Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
“Thiếu nữ và Chó / Young girl and Dog”
tranh của Võ Công Liêm







NHÀ THƠ CON NGƯỜI TÂM BỊNH

HAY LÀ NGHỆ SĨ THOÁT TỤC





T heo Carl Gustav Jung* ‘người làm ra thơ phát sinh từ kích thích giàu trí tưởng giống như tự do của đòi hỏi chứa đựng một sự gì bí ẩn / creativeness; like the freedom of the will, contains a secret’ dạng đó thuộc về trí, ẩn tàng trong não thức vô hình của não và tim (hồn) là nguồn mạch ra thơ. Cái đó gọi là tiềm thức (subconscious) nơi giữ lại và ghi nhận những gì xẩy ra trong đời và ngoài đời; có nghĩa là ‘tàng cổ viện’, kho chứa của trí nhớ. Những nhà phân tâm học miêu tả trạng huống đó là biểu lộ như một tiến trình trong tư tưởng, nhưng không phải đây là một dung dịch hòa tan hay có thể là lý giải thuộc vấn đề triết học cho một biện chứng thông thường; mà là một cái gì thuộc mộng mơ với ảo giác trong một thế giới siêu hình để rồi tạo ra ngữ ngôn thi ca, thứ ngữ ngôn xa vời thực tế, biểu hiện những gì không có thực để trở nên ‘siêu lý’ là những thứ ngoài giới hạn của con người. Đó là cõi riêng của thi nhân.

Vậy thì nhà thơ là người tạo ra hiện tượng? –Không! người làm thơ không có gì là siêu đẳng để cho đó là hiện tượng mà xưa nay nhìn nhà thơ như một người không bình thường đối với người bình thường, bởi; tư duy của họ mang tính chất mù mờ, lập lửng, hời hợt như người ‘mất trí’và có chút bí ẩn che giấu một phần sự thật: vẻ dáng đa dạng của buồn vui bất chợt, kiểu cách kỳ lạ; đấy là điều mà chúng ta ráng tìm hiểu những dị biệt khác nhau nhưng luôn luôn trong đó có cái gì vô bổ. Sự thật không ngăn được một thứ tâm lý hòa vào đó mà đặc vai trò của người nghệ sĩ trong tính chất của nghệ thuật làm ra thơ.

