Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới








KINH CÓ PHẢI ĐỂ TỤNG ?




M ột trong những công phu của các tu sĩ ở Chùa là ngày mấy thời tụng Kinh mà ta thường nghe nói “Kinh nhật tụng” để nói về bộ Kinh quan trọng nào đó mà các vị dùng để tụng mỗi ngày. Các tu sĩ có giọng tốt thường tụng Kinh rồi thu băng để các Phật Tử thỉnh về nghe, và có người còn nói là “nghe Kinh sẽ nhẹ nghiệp”. Phải công nhận là các tu sĩ có giọng hay, hơi dài, tụng Kinh mà lên bổng xuống trầm, có tiếng mõ phụ họa nghe như hát, nên các Thầy có giọng tụng hay cũng được Phật Tử mến mộ không khác gì ca sĩ. Kinh có phải để tụng? Tụng Kinh có lợi ích gì không?

Nói về Kinh thì chúng ta có khởi đầu như sau: Sau khi Phật nhập diệt, sợ rằng mọi người sẽ quên lời Phật dạy, ngài Ca Diếp đã quy tụ tất cả những Đệ Tử Phật lại, yêu cầu họ kể lại những gì chính tai họ đã nghe Phật đã thuyết lúc sinh thời để tất cả cùng ghi nhận, lấy đó làm căn bản tu học, gọi là Kết Tập. Ngài Ca Diếp là người được Phật Truyền Y Bát, thay thế cho Phật để cầm nắm Tăng Đoàn, làm chủ trì. Ngài A Nan là người “thuộc lời Phật giảng như nước trong bình đổ ra, không thiếu một giọt” xác nhận. Ngài Ưu Ba Ly được mệnh danh là “Đệ Nhất trì Giới” thì thuyết Giới. Lúc đó gom lại tất cả chỉ có 4 Bộ Kinh. Đó cũng là lý do mà phía bên Phật Giáo Nguyên Thủy không chấp nhận Kinh Đại Thừa, cho đó là do các Tổ về sau giảng là ngụy tạo, không phải lời của Phật thuyết, vì họ đinh ninh việc Truyền Y Bát đơn giản là Đức Thích Ca giao lại cái Y và chiếc Bát Ngài vẫn sử dụng, không có giá trị nào khác!

Họ hoàn toàn không biết rằng việc Truyền Y Bát cũng giống như Lễ Tốt Nghiệp, trao Bằng Cấp của người đời, chứng tỏ người nhận Bằng Cấp đó có đủ trình độ do các bậc Thầy đánh giá. Thời Đức Thích Ca thì giấy chưa có, chữ viết cũng chưa. Chỉ có cái Y và cái Bát là hai thứ mà Đức Phật lúc nào cũng mang theo bên người. Thấy hai món đó là thấy Phật, nên Ngài truyền lại cho Tổ Ca Diếp để các Đệ Tử khác biết rằng đây là người mà Phật tín nhiệm để giao toàn quyền cai quản Tăng Chúng cũng như truyền bá Giáo Pháp của Ngài. Sở dĩ Đức Thích Ca truyền cho Ngài Ca Diếp là vì thời điểm đó, trong nhóm Đệ Tử chỉ có Ngài Ca Diếp là nắm vững về Giáo Pháp cũng như Hạnh không tỳ vết. Ngài A Nan lúc đó dù thuộc giáo pháp của Phật như “nước trong bình đổ ra không thiếu một giọt”, nhưng Hạnh của Ngài còn khiếm khuyết, nên Phật không truyền cho, mà dặn Đức Ca Diếp sau đó khi A Nan đầy đủ Đạo, Hạnh mới truyền lại.

