Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Đền Thờ Kinh Dương Vương (BắcNinh)





Nhân Giỗ Tổ Hùng Vương

Nhắc Lại Vua Kinh Dương Vương Của Chuỗi

Dòng Họ Với 18 Đời Vua Trị Vì Nước Văn Lang










C ho tới nay, hầu như mỗi người trong chúng ta đều thuộc nằm lòng câu ca dao :


              Dù ai đi ngược về xuôi

              Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3


Sổ tay báo cáo viên năm 2005 của Ban Tư tưởng – Văn hóa TW Đảng dày gần 500 trang đã dành 33 trang (129-161) cho phần nói về Thời đại Hùng vương và Lễ hội đền Hùng (Tư liệu phục vụ công tác tuyên truyền). Trong phần tài liệu này có ghi lại câu ca dao nói trên. Ngoài ra, phần tài liệu này còn cho biết :”Thời xưa việc cúng Tổ vào ngày 12 tháng 3 (âm lịch) hàng năm. Thường khi con cháu ở những miền xa về làm giỗ trước một ngày vào ngày 11 tháng 3 (âm lịch). Đến thời nhà Nguyễn, triều đình định lệ 5 năm mở hội lớn một lần (vào các năm thứ 5 và 10 của thập kỷ) có quan triều đình về cúng tế cùng cùng quan hàng tỉnh và ông chủ tế địa phương, cúng vào ngày 10 tháng 3 (âm lịch), để những ngày sau cho nhân dân mọi miền về làm lễ hội. Do đó, ngày giỗ Tổ sau này mới là ngày 10-3 (âm lịch) hàng năm.”(trang 151).

Sổ tay còn ghi thêm :”Từ Cách mạng tháng Tám tới nay, Chính phủ nước Việt Nam đều tổ chức dâng hương tưởng niệm các vua Hùng vào ngày 10-3 (âm lịch) hàng năm theo nghi thức Nhà nước. Nhà nước còn định lệ hàng năm cả nước được nghỉ môt ngày đúng vào ngày 10-3 (âm lịch) và lấy đó làm ngày Giỗ Tổ Hùng Vương.

Cho tới nay, chúng ta đều ghi nhận, tuân thủ và làm như vậy. Năm ngoái và năm nay, Viện lịch sử dòng họ đều phối hợp với Công ty du lịch Phú Thọ và công viên văn hóa Đầm Sen tổ chức lễ hội giỗ Tổ Hùng vương rất trọng thể, có tổ chức lễ rước “lửa” từ đền Hùng ở khu di tích văn hóa lịch sử TP (Quận 9) về.

Trong khi đó, trên đất Bắc, ở thôn Á Lữ xã Đại Đồng Thành huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh hàng năm đều có tổ chức một lễ hội rất long trọng và cũng đã rao truyền trong nhân dân câu ca dao như sau :


              Nhớ ngày Mười tám tháng Giêng

              Giỗ vua Thủy Tổ thiêng liêng nước nhà.

              Dù ai xuôi ngược gần xa

              Tìm về bái Tổ xứng là đạo con .


Giống như ở đền Hùng – Phú Thọ, ở Thuận Thành – Bắc Ninh cũng có khu di tích lịch sử văn hóa Lăng và đền thờ Kinh Dương Vương – là vị vua Thủy tổ Việt Nam.

Trong Sổ tay Báo cáo viên nói trên có liệt kê “18 Chi Hùng vương” mà chúng ta đều quen gọi là “18 đời vua Hùng vương” có thời gian trị vì nước Văn Lang từ năm 2879 trước công nguyên tới năm 258 trước công nguyên. Niên đại này được thống nhất ghi nhận từ trong sử sách chính thống cho tới ngoài dân gian.

Trong tổng số 18 Chi Hùng vương này (đúng với bản Di cảo Hùng vương mà dòng họ Ma đã cho phổ biến từ nhiều năm nay), chi đầu tiên là Chi Cán hiệu vua Kinh Dương Vương húy Lôc tục với số năm giữ vương quyền là 86 năm (từ 2879-2794 tr.CN). Chi thứ hai là Chi Khan, hiệu vua Lạc Long Quân húy Sùng Lãm với số nắm giữ vương quyền là 269 năm (từ 2793-2525 tr.CN), cho thấy Lạc Long quân lấy Âu Cơ sinh ra Hùng Quốc Vương thuộc Chi Cán (Chi thứ ba trong tổng số 18 chi), húy là Hùng Lân có số năm giữ vương quyền là 282 (2524-2253 tr.CN).