Sigmund Freud* đã nghĩ ra và tìm thấy cho một câu trả lời chính xác theo phương thức của ông là bắt nguồn ở tác phẩm nghệ thuật có từ kinh nghiệm cá nhân của con người nghệ sĩ. Có thể đó là một sự thật chân chính đặc trong những gì hướng tới nơi trí tưởng để làm nên tác phẩm của nghệ thuật, không ít nhiều có dính tới thần kinh, có thể nguồn cơn tự sự cho những gì ràng buộc vào tâm lý cuộc đời, cái sự đó gọi chung là nhiễu loạn (tinh thần), từ chỗ đó phát sinh ra nguồn thơ; đôi khi nhà thơ thoát tục để tìm về với vũ trụ thi ca, nơi có thể hóa giải cho một tinh thần bất ổn, bình thường hóa một tâm tư đang đối đầu với cuộc đời; có thể phát biểu qua lời thơ ai oán, có thể lời phẩn nộ bởi cuộc đời đang sống; làm dấy động tư duy nhà thơ, đẩy họ vào những trạng huống bất thần đưa tới phản kháng nội tại và ngoại tại. Khám phá lớn lao của Freud cho đó là thần kinh não bộ, gốc ngọn liên lụy vào nhau trong lãnh vực tâm lý – Freud’s great discovery that neuroses have a causal origin in the psychic realm. Và; từ chỗ đó nảy sinh ra một cảm tính dễ xúc động, cảm tính đó là hiện thực hoặc qua kinh nghiệm về hình ảnh của tuổi thơ vốn đã trầm tích trong dạng vô thức của nó và có một số thi nhân sinh ra để làm thơ (born to poetic). Trường hợp tương tợ như Hàn Mặc Từ, Xuân Diệu đã chiếm cứ trong một tương quan gần gũi của nhu cầu đòi hỏi để đạt được kết quả quan trọng như họ mong muốn ‘xuất khẩu thành thơ’. Sự kiện này cũng hiếm có do từ bẩm sinh năng lực tác động để sáng tạo ra ngữ ngôn thi ca. Điều không thể chối cải mà đó là tính khí tâm lý của nhà thơ; thấm thấu, lan tỏa vào giòng thi ca từ gốc tới ngọn cho một ảnh hưởng lớn lao và sự chọn lựa của nhà thơ lấy đó làm chất liệu cho thơ qua sự bày tỏ đa phương, đa dạng. Từ hệ thức thần kinh não bộ đồng loạt phát tiết –Since a neurosis to all appearances; không có gì sai trái và thay thế nhưng cũng có thể là một bối rối khác trước ‘con chữ’ hay ‘bóng chữ’ muốn diễn tả; Thế nhưng; tất cả những gì bực bội gây ra làm khó chịu tâm thần, bởi; nó không đạt được cảm thức mong muốn hoặc khúc chiết lời thơ muốn diễn tả. Chính thi ca là tác phẩm nghệ thuật (work of art) có thể là vấn đề kề cận với tâm lý hoặc bởi não thức trong lúc sắp xếp mặt chữ để thành văn; đấy là căn cơ mà chúng ta có thể phân tích ra được trạng huống của nó nằm trong sự đè nén hay kiềm chế của nhà thơ. Trong cảm thức đó tìm thấy được ở chính nó một ‘người bạn’ tri âm vừa mang lại cái siêu lý của niềm tin, vừa là triết lý; đấy là phân tích sáng ngời và cụ thể của nhà phân tâm học Freud cho một xác định cụ thể tâm lý của những nhà làm thơ. Nói rộng ra; nhà thơ đi từ cái vô thủy vô chung trong một tinh thần thoát tục để nhập vào thi ca như đạt tới đỉnh cao. Phát tiết bộc khởi (spontaneous) thường xẩy ra như một điều tự nhiên, bộc khởi ở đây phát sinh từ trí năng đem lại một thứ ngữ ngôn mới lạ trong thi ca. Nhưng; có thể trong đó nói lên nguyện vọng qua lối diễn trình tha thiết, một sự chuyển động bi thương hay một hạnh phúc riêng tư đều được vẽ lại qua trí tưởng đầy màu sắc gợi nhớ hoặc từ cái nhìn vào tương lai của một ảo giác thuộc trí lực để thành thơ; đấy là sự phơi mở tâm hồn của người làm thơ; đúng như Freud phân tích để đánh giá cho một tác phẩm nghệ thuật ở chính nó. Thành ra; nội thức của nhà thơ là bản năng thiên hướng đã có sớm trong người như một sự gia nhập