Tại sao nhất định phải có việc Truyền Y Bát? Điều đó cũng dễ hiểu. Cũng như việc học hành ngoài đời. Không phải ai đến lớp nghe giảng bài đều hiểu, đều thuộc. Không phải tất cả học sinh đều tốt nghiệp! Trong Đạo Phật cũng thế. Không phải ai nghe Pháp cũng hiểu, cũng Hành theo. Không phải ai đi tu cũng đắc Đạo. Vì thế, Đạo Phật hoàn toàn có lý khi bắt buộc chỉ người Chứng Đắc mới được phép giảng Pháp, vì người giảng Đạo Phật không đơn giản chỉ cần học thuộc bài, rồi giảng, mà vị đó phải có đầy đủ cả LÝ và HẠNH. Bởi cái Lý mới nói lên là người có nó chỉ thuộc hay ghi nhớ những gì được nghe. Nhưng chính sự áp dụng cái Lý, gọi là HẠNH mới thật sự chứng minh người đó hoàn toàn chấp nhận lý thuyết của Đạo và được hưởng lợi ích của cái Lý. Điều đó được Lục Tổ Huệ Năng ví: Người thuộc Lý như người NÓI ĂN, nên không NO và người thực hành gọi là có HẠNH, là người thật sự ĂN, thật sự NO, có thể mô tả cảm giác khi Ăn cũng như lúc No, cũng như cơ thể được bồi bổ nhờ cái Ăn đó.

Người được Truyền Y Bát là người đã Chứng Đắc, có thể thay người đi trước để cầm nắm vận mạng của Đạo, chắc chắn là sẽ hướng dẫn người sau đi đúng đường lối Đạo, nên thời nào Đạo Phật cũng rất cần có người như thế. Vì thế, khi Truyền cho Ngài Ca Diếp. Đức Thích Ca có dặn dò là “việc này nên được tiếp tục để Phật Pháp được mãi trường tồn”. Về sau, Tổ Ca Diếp truyền lại cho Ngài A Nan theo lời Phật dặn, và Ngài A Nan tiếp tục truyền xuống cho đến Tổ thứ 33 là Lục Tổ Huệ Năng mới kết thúc. Sở dĩ không tiếp tục nữa là vì thời đó người tu Phật nào cũng hiểu giá trị của Y, Bát. Biết rằng người có nó là đại diện cho Phật, được mọi người tin tưởng, vì thế, những kẻ không thật tâm tu hành, mà có mưu cầu trong Đạo đã tranh chấp một cách quyết liệt để chiếm đoạt. Người giữ Y Bát bị truy sát đến có thể mất mạng. Bản thân Lục Tổ cũng mấy lần suýt chết. Lần thì bị đốt Chùa, trốn trong núi thì họ đốt luôn núi, Ngài phải trốn trong kẹt đá mới thoát chết. Lần khác thì bị chém đến 3 dao mà không đứt cổ. Tên thích khách - cũng là một Thầy Tăng - mới buông dao sám hối! Lục Tổ nói rằng ngài chỉ nợ hắn vàng, chớ không nợ mạng, nên lấy vàng đưa cho hắn ta và bảo đi đi, sau quay lại Tổ sẽ nhận làm đệ tử. Thời gian khá lâu sau hắn ta trở lại xin tu học với Lục Tổ!

Người tu Phật được dạy giữ gìn Thân, Khẩu, Ý tịnh Ba Nghiệp. Ngay ý nghĩ, hay lời nói xúc phạm người khác còn không dám làm. Vậy mà đã tu hành, làm Tăng, mà dám mang dao đi chém người để giành Y, Bát thì ta biết đạo hạnh của những người đó ra sao rồi! Nếu chẳng may mà phe đó cướp được Y, Bát, thì Đạo Phật sau đó sẽ về đâu? Nhìn hành vi họ để thấy rằng những gì Đức Phật dự liệu quả không sai!

Lý do vì sao Kinh của các Tổ giảng cũng được xem như của Phật là vì ai cũng biết Đức Thích Ca không phải là người duy nhất thành Phật, mà Ngài cho rằng: “Ta là Phật đã thành. Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành”. Quá khứ Đức Thích Ca và Chư Tổ đã Chứng Đắc, Thành Phật. Hiện tại cũng có người Chứng Đắc, thành Phật, và tương lai cũng sẽ có. Đó là nghĩa của TAM THẾ PHẬT, và khi đã Chứng Đắc, Thành Phật rồi, thì trình độ ngang nhau, vì “Phật trước Phật sau đều bình đẳng”. Thành Phật chỉ là “thành tựu công việc Giải Thoát cho bản thân hết Khổ”, không phải như nhiều người đã hiểu sai là Thành một vị Thần Linh, có quyền phép, có thể cứu độ “Tam thiên Đại thiên Thế Giới”, nên nghĩ rằng phải có điều kiện nọ kia thì mới tu hành thành công được!

