Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Người Về Với Giậu Mùng Tơi





Ô ng là Nguyễn Trọng Bính, tức nhà thơ Nguyễn Bính, sinh năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Thiện Vịnh xã Cộng Hoà huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định. “Đa đoan vó ngựa chung tình bánh xe”. Cái đa đoan của thân ngựa hình như nó sẽ theo ông cho đén tận cùng…

   Cha ông là cụ đồ Nguyễn Đạo Bình thường dạy các con:


Nhà ta coi chữ hơn vàng

Coi tài hơn cả giàu sang ở đời”


   Nguyễn Bính mồ côi mẹ từ lúc chưa đầy một tuổi (lúc ấy Trúc Đường 6 tuổi, Thụ 3 tuổi), cảnh nhà neo đơn, bố lấy vợ hai, ba anh em phải nương tựa vào bên mgoại. Cụ Bùi Trình Khiêm (bố của nhà văn Bùi Hạnh Cẩn là anh của mẹ) nuôi dạy. Nguyễn Bính biết làm thơ từ bé, từ khi nhận được mặt chữ. Năm 1931 ở làng Thiện Vinh huyện Vụ Bản người ta đồn ầm lên có một thần đồng, đó là một cậu bé 13 tuổi được giải nhất trong cuộc thi hát trống quân đầu xuân ở hội làng, người giải nhì lại là một cụ già 70 tuổi đầu tóc bạc phơ tên là Nguyễn Thị Chanh. Thơ hát đối của bên nam mà khi đó Nguyễn Bính hát, người già hiện nay các cụ còn nhớ được mấy câu:


Anh đố em này:

Làng ta chưa vợ mấy người?

Chưa chồng mấy ả, em thời biết không?

Đố ai đi khắp tây đông

Làm sao kiếm nổi tấm chồng như chúng anh đây…”


   Nguyễn Bính là người đi nhiều, viết nhiều, có lúc giang hồ (nghĩa là không có tiền cũng đi) cùng bè bạn đi khắp xứ Đông, tỉnh Bắc.

   Ông là nhà thơ nghèo, quá nghèo. Kể cả những năm cuối đời: “Khổ muốn kêu trời trời chẳng thấu”. Không có tiền đi tàu ngồi toa đen như những kiện hàng. Có lúc khêu ốc ăn trừ bữa, lúc nằm lì nhà bạn, không có tiền đi, chẳng có tiền về, đi như hành khất, bẩn thỉu bệnh hoạn nhưng vẫn ngất nghểu lang thang, nghêu ngao đọc thơ: thơ tiên, thơ trăng, thơ sầu mộng, thơ điên, thơ em gái... “Thật tên là thơ xin ăn, vì thèm, vì đói đủ kiểu” (Tô Hoài). Đi đâu ông cũng làm được thơ. Ông thổ lộ: Thơ phải mang tính cách chân thật, càng chân thật càng tốt…


Nhà nàng ở cạnh nhà tôi

Cách nhau cái giậu mùng tơi xanh rờn.”


   “Đúng là có giậu mùng tơi y như vậy, có cô hàng xóm y như thế. Cô hàng xóm ấy ngày ngày mang tơ vàng ra hong ngoài mái hiên, cô không bao giờ cười, mắt lúc nào cũng buồn đăm đắm. Từ ngoại cảnh ấy, tôi xúc cảm ra sao, tôi suy luận thế nào cứ thế mà điểm xuyết vào, miễn sao cho nhuyễn. Toàn bộ thơ tôi từ trước tới nay và từ nay về sau luôn trung thực với lòng mình thấy gì viết thế, nghĩ sao nói vậy.” (Nguyễn Bính). “Thơ ông là tiếng lòng phát ra từ trái tim mình nhất thiết phải tới trái tim người khác. Nếu trái tim người khác hờ hững thì dù cho là tiếng lòng của mình đi chăng nữa cũng không phải là thơ.” (Hoàng Tấn). Với Nguyễn Bính thì hình như trời bắt ông làm thơ thật “Mẹ hiền mất sớm Giời đày làm thơ” cho nên thơ ông được người đời hào hứng say mê đón nhận, dù cho ở bất cứ thể loại nào.

   Nhưng nói đến thơ Nguyễn Bính thì phải nói đến thơ tình. Nhà thơ Nguyễn Bính tích được đến mấy hộp thơ tình mà cắp đi từ Bắc vào Nam. Tô Hoài thì cho rằng: “Dẫu những bức thư tình kia là những bằng chứng về lời thề sông cạn núi mòn, có lúc dọa cắt tóc đi tu và uống thuốc phiện dấm thanh cho đến chết nhưng rồi cũng không người con gái nào yêu thơ rồi say mê nhà thơ đến đi theo không, còn nhà thơ thì chẳng làm sao lo được tiền cưới” dù cho nhà thơ Nguyễn Bính và cô gái nọ chỉ “Cách nhau cái giậu mùng tơi xanh rờn.”

   Giá đừng có giậu mùng tơi, giá như không nghèo đến rớt cục mùng tơi, mùng tơi càng xanh thì càng nghèo, giá như không ở cái thời mà những thói tục phiền nhiễu và đồng tiền to hơn nghìn vạn lần tình cảm con người thì cái nghèo đã không làm cho: “Hai người sống giữa cô đơn/ Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi”. Mọi phũ phàng u ám không phủ lên những mối tình xếp hộp gối đầu của nhà thơ thì: “Thể nào tôi cũng sang chơi thăm nàng”.


