thoa”, nó khác một trời một vực. Về sau, từ thập niên 1960, người có học đọc đúng tiếng Pháp là “Rousseau” nên từ Lư Thoa mất dần. Nay không nghe nói Lư Thoa nữa.

- De Castries: người Pháp, tên của vị tướng giữ cứ điểm Điện Biên Phủ bị bắt. Sách Lịch Sử Việt Nam 1945-1975 do Trần Thục Nga chủ biên xuất bản năm 1987, tên vị tướng nầy được phiên âm thành Đờ Caxtơri. Tại sao lại phiên âm lạ như vậy, nó lại do một nhà trí thức ghi. Ta có từ “TRI” là biết, từ “Tre”, từ “Trà”… Tại sao lại phiên âm “Tri” thành “Tơri”? Nếu ta nói: “Tôi ngồi dưới gốc bụi Tơ Re, ngắm ông Tơ Răng, uống nước Tờ Rà nói chuyện tướng De Caxtơri” thì nghe như thế nào?

Sách Lịch Sử Việt Nam tập IV do Lê Mậu Hãn chủ biên, xuất bản năm 2013 thì ghi: “tướng De Castries”. Không thấy phiên âm sang tiếng Việt tên vị tướng nầy. Các nhà viết sử đã sửa. Như vậy, các nhà soạn sách giáo khoa phiên âm sao cho đọc gần giống âm người Pháp đọc thì thôi.

- Phnôm-Pênh: Thủ đô của nước Cambodia, xưa kia có lẽ ta phiên âm thành Nam Vang. Từ Nam Vang theo tôi cũng được vì nó gần giống với Phnôm-Pênh. Nhưng nay, ta có khuynh hướng đọc là Phnôm-Pênh nhưng từ Nam Vang cũng còn tồn tại. Thôi thì tùy nghi muốn dùng từ nào cũng được.

- Vientiane: Thủ đô của nước Lào (viết theo Tự điển Việt Anh Pháp của Trần Hàn Nga) trước đây ta phiên âm thành Vạn Tượng nhưng nay có khuynh hướng đọc là Viêng Chăn (sách Sử lớp 12 xuất bản 1998).


3. Ghi âm tiếng của các dân tộc ít người anh em:


- Kontum (trước 1975). Sau 1975 sách Lịch sử Việt Nam tập 4 ghi Kon Tum. Hiện nay tôi nghe xướng ngôn viên trên đài truyền hình đọc là “con tuum”. Như vậy địa danh nầy người bổn địa đọc gần với âm “Công tum” hơn. Muốn đọc cho đúng âm của người Tây nguyên, có lẽ các nhà ngôn ngữ học lên đó nghe rồi ghi mới đúng. Dân Tây nguyên anh em nằm trong lòng nước Việt, ta yêu cầu họ đọc theo âm Việt cũng được. Nhưng có lẽ ta không nên bắt như vậy.

- Pleiku (trước 1975). Sau 1975 sách Sử tập 4 ghi Plâyku. Nhưng sách trước 1975 ghi là Pleiku và đọc là Plây Kuu. Âm “uu” nầy khi đọc, nâng sau lưỡi lên, chót lưỡi đụng răng dưới, hai môi hơi rụt ra sau, độ chúm ít. Tôi cho là nguyên âm lưỡi răng môi, cơ hả hẹp. Trong khi “u” khi đọc ta nâng dần phía sau lưỡi lên, hai môi nhô tới trước, chúm lại. Tôi không thấy chót lưỡi đụng vô đâu nên cho rằng nó là nguyên âm môi lưng lưỡi, cơ hả hẹp.

Các vùng miền trên đất nước Việt Nam ta, qua các danh từ địa phương, ta thấy rằng âm vị tiếng Việt ta rất phong phú. Ngoài 36 âm vị: a, ă, â, b, c… ta còn có các âm vị khác nữa (âm vị là âm thanh làm thành một ngôn ngữ, nó tách biệt hẳn nhau ví dụ B và M, cùng là âm môi nhưng B khi đọc, luồng hơi qua miệng, M luồng hơi qua miệng và mũi).

- Âm Pl như: Pleiku

- Âm Bl như: Blao là cao nguyên đất đỏ ở Lâm Đồng

- Âm Sr như: sông Srépok

- P và B là tắc âm môi nghĩa là luồng hơi bị môi chận lại trong miệng rồi nhượng bộ đột ngột nghĩa là môi mở cho luồng hơi đi ra thì đọc được.