Do Thành Phật không phải là thành một Vị Thần Linh, mà là hoàn thành công việc Tự Độ cho bản thân hết Khổ qua một quá trình Quán, Soi, tu học, rèn, giũa... Vì thế, người Chứng Đắc sau hoàn toàn có quyền giảng, hay viết lại những hiểu biết, những cách thức mà mình đã hành trì và chứng nghiệm theo ngôn ngữ đương thời cho mọi người dễ tiếp thu, dễ hiểu. Và cũng nhờ các vị Tổ lần lượt khai sáng nên đến thời của chúng ta con đường tu hành được chỉ dẫn rạch ròi trong Kinh, không còn là ẩn dụ khó hiểu như thời Đức Thích Ca giảng dạy, do lúc đó ngôn ngữ chưa đủ phong phú để diễn tả, khó thể nói được phần Vô Tướng, nên phải mượn hình ảnh Có Tướng, vì vậy mà dễ sinh hiểu lầm. Thí dụ thay vì nói Cõi Phật ở trong Tâm, thì Ngài phải nói là ở Hư Không, hoặc tả cảnh ở Phương Đông, Phương Tây. Nói là nước đó cách thế giới này đến 18 ngàn dặm, làm nhiều người tưởng đó là con số thật, mà không suy nghĩ: Thời đó ai bay vào không gian được? Dùng thước nào đo để biết chính xác khoảng cách là 18 ngàn dặm?

Đạo Phật dạy người tu phải: “Nội quang phản chiếu”, tất cả những gì Phật dùng phương tiện đều để nói về Thân, Tâm của người tu. Bởi vì tu hành chỉ là để Sửa những nơi đó. Phiền não, Khổ đau, Niết Bàn, Phật Quốc cũng ở nơi đó. Do đó, Lục Tổ giải thích: 10 ngàn dặm là Thập Ác. Tám ngàn dặm là Bát Tà. Bỏ Thập Ác mà hành Thập Thiện thì sẽ vượt qua 10 ngàn dặm, và bỏ Bát Tà, hành Bát Chánh Đạo là vượt qua 8 ngàn dặm nữa. Thời đó làm sao diễn tả tư tưởng con người, nên không thể gọi Chúng Sinh là Tư Tưởng xấu, ác của mỗi người, chỉ nói rằng đó là những phần tử chưa hướng Thiện, cần giáo hóa, vì việc tu hành theo Đạo Phật thì mỗi người chỉ quay vô để Độ cho chính mình, gọi là TỰ ĐỘ.

Từ khi Y Bát không còn truyền, chúng ta không thể nào phân biệt trong số những người giảng Pháp hiện đời ai là người giảng đúng Chánh Pháp, vì cũng mặc pháp phục, cũng tu ở trong Chùa, cũng mang lời Phật ra thuyết giảng như nhau. Vì vậy, Chính Kinh rất cần thiết cho người muốn tu hành theo Đạo Phật, vì đó là lời của những vị Giác Ngộ giảng. Chúng ta có thể hoàn toàn tin tưởng mà không sợ bị nhầm lẫn, bởi Chư Vị giác ngộ không bao giờ vì mưu cầu danh, lợi mà thuyết giảng, các Ngài chỉ thực hiện sứ mạng “mồi ngọn đuốc pháp” để Đạo Phật được trường tồn vì lợi ích cho mọi người mà thôi. Và để làm được điều đó, các Ngài phải vừa có Đạo, vừa có Hạnh, “Tự Chánh” rồi mới “Chánh Tha”.