 

   Sau ngày Nguyễn Bính mất, người anh ruột , Trúc Đường, nói rằng: “Bính như người khát nước mùa hè, yêu nhiều, thất bại không ít, có lúc thất tình nhưng chỉ trong thơ thôi. Vì người trong mộng, trong thơ, đến người ngoài đời là một khoảng cách khó khăn. Do đó thơ tình Nguyễn Bính có đôi bài đượm chua chát đắng cay và nuối tiếc:


Tiếc làm chi giấc chiêm bao một mình”


   Khi vào Nam, Nguyễn Bính đã được Nguyễn Oanh (người cùng quê, là bí thư thành uỷ Sài Gòn, hoạt động bí mật hồi đó), thẳng thắn khuyên nên chuyển ngòi bút đi là vừa, vì những vần thơ lãng mạn, uỷ mị không thể ngăn cản gót giày của bọn xâm lược. Ông vua tự ái và ít phục thiện Nguyễn Bính đã được Nguyễn Oanh rèn cặp giác ngộ. Nguyễn Bính không thể đi con đường nào khác ngoài con đường cách mạng. Quả nhiên những vần thơ: “Những ai xứng đáng làm người/ Hãy hi sinh hết cho nòi giống ta/ Hãy nên vì nước, vì nhà/ Coi thường thân sống mới là trượng phu…” đã bay về tận chiến khu miền Đông và ông đã tham gia kháng chiến ở Rạch Giá, Đồng Tháp và làm việc trong ban văn nghệ khu 8. Và nhiều tập thơ của ông cũng đã được ra đời trong thời gian này.

   Những bài thơ xuất thần ông viết đã được truyền đi rất nhanh cùng với điệu nhạc hào hùng (tiểu đoàn 307) làm cho tên tuổi ông đọng lại mãi trên giải đất miền Nam. Ông còn là nhà thơ chân quê, tình quê, hồn quê. Hàng trăm bài thơ của ông đã viết nói lên nỗi nhớ quê nhà. Ông nhớ cái chân quê: “van em hãy giữ nguyên quê mùa”. Nhớ đến hội làng khi phải chia tay người bạn gái:


Hội làng còn một đêm nay

Gặp em còn một lần này nữa thôi”


   Nhớ hàng cau, giàn trầu, nhớ thuyền, nhớ bến, nhớ sông, nhớ người trồng dâu tốt lá, chăn tằm, ươm tơ. Đặc biệt khi ông ở trong Nam nghĩ về thôn vân nơi ôm ấp tuổi thơ mình:


Thôn Vân có biếc có hồng

Hồng trong nắng sớm, biếc trong vườn chiều

Đê cao có đất thả diều,

Giời cao lắm lắm có nhiều chim bay

Quả lành nặng trĩu từng cây

Sen đầy ao cá, cá đầy ao sen.”


   Kể sao cho xiết nỗi nhớ quê nhà, ông kêu lên hỏi bốn phương trời phải làm sao cho đỡ nhớ!                           

Ơi thôn Vân hỡi thôn Vân

Phương nào kết giải mây Tần cho ta.

Từ nay khi nhớ quê nhà

Thấy mây Tần biết đó là thôn Vân.”


   Tập kết ra Bắc thì ông lại nhớ về Nam, nơi có vợ, hai con gái và đồng bào miền Nam ruột thịt:


Thư một bức ngàn lời tâm huyết

Đêm canh dài thức viết cho em

Bồi hồi máu ứ trong tim

Chảy theo ngọn bút hiện lên thơ này.”


   Cái nhớ, cái yêu, cái tình, riêng, chung quyện lại làm một, nó bùng lên thành tình yêu quê hương đất nước. Ông chuyển giọng kêu gọi:


Lòng son còn vá chưa lành

Áo cơm thiên hạ chưa đành ấm no.

Mẹ già thì nhớ con thơ

Tình mong nhớ chị, em chờ đợi anh

Lấy đâu Vạn Lý Trường Thành

Cho quân thù khỏi tranh giành đất ta.

Anh còn trẻ tôi chưa già

Phải làm chi chứ để mà… hỡi anh.”


   Ông được chuyển về Ty văn hóa Nam Hà 2 năm thì mất. Có người bảo ông mất tại vườn nhà bạn. Có người bảo xưa Lý Bạch say rượu vồ trăng, chết chìm trên dòng sông lớn. Nay, thi nhân Nguyễn Bính, cũng say, chết bên vũng nước ao bèo, âu cũng là cái chết. Nhưng chuyện nhà thơ chết một lần, chôn bốn lần thì có thật. Lần đầu người ta mai táng ông ở nghĩa trang thành phố, sau cải táng đưa về nghĩa trang Tam Điệp. Khi người ta nhận thức được rằng ông là nhà thơ lớn thì mộ lại được chuyển về quê để cạnh mộ ông nội nằm ở rìa làng. Mãi đến năm Canh Ngọ (1990) mộ ông mới được chuyển về mảnh đất chôn nhau cắt rốn như ngày nay. Thật cái tuổi Mậu Ngọ (năm ông sinh), sống rong ruổi giang hồ đến năm Bính Ngọ (bính biến vi tù) thì mất. Năm Canh Ngọ (canh biến vi cố) mới được về tại đất xưa nhà cũ, nơi xưa kia có giậu mùng tơi để yên thân một mình. Đúng là: “Đa đoan vó ngựa chung tình bánh xe”, một câu thơ trong bài “Tình tôi” đã vận vào ông.

   Bây giờ quê ông vẫn còn giậu mùng tơi nhưng đã đổi mới giầu lên nhiều, quê hương tự hào về ông, một nhà thơ lớn của thi nhân Việt Nam thế kỷ XX.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ NamĐịnh ngày 20.5.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004