vô hình đã dính dáng vào nhau, nhân tố thuộc về tâm lý mà tất cả những trạng huống còn giữ lại một cách quan trọng cho tất thảy vượt ra xa hơn bản năng để gia nhập một cách tốt đẹp –These earliest instinctual renunciations already involve a psychological factor which remains important for all futher instinctual renunciations as well. Chưa hẳn thực để xác nhận sự gia nhập vào nội thức của nhà thơ mà đó là trí tuệ con người đặc dưới một sự gì đã trải qua, không cần phát triển qua một thời gian mà nó đã tồn lại, tồn lưu, tồn chứa cho thời kỳ phát tiết có sớm; nếu đem cái sự này ra mà định nghĩa thời tất là phản đề những gì khoa học, kỹ thuật đã tìm thấy. Lý giải cho ra cái nguồn phát sinh thi ca là trạng huống tỏ rõ về tâm thần đã có trước một lúc nào đó –point out one of these mental advances at once. Cái sự đó là căn cơ tồn lưu trong tâm thức nhà thơ. Lý lẽ này là một diễn trình tồn lại phát triển của con người, gọi chung là phát triển sinh lý, cái đó ngoài vòng cương tỏa (external coercion) để trở thành phối hợp hóa, nhất là văn phong thi tứ, ngoại vi đó chính là mạch thơ phát hiện từ não thức làm sống động trong ‘linh hồn’ nhà thơ. Ở thi ca dù diễn tả đến mức độ nào đi nữa có nghĩa là nó có một thứ luân lý đứng sau mỗi câu thơ và một hiện hữu sống thực qua ngôn từ của chữ thơ. Vậy nên chi; ta nhận ra trong thi ca xưa nay người làm thơ mang một tâm tư bức xúc, một khí thế muốn thoát ra khỏi những gì ràng buộc, kiềm chế, bởi; những thứ đó là nhu cầu của nhà thơ muốn thoát tục để không còn bị ‘uất’ thứ uất khí cần có lối thoát mà thoát được thời tất lời thơ cũng thoát tục theo sau. Vì; đây là bệnh lý đặc biệt, cái này nó nằm trong phân tâm sinh lý, một phần của tâm và thức; đó là một sự thúc bách hay ràng buộc hướng tới luân lý, đạo đức của con người (man’s super-ego). Sự cố này hầu như là một tiềm tàng trong di thể chuyển hóa vào lãnh vực của những gì thuộc điạ hạt tâm lý (psychological field) đến với chúng ta. Có nhiều lý do khác đã biến thể tâm hồn và thể xác nhà thơ, đưa người làm thơ sống với nội tâm hơn là sống đời bình thường; chất thơ là một ảo hóa khống chế linh hồn người làm thơ, sanh ra một cá tính riêng biệt; người không làm thơ cho đó là hiện tượng hoặc nhìn nhà thơ như lâm trọng bịnh tâm thần (mental-illness). Cá tính lập dị đã len vào trong tác phẩm nghệ thuật những gì lạ lùng; nhà thơ lập dị là tác động một phần của thi ca cấu thành cho một lối sống thuộc tư duy hơn là trực diện với đời, thế nhưng; không phải là tinh chất, cốt tủy mới nói là nhà thơ. Dữ kiện đó có nhiều thứ cho chúng ta đối diện để đối phó trước tình huống giữa người nghệ sĩ và kẻ làm thơ với những gì là lập dị hay tạo một cái gì đặc trưng; ít nhứt nó phải là vấn đề của nghệ thuật –The less is it a question of art. Thí dụ: thi sĩ Z. đỏm dáng trong cách sống qua cử chỉ và hành tung như muốn nói chức năng của mình là nhà thơ: phải đeo kính cận (kính trong) hoặc có khi nhếch cười với điếu thuốc trên tay tạo tư thế ‘lập dị’ để lôi cuốn sự chú ý; lập dị đó ngoài bản chất có thực mà trở nên ỡm ờ, nửa nạc, nửa mỡ không thực với bản chất tâm hồn thơ. Ngay cả thi sĩ lập dị thứ thiệt kiểu Bùi Giáng (Bui Giang’s style) cũng chưa phải thực sự của bẩm-sinh-thi-ca mà tạo nên cái gọi là ‘coercion’ buộc phải ‘cưỡng bách tòng quân’ nhưng mà có ai cưỡng đâu! Làm thế là để lại một ám thị tự kỉ.