Có đọc Chính Kinh chúng ta sẽ thấy, dù được viết từ cách đây hàng ngàn năm, nhưng đa phần đều có trình tự rất rõ ràng, trình bày mạch lạc. Phần mở đầu của Quyển Kinh thường là một cuộc vân tập, có Phật, Chư Bồ Tát, Sa Di, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, Cận sự Nam, Cận sự Nữ cho đến rồng, thần, Càn Thát Bà v.v… Rồi thì một số câu hỏi được một Bồ Tát nào đó đại diện thính chúng đặt ra xin Phật giải thích những chỗ chúng hội chưa hiểu rõ. Qua đó, người đọc Kinh cũng có thể nương theo để mở mang sự hiểu biết cho bản thân. Mỗi Bộ Kinh giải thích về một hay nhiều khía cạnh, cách thức tu hành, mà người chịu khó đọc rồi tìm hiểu và thực hành theo sẽ thấy lợi lạc rất nhiều. Tất nhiên không phải chỉ đọc suông, hay đọc qua một lần rồi kính cẩn đặt trên bàn thờ, hoặc ê a tụng theo chuông mõ, mà cần thực hiện theo một chuỗi công việc được dặn dò chi tiết trong đó.

Kinh là sách để nghiên cứu, thực hành, không giống như tiểu thuyết hay truyện của đời, chỉ cần mở ra đọc là đã hiểu ngay, mà đòi hỏi người đọc phải suy nghĩ, nghiền ngẫm, vì trong đó gói ghém những công việc cần phải thực hành mới có thể hiểu. Đọc Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ta thấy cả một chuỗi công việc phải làm với quyển Kinh. Đó là:“Thọ, trì, đọc, tụng, giải nói biên chép, y pháp tu hành”. Có nghĩa là người có quyển Kinh sẽ đọc tới đọc lui, biên chép giải nghĩa cho rõ, rồi mới y theo đó mà thực hành.

Thế nhưng, trên thực tế thì ta thấy hầu hết người tu đã không làm hết quy trình này, chỉ dừng ở phần đầu là đọc tụng, hoặc biên chép Kinh, rồi cứ thế mang ra giảng rộng ra mà thôi. Có người còn không đọc hết quyển Kinh, mà chỉ chọn Phẩm nào đó liên quan đến điều mình đang ngưỡng mộ để giảng rộng ra cho mọi người. Thí dụ như Kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì chỉ đọc PHẨM PHỔ MÔN, tức là phẩm nói về sự cứu độ của Ngài Quán Thế Âm tầm thinh cứu nạn. Theo Kinh viết thì “Chỉ cần niệm danh hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát thì quỷ dữ cũng không hại được, bị gông, cùm, xích mà xưng danh hiệu Ngài thì thảy đều đứt, rã. Cầu sinh con trai, con gái đều được như ý. Quán Thế Âm Bồ Tát cũng ban sự vô úy cho thế gian…”.

Người nắm vững căn bản của Đạo Phật thì biết Đạo Phật dạy phải Tự Độ thì hẳn không khỏi thắc mắc: Tại sao không phải là Đức Thích Ca cứu độ mọi người, mà lại có một Ngài Quán Thế Âm vừa cứu độ cho mọi người, vừa ban cho mọi người những điều như mong muốn? Ngài ở đâu ra? Tu hạnh gì mà có uy lực lớn như thế? Nếu Ngài làm được những việc như vậy cho mọi người thì rõ ràng là Độ Tha, mâu thuẫn với Đạo Phật vốn là Đạo Tự Độ, Đạo Nhân Quả? Vậy thì nên hiểu Quán Thế Âm như thế nào mới đúng? Đạo Phật dặn dò phải VĂN-TƯ-TU, nếu ta Nghe giảng pháp, hay đọc Kinh mà không tư duy, cứ dựa vào từ ngữ mà hiểu, mà hành thì sẽ đưa đến Thần Quyền, Nhị Thừa, không còn là Đạo Phật chân chính nữa.