* P là tắc âm cuối, có cường độ mạnh như “tập” nhưng nó cũng làm tắc âm đầu như Pakha tên một cao nguyên ở biên giới Việt Hoa, Cao nguyên Pouthaca, núi Pou-Nam-Long…

* B là tắc âm đầu có cường độ yếu: Ba, Bằng…

- Âm IA: núi Pia-ya. Lang Biang…

Ngoài ra còn một số âm vị, khi ta phiên âm tiếng Tây phương thì tùy nghi mà viết thí dụ Tôle, có thể viết “Tol” để chỉ tấm lợp nhà bằng thiếc nhưng tôi chưa thấy ai viết.


III. Tổng kết


Dân tộc Việt Nam ta bị Trung Hoa đô hộ khoảng một ngàn năm nhưng dân Việt không bị đồng hóa và nước Việt vẫn trường tồn đến ngày nay. Do đâu mà Việt tộc không bị đồng hóa? Tôi cho là vì tiếng Việt còn. Do đó phải nói rằng tiếng nói gắn liền với vận mạng của dân tộc, của đất nước.

Tiếng nói muốn được trường tồn thì tiếng nói đó phải phong phú, phải diễn đạt trọn vẹn được mọi ý nghĩ, mọi khía cạnh của cuộc sống thì người dân cảm thấy diễn đạt tiếng nói của dân tộc mình tốt hơn dùng tiếng nước ngoài thì tiếng nói được trường tồn và dân tộc đó được trường tồn vậy. Muốn tiếng nói được phong phú, ta cần hội nhập và Việt hóa tiếng nước ngoài cũng như tiếng nói hay của dân tộc anh em trong nước. Hội nhập tiếng nước ngoài và tiếng các dân tộc anh em ít người thì ta tìm cách ghi được tiếng của dân tộc đó nhưng vẫn theo phong cách Việt. Ngày nay khoa ngôn ngữ học được phổ biến rộng thì đọc, nói và viết theo âm của dân tộc khác tôi cho là dễ thôi. Theo tôi, ta cần đưa âm vị mới vào âm vị Việt Nam để ghi cho tốt.

Cho tiếng ngoại hội nhập vô tiếng Việt thì tiếng địa phương của Việt Nam không cần cấm sử dụng nghĩa là các tác giả viết sách không bắt buộc phải dùng từ quấc gia. Đành rằng người ngoại quấc học tiếng Việt thì họ học tiếng quấc gia nên khi nói chuyện hay viết cho người nước ngoài đọc, ta cần dùng từ quấc gia. Nếu nói rằng người nước ngoài cũng đọc sách Việt thì đó là những tác phẩm hay, nổi tiếng. Khi tìm hiểu một tác phẩm hay của nước khác, độc giả cũng cần hiểu rộng về tiếng nước đó mà thẩm âm để cảm nhận. Nếu cần, ta giải thích một số từ địa phương đính kèm.

Trên phương diện quấc gia, một nước cần có vài tờ báo có độc giả đông phải viết bằng tiếng quấc gia thôi. Ngoài ra thì tùy.

Dân miền Nam từ Mỹ Tho trở xuống có từ địa phương “ÊN”. Tôi làm ên nghĩa là tôi làm một mình. Nói như vậy nó rút ngắn được một tiếng. Khi làm thơ tôi viết: “Tôi làm ên”, biên tập viên tập thơ nhiều tác giả tự ý sửa thành “Tôi làm nên”. Dù cũng được nhưng không phải là ý của tác giả. Hoặc trong bài thơ mời họa, tôi viết:

Thì có màng chi chuyện đãi bôi”. Một số thi hữu khi họa thì sửa “BÔI” thành “BỒI” và ghi chú rằng tiếng Việt không có từ “BÔI”, tôi sửa “BỒI” giùm anh.

Dân Nam bộ nói “Tôi bôi bảng” hay “trịch bôi” là quăng chén làm hiệu. Vậy việc sửa từ của tác giả là không nên.


Tóm lại, trong chánh tả Việt ngữ, cấu trúc đã ổn định rồi, ta cứ giữ nguyên. Ta cho du nhập cách viết, phiên âm không phải tiếng Việt một cách tùy nghi. Cách ghi âm tùy nghi tự phát đó, về sau thấy không được - ta bỏ, được - ta dùng. Có lẽ các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu để viết cho đúng và hay hơn thôi.

Trong sáng tác, in sách, không bắt phải dùng từ quấc gia.


Khánh Hội, Quận 4 ngày 04-4-2018



Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa từ SàiGòn ngày 03.6.2018 .

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004