Nhớ cho cái này; lập-dị-bẩm-sinh hay lập-dị-thi-ca là diệp lục tố cho lời thơ xanh mướt với thời gian chớ không phải lập dị để tạo hiện tượng; đó là lập dị nhại theo ‘imitate’. Cái đó có hại cả hai mặt: thanh danh và trí tuệ, làm thế hóa ra ‘kẻ cuồng / mad-man’. Cho nên chi nhà thơ là một người nghệ sĩ sáng tác, dù cho dưới hình thể nào vẫn là nhà thơ chơn chính không pha chế hay ngụy tạo mà mất chất thơ.

Vậy thì ; cái sự gì là thiết yếu trong một tác phẩm nghệ thuật là điều có thể đứng lên trên lãnh điạ của cuộc đời ở mỗi cá nhân và nói lên từ tinh thần và tâm hồn của thi nhân như tinh thần và tâm hồn là của loài người. Khiá cạnh cá thể là một hạn hữu -và dù phạm tội- trong lãnh vực của nghệ thuật. Con người nghệ sĩ là con người như mọi con người mà con người bình thường không làm như người nghệ sĩ làm. Trong khả năng của nhà thơ hay người nghệ sĩ không những là đa-tình-tự-động / auto-erotic mà còn là dục-tính-khác-lạ / hetero-erotic, không những là dục tính trong mọi cảm thức. Bởi; khi nhà thơ hay nghệ sĩ nhập cuộc thời không còn chi là hiện hữu con người –and not a human being. Cái đó là tinh thần thoát tục để về với như nhiên có nghĩa là không ràng buộc, cưỡng bách hay lệ thuộc vào bất cứ trào lưu khác, nó hiện hữu cho một tâm thức tự do.Vũ trụ thi ca không có một thứ chủ nghĩa nào, hoàn cảnh nào của xã hội hay tôn giáo. Thoát tục để được tự do. Giải cái này có tính chất triết lý nhưng nó đem lại cho chúng ta một ấn tượng mới và khác lạ ở bản chất của nhà thơ và nghệ sĩ. Có đôi khi người ta nhầm lẫn vai trò nhà thơ là đối tượng con người nghệ sĩ và con người nghệ sĩ đứng đơn lẻ không hoà nhập cùng một bản thể hiện hữu. Ta gọi ‘tác phẩm của nghệ thuật / work of art’ là cho cả hai trong một nghĩa của nghệ sĩ. Mỗi con người là mỗi sáng tạo cách riêng, là một đối ngẫu của hai bề mặt (duality) hoặc là một tổng hợp mâu thuẩn kỹ xảo đặc biệt. Mặc khác; bề mặt của nhà thơ và nghệ sĩ là hiện hữu với đời đang sống (personal life), nói cách khác họ là một khách thể không ngôi thứ, vô ngã (impersonal) chỉ tiến trình theo sáng tạo mà làm nên tác phẩm của nghệ thuật. Xóa mờ những ám ảnh dị biệt, dị đồng. Nghệ thuật là một thể loại bẩm sinh hướng tới là chụp được hay gọi là chiếm cứ một hiện hữu con người và tạo một phương tiện của nó (thơ) –Art is a kind of innate drive that seizes a human being and makes its instrument. Người nghệ sĩ không phải là người được trời phú cho cái tự do mong muốn mà họ tìm kiếm cái đích đạt tới của riêng mình, bởi ‘thứ người’ đó có một cảm hứng cao độ, một nhà thơ ‘chơi chữ’ như ‘chơi tình’; họ mang vào đó những sắc thái ngữ ngôn, một cái gì vô thức, một tâm thức cuộc đời và làm cho con người tăng thêm giá trị sống của một hiện hữu bình thường không khác gì hơn.