Về người chọn một Phẩm trong Kinh để đọc, ta thấy như sau: Giống như người cần đổ khuôn hay chạm khắc theo một hình tượng hay mẫu vật dụng nào đó. Mẫu đó gồm nhiều bộ phận ráp lại. Nếu ta chỉ lấy một bộ phận, rồi chăm chút làm bộ phận đó thật là hoàn hảo, mà không quan tâm đến những bộ phận khác thì làm sao làm ra được vật dụng đó? Muốn làm Phật hay gọi là Tạc một Tượng Phật, thì phải có đầy đủ các món: Giới, Định, Huệ, Bát Chánh Đạo, Từ, Bi, Hỉ, Xả, mà chúng ta chỉ thực hiện đầy đủ mỗi HÌNH TƯỚNG thì sao thành công? Bởi nó chỉ giống cái khuôn rỗng mà thôi!

Về cách đọc Kinh, thì Kinh dạy: “Thọ, trì, đọc, tụng, giải, nói biên chép, y pháp tu hành”, mà ta chỉ làm có mỗi việc TỤNG thì Chư Tổ còn dặn giải nói biên chép, y pháp tu hành làm chi?! Và nếu Kinh có thể hiểu một cách dễ dàng thì Đạo Phật đã không dặn dò “Y NGHĨA BẤT Y NGỮ”! Không chỉ phải hiểu Nghĩa, mà còn không được rời Kinh dù là một chữ thôi, vì: “Ly Kinh nhất tự đồng ma thuyết”, có nghĩa là nếu rời Kinh dù là một chữ, thì đồng với lời của ma, không còn là lời Phật dạy nữa. Không thể Y KINH, mà cũng không được LY KINH! Đó là điều mà người đọc Kinh cần phải lưu ý, nếu không muốn sự diễn giải của mình làm OAN CHO BA ĐỜI PHẬT!

Xin được tạm trích phần đầu trong Kinh Lăng Nghiêm để chúng ta có một khái niệm về Kinh Phật như sau:

Kinh viết, “Một lần nọ nhằm ngày Rằm tháng Bảy, là ngày mãn hạ, Chư tăng cùng nhau Tự Tứ để rửa sạch những hành vi lỗi lầm, những tư tưởng không tốt, cho giới thể được thanh tịnh.

Ngày đó các Phật Tử, cư sĩ đều đua nhau thỉnh chư Tăng đến để cúng dường, cầu phúc. Vua Ba Tư Nặc cũng thết tiệc, rước Phật và chư Tăng đến để cúng dường. Các Tăng chia nhau đến đến từng nhà thọ cúng. Ngài A Nan về không kịp nên đi riêng, bưng bát vào thành khất thực một mình. Không may ông gặp ngoại đạo là Ma Đăng Già dùng phép thuật dụ dỗ.

A Nan bị nạn, buồn rầu, niệm Phật cầu cứu. Phật nói Chú Lăng Nghiêm để trừ tà, cứu A Nan thoát nạn.

Về đến chỗ Phật, ông buồn tủi, khóc than, bạch Phật là từ trước đến giờ chỉ học rộng, nghe nhiều, không tu niệm, vì ỷ là em Phật, được Phật thương, chắc chắn sẽ được Phật ban cho thần thông, trí tuệ hay Đạo Quả Bồ Đề. Không ngờ ai tu nấy đắc, dù làm em Phật, nhưng nếu không tu thì cũng đọa như ai. Ngài xin Phật từ bi chỉ cho phương pháp mà Mười Phương các Đức Phật tu hành đều được thành đạo, chứng quả.

Phật hỏi A Nan: Ông đối trong giáo pháp của ta, do ngưỡng mộ cái gì mà Phát tâm Xuất Gia?

A Nan thưa: Vì con thấy Phật có 32 tướng tốt đẹp lạ thường, nên sinh lòng hâm mộ mà phát tâm xuất gia.

Phật hỏi: Ông lấy cái gì xem thấy và cái gì hâm mộ?

A Nan thưa: Con lấy con mắt xem và lấy cái Tâm hâm mộ.

Phật hỏi: Ông nói lấy con mắt xem và cái tâm hâm mộ, vậy ông có biết cái Tâm và con Mắt ở chỗ nào không?

Ông từ nào đến giờ, nhiều kiếp sanh tử, luân hồi cũng vì Tâm và Mắt. Nếu ông không biết nó ở chỗ nào thì không bao giờ hàng phục được phiền não trần lao. Cũng như vị Quốc Vương bị giặc đến xâm lăng đem binh dẹp trừ. Nếu không biết giặc trú ngụ phương nào thì không bao giờ dẹp được”.

Lý lẽ không thể chối cãi vào đâu: Vua bị giặc xâm lăng, mang binh đi dẹp mà không biết giặc trú ngụ ở đâu thì làm sao dẹp được? Đối chiếu với công việc tu hành, ta thấy: Tu Phật mà không biết làm thế nào mới gọi là Tu? Tu thế nào mới đúng Chánh Pháp? Không biết những việc mình đang hành trì có đúng với những điều ngày xưa Đức Thích Ca dạy cho các Đệ Tử hay không, thì làm sao tu? “Tu Phật là Tu Tâm” mà không biết Tâm là gì? Ở đâu thì Tu cách nào?

Lý do để giảng Kinh Lăng Nghiêm được đưa ra một cách hết sức thuyết phục: Lẽ ra người tu hành thì Con Mắt đã được điều phục, không bị Cái Tâm lôi kéo để Phạm Giới. Nhưng Ngài A Nan, dù tu hành đã lâu mà khi đi một mình còn bị Ma Đăng Già ép duyên. Điều đó chứng tỏ Ngài đã tu sai. Cái sai đó bắt đầu ngay từ cái Phát Tâm. Do đó, Phật hỏi nguyên do phát tâm xuất gia của Ngài A Nan, và Ngài đã trả lời: “Do Thấy tướng tốt của Phật rồi hâm mộ mà Phát tâm xuất gia”. Phật hỏi Tâm và Mắt ở đâu? Và Phật cho rằng: “Ông nhiều kiếp sinh tử luân hồi cũng do hai thứ đó. Nếu không biết nó ở chỗ nào thì không thể hàng phục được phiền não trần lao”.

Quay lại với mục đích của Đạo Phật. Đạo Phật được cho là Đạo Độ Khổ. Người tu Phật chân chính phải là người thấy Khổ nên tìm đến với Đạo Phật để học cách Thoát Khổ. Như vậy, nếu ai phát tâm vì nguyên do nào khác mà vào Đạo Phật thì đâu phải là phát tâm chân chánh?


Muốn Tu Phật thì phải biết mục đích, phải nắm vững phương tiện. Tu Phật là để được Đạo Vô Thượng Bồ Đề. Kinh Lăng Nghiêm viết:

Ông nay muốn đặng Đạo Vô Thượng Bồ Đề, thì điều cần nhứt là phải hiểu rõ hai món căn bản:

1. Căn bản của Sanh Tử là Vọng Tâm.

2. Căn bản của Bồ Đề Niết Bàn là Chơn Tâm.

Nếu ông nhận lầm căn bản của Sanh Tử (Vọng Tâm) làm nhơn tu hành, thì không bao giờ giải thoát được. Cũng như người nhận giặc làm con, thì chỉ thêm phá hại gia sản của mình mà thôi. Và cũng như người nấu cát làm cơm, dầu trải lâu bao nhiêu cũng chẳng thành cơm được”.

Ngài A Nan không những đã phát tâm sai, mà qua lời thú nhận của Ngài, bản thân đã không lo tinh tấn tu hành: “Chỉ lo học rộng, nghe nhiều, chẳng lo tu niệm. Lại nghĩ mình là em của Phật, được Phật thương yêu, chắc chắn sẽ ban cho thần thông, trí tuệ hay Đạo Quả Bồ Đề. Không ngờ ai tu nấy chứng. Dù là em của Phật mà không tu thì cũng đọa như thường”. Nhân đó, Ngài A Nan xin Phật chỉ dạy phương pháp mà Mười Phương các Đức Phật tu hành thành Đạo, Chứng Quả.