Đời sống của người nghệ sĩ như là phép tắc, tuân thủ đi tới cả nể một cách quá độ, từ đó sanh ra bất mãn -không phải nói là bi kịch- bởi lẻ mặc cảm tự ti của họ là diễn biến vấn đề nơi con người và bên cạnh cá tính riêng tư; và không hẳn, bởi vì nhiễm thể tính có thể miễn trừ vào sự vi phạm –because of their inferiority on the human and personal side, and not; because of a sinister dispensation. Chính những sự cớ đó là lối về trong tiềm năng sáng tạo có thể hút cạn những bốc đồng nơi con người; như thế mức độ đó là tự kỹ cá nhân cần phải phân biệt tất cả thể loại của phẩm chất xấu xa: nhẫn tâm / ruthlessness, tự kỷ / selfishness và phù phiếm / vanity. Gọi chung mấy thứ đó là tư tưởng dâm dục tự động / auto-erotism. Thứ dâm dục này của người nghệ sĩ có một sự tương đồng gần gũi tợ như những đứa con vô thừa nhận hoặc là những đứa con bỏ rơi đã du nhập nhiều trạng huống trong đời đi tới chểnh mãng, ảnh hưởng ít nhiều cho một tư duy trong sáng, bởi; họ chưa một lần được yêu hay đã yêu trong tình thế ‘bất đắc dĩ’sanh lòng đi tìm tình yêu mới; tựu chung duy trì vào đó một tính khí không thể loại ra được mà luôn luôn cho mình là nhất thiên hạ (egocentrism); kiểu thức đó gọi là cá tính riêng tư (personal side) và; từ khởi thủy của ‘chữ yêu’ tư duy dần dà xâm nhập vào thơ; lấy tình yêu như đối tượng thi ca và coi thơ như người bạn tâm đầu để gỡ rối tơ lòng. Hạng nhà thơ như thế đã bị cái ‘erotism’ chiếm cứ ở não thức, một thứ luôn luôn bị khuấy động mất luôn tính nghệ sĩ thi ca, bởi; không thoát tục để thấy mình sống trong thơ.Thơ vô hình chung không siêu thoát; bởi uất khí khống chế làm cho nhà thơ không hóa trị trước một bản thể bị vùi dập. Nguyên nhân đó nằm trong trạng thái thuộc về tâm sinh lý mà ra. Không có chi khác lạ cả; chỉ có nhà thơ biết những gì muốn nói trong tác phẩm là những gì đã phát sinh, lớn dần và chín chắn để thành thơ. Dù chi đi nữa; khả năng sáng tạo là những gì trội hơn, đời người là tuân thủ qui luật và khuôn phép bởi vô thức như một sự chống trả vào tác động mong muốn và từ đó ý thức tự kỉ quét phăng đi dưới lớp bụi mờ tức hiện hữu không còn ở đó; một lãnh hội chả giúp được gì. Tác phẩm nghệ thuật (thi ca) nằm trong diễn biến để nó trở thành là sinh mệnh của nhà thơ và xác quyết một sự mở mang qua tâm lý của nhà thơ –the work in process becomes the poet’s fate and determines his psychic development. Tâm lý của Nguyễn Du tạo ra Kiều. Kiều kết cấu bởi Nguyễn Du. Và; những gì của Kiều có phải là ký hiệu tượng trưng của tác giả? – Không có nghĩa tác phẩm truyên Kiều là chuyện phong thần hay hình tượng (allegory) mà đó là mục đích hướng tới một chủ thể hiện hữu, lời thơ là một hệ lụy gắn vào nhau như hệ lụy gia đình, nhưng; đó là lời bày tỏ bộc bạch qua nhiều tình huống khác nhau trong xã hội và con người, và; hẳn nhiên đó là cuộc đời hết sức sâu xa. Cái sâu thẳm tận cùng của Kiều cho ta thấy được một số thi nhân, văn nhân thường gởi gắm hồn mình vào tác phẩm là vậy. Phiá trời Tây tâm hồn đó đã chiếm cứ ở Nietzsche qua ‘Zarathustra cũng phải thốt như thế đấy / Also sprach Zarathustra’ và Goethe qua ‘Faust’ đều nói lên tâm trạng bi thương của kiếp người. Nguyễn Du, Nietzsche, Goethe cả ba là tiếng vọng dội lại từ vực thẳm của linh hồn -một hình ảnh ban sơ / primordial image- một thứ hình ảnh mẫu mã, đã chất chứa trong hồn họ, là một con người chịu chấp nhận thương đau để cứu chuộc hoặc đã bị chôn vùi hay ngủ mê của hạng người vô thức từ khi ánh sáng bình minh văn chương khai mở. –The archetypal image of the wise man; the saviour or redeemer, lies buried and dormant in man’s unconscious since the dawn of literature. Nói chung; hình ảnh ban sơ thường là số đông nhà thơ vốn giữ như một hoài niệm của sự trở về; nó không phải trong dạng mơ của cá thể hoặc trong tác phẩm nghệ thuật. Mãi cho tới khi nhận ra trong hiện hữu là do từ cái sự khó kiềm tỏa của quan điểm toàn diện; có thể cho đó là tia sáng trong mơ của nhà thơ và thị giác của người nghệ sĩ hoặc cả hai đều là dự phóng (seers) để tư tưởng thoát tục với trần gian; mà trần gian là thế giới vô thực của nhà thơ. Nhưng với con người nghệ sĩ là sống hiện thực và gia nhập vào đời để tác phẩm hiện diện với đời. Cái sự đó là một hoán chuyển tự nhiên của tâm hồn nhà thơ. Đừng vì mơ mà xa rời thực tế để trở thành loạn trí (insane) trong thi ca; có như vậy sự phục hồi tâm lý có tính chất vô tư của thời đại. Nhưng nhớ thêm một điểm này: ý thức cuộc đời là mô tả đặc thù biểu tượng để viết thành văn bằng một thể cách ôm đầm lấy nhau và bởi bộ dáng hay thái độ giả tạo để rồi họ giải hóa; người ta có thể cho đó là bản năng, tự tánh.–when conscious life is characterized by one-sidedness and by a false attitude, then they are activated –one might say ‘instinctively’. Chính sự cớ đó nó lái nhà thơ đi tới một bản năng tự động, thơ mất tính chủ động cho một tâm hồn vượt thoát, không vượt thoát tất nhiên không thể gọi là thoát tục.