Mới vô đề thôi là chúng ta thấy Kinh chỉ cho chúng ta Ba việc cần làm:

1. Muốn tu Phật thành công thì phải có cái Phát Tâm Chơn Chánh.

2. Ngài A Nan Phạm Giới là do Tâm và Mắt, Vì thế, muốn tu hành đạt được kết quả thì phải tìm hai thứ đó để sửa đổi. Vậy nếu ta không đọc Kinh, rồi để thì giờ Quán sát, Tư Duy để tìm Tâm và Mắt như Phật dạy, chỉ mang Kinh ra tụng với chuông, mõ thì kết quả sẽ như thế nào?

3. Ai tu nấy chứng: “Dù là em của Phật mà không tu thì cũng đọa như thường”.

Những gì diễn giải trong Kinh rất thực tế. Có gút, có cách giải quyết. Tu hành chính là thấy được Gút và tìm cách tháo gỡ. Vậy mà bao nhiêu thời qua, nhiều người không làm điều đó, không ĐỌC KINH rồi tìm những lời Chư Tổ hướng dẫn trong đó để làm theo, lại mang Kinh ra để Tụng, cho rằng Tụng Kinh là một trong những công năng tu hành. Kinh Pháp Bảo Đàn nói về Pháp Đạt, người đã có công tụng ba ngàn Bộ Kinh Pháp Hoa, đã lấy số lần tụng nhiều cho rằng mình có công đức lớn. Tổ Huệ Năng giải thích về việc Tụng Kinh cho Pháp Đạt như sau:

Ngươi tên là Pháp Đạt

Siêng tụng hoài không dứt

Tụng khống theo âm thinh

Minh Tâm mới gọi Phật.

Tức là Tổ dạy rằng cần MINH TÂM thì mới gọi là Phật chớ tụng khống theo âm thinh chẳng có ích lợi gì. Ngài giải thích: “Miệng tụng, mà tâm làm theo nghĩa Kinh tức là mình chuyển Kinh. Miệng tụng mà tâm chẳng làm theo nghĩa là mình bị Kinh chuyển”. Có nghĩa là việc Tụng Kinh chỉ có ích lợi khi người tụng hiểu ý Kinh rồi thực hành theo đó, để chuyển sự hiểu biết nơi Kinh thành sự hiểu biết của mình rồi thực hành theo đó. Do đó, nếu ta không biên, chép, giải nói thì làm sao hiểu được Kinh dạy những gì để mà thực hành theo đó để gọi là “Y Pháp tu hành”?

Nói về “Tụng Kinh, Niệm Phật”, Tổ Đạt Ma dạy: “Phàm nói Niệm Phật, cốt cần niệm Chánh. Rõ nghĩa là Chánh. Không rõ nghĩa là Tà. Niệm Chánh ắt được vãng sanh. Còn Niệm tà thì sao qua đó được?

Nói “Phật” là nói “Giác”, tức Tỉnh Biết vậy. Tỉnh để Biết, để Thấy rõ Thân, Tâm mình, đừng khiến niệm dữ lừng lên vậy.

Nói “Niệm” là nói “ức”, tức gìn nhớ vậy. Gìn nhớ giữ Giới Hạnh, chẳng quên tinh tiến. Có hiểu như vậy mới gọi là Niệm. Cho nên Niệm cốt ở Tâm, chẳng ở lời nói.

Tụng với Niệm, nghĩa lý khác nhau xa.

Tại miệng gọi là Tụng

Tại tâm gọi là Niệm

Thế mới biết

Niệm theo Tâm mà khởi, đó là Giác Hạnh - cửa huyền

Tụng theo miệng mà ra, đó là âm thanh - tướng dối.

Nên biết Chư Thánh ngày xưa tu Niệm Phật phải đâu nói ngoài miệng, chính là tìm xét trong Tâm” (trích Phá Tướng Luận, SÁU CỬA VÀO ĐỘNG THIẾU THẤT).