Trong mọi đường lối chủ trương thi ca dưới trào lưu hay biểu tượng nào để làm nên tác phẩm của thi nhân là đến từ một cuộc gặp gỡ có tính chất tinh thần cần có của xã hội trong mọi phương hướng cuộc đời mà họ đang sống và đây chính là lý do trong tác phẩm của họ là phương tiện dồi dào đưa đến cho họ hơn định hệ cá thể. Ấy là những gì mà nhà thơ ý thức của những gì hiện ra và không hiện ra. Tác phẩm lớn lao chính là giấc mơ của người nghệ sĩ, dĩ nhiên; đó là hoài vọng của nhà thơ. Cái hướng của nhà thơ là được phổ biến cái không ai có; cái đó là tư chất tự cho là nhất trên đời / egocentrism. Đôi khi nhà thơ quá lạc quan mà nghĩ như vậy chớ nhà thơ không biết cái nhất của mình là một sự ngu xuẩn tư tưởng. Tất cả sự cớ đó là nguyên lý của biểu kiến một sự thật hiển nhiên mà cái đó không giải thích do đâu mà có và là cái sự không bao giờ dứt điểm. Thi ca lấy chất liệu của mơ để làm thơ. Nhưng; không bao giờ nói: ‘anh phải mơ /you ought’ để cho đây là sự thật trong thơ. Cái thứ đó nó hiện diện trong hình ảnh qua nhiều cách thức biểu lộ tự nhiên như cây trồng đâm chồi, nẩy lộc và chúng ta đi tới kết thúc một cách tự nhiên. Còn như mơ hoảng thì có nghĩa là sợ hãi hay nói cách khác nhà thơ cho đó là một thứ mơ ảo ; tất cả dữ kiện đó là một sự phổ biến riêng tư cho một vần điệu để nói lên hiện hữu của con người và coi như là truyền thông những gì mà nhà thơ cảm nhận được để hoà đồng vào từng thể thơ khác nhau.

Bí mật thẩm mỹ là sự khéo léo của sáng tạo và tác động hiệu lực vào nghệ thuật là điều tìm thấy trong việc trở lại tình trạng thiên về bí truyền /participation mystique; đấy là mức độ kinh nghiệm của những gì mà con người đang sống, không những cho cá tính riêng biệt mà là vết lằn ‘trên lưng ngựa hoang’ (weal) hay đây là nỗi thống khổ (woe) của người nghệ sĩ cô độc giữa đời; đấy là điều không những chỉ là mà là một hiện hữu của con người. Thế mà tại sao bất cứ tác phẩm lớn đều có tính khách quan và hờ hững, và; đây cũng là điều tại sao cuộc đời cá nhân của nhà thơ không thể đưa vào đó một tinh thể cốt yếu đến với nghệ thuật của họ, nhưng; hầu như có một sự yểm trợ vô hình hoặc một sự êm xuôi mát mái trong cái việc tạo dựng để thành thơ. Người làm thơ xa lià thế tục có nghĩa rằng con người đó chả thiết gì tới nghệ thuật (âm nhạc, hội họa hay văn chương), một con người không văn hoá, văn nghệ, văn gừng/ Philistine, và; cũng chả mong chi làm người tốt, và chả màng chi giữa đời này. Sự nghiệp của nhà thơ có thể là điều không tránh né được, chắc chắn sẽ xẩy ra hoặc sẽ là thích thú khác.Nhưng khó mà giải thích cái ẩn tàng trong hồn người làm thơ. Mà chỉ là nghệ sĩ thoát tục để về với sự thật trong thi ca ./.


(ca.ab.yyc. cuối 4/2017)


SÁCH ĐỌC: ‘The Future of an Illusion’ by Sigmund Freud. Trans: James Strachey. W.W. Norton Company. New York. London 1961

*Carl Gustav Jung. Người Thụy Sĩ (1875-1961) *Sigmund Freud. Người gốc Do Thái (1856-1939). Cả hai là bác sĩ y khoa phân tâm học.

ĐỌC THÊM: -‘Sigmund Freud Với Phân Tâm Học (2012) -‘Freud và Jung Phân tâm học’(2013) -‘Phê bình về Phân tâm học và Nghệ thuật (2014) -‘Cảm nhận Nghệ thuật giữa Cuộc đời’ (2014) -‘Trạng huống Tâm thần của Nghệ nhân’ (2015) -‘Phương pháp thuộc về Phân tích trong Văn chương’ (2016). Những tác phẩm trên của võcôngliêm hiện có ở một số báo mạng và giấy hoặc email theo điạ chỉ đã ghi.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 28.5.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004