Muốn tu theo Đạo Phật thì phải nương Kinh sách của Chư Tổ. Cả hai Tổ đều nói về sự không cần thiết của việc Tụng Kinh. Điều người tu cần là Niệm. Niệm Phật không phải là đọc thầm hay thành tiếng câu Nam Mô A Di Đà Phật, hay các danh hiệu Phật khác, mà Nam Mô A Di Đà Phật, là hướng về hào quang không ngăn ngại soi suốt cả Mười Phương, bằng cách ghi nhớ lời Phật dạy rồi áp dụng tẩy rửa cho Thân Tâm của mình để trên dưới, trong ngoài đều trở thành thanh tịnh, trong sạch. Có như vậy thì mới đưa đến kết quả Giải Thoát được.

Kết luận: Tụng Kinh chỉ có ích lợi nếu người tu hành hàng ngày đọc đi đọc lại để thấm nhuần lời Kinh, theo đó mà tìm hiểu ý nghĩa, rồi thực hành để đạt kết quả. Nếu không làm như thế thì việc Tụng Kinh chỉ là đọc Kinh bằng những âm thanh trầm bổng nghe cho vui tai, chỉ làm mất thì giờ của người tụng mà thôi. Bởi vì Kinh dạy những việc phải làm, mà chúng ta chỉ đọc như người đọc sớ, thì công việc vẫn còn nguyên đó, không có gì thay đổi. Khác nào cha mẹ đi vắng, viết giấy để lại, dặn con ở nhà mỗi ngày quét dọn nhà cho sạch sẽ, và nấu cơm để ăn, mà thay vì mỗi ngày quét dọn nhà và lấy nồi nấu cơm để ăn, thì ngày nào đứa con cũng chỉ mang tờ giấy đó ra đọc, ngày đọc mấy lần! Không thực hiện theo lời dặn cha mẹ ghi lại trong giấy, thì làm sao có cơm mà ăn, nhà cửa làm sao sạch cho được? Cũng như CHÚ ĐẠI BI, được tuyên truyền là rất linh ứng, mọi người nên tụng hàng ngày để cầu Chư Phật phù hộ. Trong khi đó, khi được dịch ra tiếng Việt thì bài Chú nói về công việc phải làm của người tu là “phát đại bi tâm, đại tự tại tâm, hăng hái thường tạo các thiện nghiệp, lâu dần dẫn đến sự giải thoát vô nhiễm, nương theo đó mà thực hiện hoằng pháp hỡi vị pháp vương Tử chủ của hòa bình. Tiếp tục tu hành, tiếp tục làm sạch Thân và làm sạch Tâm, thanh tẩy Thân, Tâm. Kiên cố lên, dũng mãnh lên hỡi người có căn cơ chứng giác. Với Tâm Đại Từ Đại Bi khi người đã thành tựu có được danh tiếng cũng do tâm từ bi đó. Thành tựu do Tâm đại từ đại bi phát ra. Thành tựu trong công việc giải thoát tương ứng với vạn pháp. Thành tựu trong đức hạnh. Thành tựu trong diệu nghĩa vô cấu. Thành tựu không ai có thể sánh khi nói ra có sức thuyết phục. Thành tựu không ai có thể sánh trong tất cả ý nghĩa sâu sắc. Thành tựu không ai sánh trong Chuyển Pháp Luân. Thành tựu không ai sánh trong đóa Sen Đỏ tượng trưng cho Diệu Tịnh Nghiệp. Thành tựu trong việc trở thành Đức Thế Tôn. Thành tựu trong việc đem uy đức của mình tạo ra tín nhiệm cho mọi người…

Với những công việc được nhắc nhở LÀM, để hoàn thành công việc tu hành, thì nếu chúng ta không Làm, mà chỉ đọc, tụng hàng ngày thì làm sao mang lại kết quả? Cho nên, thì giờ dùng để Tụng Kinh đó cũng giống như người Ngồi Thiền không mục đích. Nhờ tập trung, nên không có suy nghĩ vẩn vơ, không làm việc ác, nhưng không giúp cho người tập trung đó sinh được Trí Huệ, không sinh thêm sự hiểu biết gì liên quan đến công việc tu hành, vì vậy không có giá trị gì đối với con đường tu hành hết vậy.


Tháng 02/2018



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 13.5.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004