Tới đây, chúng ta thấy có hai vấn đề đặt ra :


1-Nếu tính từ Chi thứ ba là Hùng Quốc vương mới gọi là Hùng vương thứ nhất thì tổng số 18 Chi chỉ có 16 Chi mang họ Hùng và vị này là vị vua sáng lập ra nước Văn Lang, theo như sử sách được ghi chép chính thống. Do đó khi nói đến Quốc Tổ Hùng vương thì chỉ quy kết vào đầu mối nhà nước Văn Lang và coi như nước Việt Nam ngày nay chỉ được bắt đầu từ thời đại Hùng vương nhưng lại với Lạc Long Quận và Âu Cơ theo truyền thuyết Tiên Rồng. Hai vợ chồng này đẻ ra 100 bọc nở ra 100 trứng và sinh thành 100 người con, một nửa theo Mẹ lên rừng, một nửa theo cha xuống biển lập nghiệp, rồi người con thứ nhất được phong vương tức vua Hùng vương thứ nhất và truyền ngôi cho nhau tới vua Hùng vương thứ 18 kéo dài từ năm 2879 tới năm 258 tr. CN.

2-Niên đại này được quy kết vào 18 Chi Hùng vương thì thấy không lo-gic vì trong đó có hai chi nằm ngoài dòng họ Hùng vương, đó là Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân. Ta thấy có mâu thuẫn rõ ràng trong dòng tiến hóa của lịch sử nước ta giữa 18 chi và 16 chi. Do đó, theo dòng họ liên tục dòng đời và dòng sử có 18 chi thì vua Hùng vương thứ nhất của thời đại Hùng vương là cháu nội của Kinh Dương Vương tên húy Hùng Lân thuộc Chi Cán hiệu Hùng Quốc Vương có niên đại từ 2524-2253 tr. CN với số năm giữa vương quyền 282. Như vậy, thời đại Hùng vương chỉ kéo dài từ 2524 tới năm 258 tr.CN. Như vậy, lịch sử dựng nước Văn Lang chỉ có 16 chi Hùng vương, bỏ ra hai chi đầu là Kinh Dương và Lạc Long Quân và hàng năm khi tổ chức giỗ Tổ thì chỉ tổ chức cho Hùng Vương ở đền Hùng – Phú Thọ (Vĩnh Phú) theo nghi thức quốc gia. Còn tổ chức giỗ ở Thuận Thành cho Thủy tổ Kinh Dương Vương lại theo địa phương.

Do đó, kết luận cho phần này, chúng tôi đề nghị : Khi tổ chức lễ Giỗ Tổ Hùng vương thì nên tổ chức luôn cho Kinh Dương Vương, chớ không chỉ quan tâm tới Lạc Long Quân (đền thờ mới xây xong ở cách xa núi Ngũ Lĩnh) và Âu Cơ (đền thờ Tổ Mẫu đã xong xong cách dây vài năm ở dưới chân núi Ngũ Linh) khi tổ chức giỗ Tổ cấp quốc gia.

Đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương xây dựng hai năm 2007-2009, có văn bia đền Quốc Tổ với lời văn lược ghi như sau : “Tương truyền Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân do Nam san hun đúc, Long hải góp linh, lúc mới sinh ra đã khác người thường….Một hôm Đức Lạc Long Quân tuần du đến vùng Đà Giang thì gặp nàng Âu Cơ xinh đạp tuyệt trần, phúc hậu… thì chọn làm Hoàng hậu…Hoàng hậu Âu Cơ có thai sinh ra một bọc trăm trứng nở ra 100 con. 50 theo cha xuống miền biển, 49 con theo mẹ lên rừng cao. Người con trưởng ở lại làm vua hiệu là Hùng Vương đặt tên nước là Văn Lang.”

Theo Văn bia này thì Ban quản lý khu di tích và nhà nước chủ quản công nhận Lạc Long quân và Âu cơ tạo ra vua Hùng Vương dựng nên đất nước Văn Lang đầu tiên của Việt Nam ngày nay. Như vậy, theo dòng họ Hùng vương chỉ có 16 chi hay 16 đời. Điều này không khớp với Di cảo 18 chi Hùng vương của họ Ma bảo quản suốt hai ngàn năm nay và bảng kê của Sổ tay Báo cáo viên năm 2005 của Trung ương Đảng như đã dẫn ở trên. Nếu theo dòng lịch sử với 18 chi Hùng vương thì Hùng vương thứ nhất chỉ là cháu nội của Thủy Tổ Kinh Dương Vương, cũng có mộ, có lăng và đền thờ uy nghi, hoành tráng, có cả đền thờ Lạc Long Quân và Âu Cơ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh. Do đó, ta không thể chỉ lấy cháu nội làm vị vua đầu dòng họ Hùng và tôn xưng là Tổ Hùng vương.


Như vậy, một lần nữa, chúng ta nhận thấy có sự khác biệt kiểu dị sử về sự nhìn nhận Quốc tổ và Thủy Tổ trong việc thờ Lạc Long Quân và Âu Cơ và niên đại như nói ở trên. Tính niên đại thì lấy từ thời Kinh Dương Vương nhưng tính theo dòng họ Hùng vương thì tính từ Chi thứ ba là Chi Cấn hiệu Hùng Quốc Vương sau tới 355 năm. Điều này thiết tưởng các nhà làm sử và tổ chức giỗ quốc Tổ nên xem lại để thống nhất về giỗ Tổ Hùng vương : có nên phân biệt giỗ Quốc Tổ và giỗ Thủy Tổ hay nhập chung làm một vì hiện nay có một ngày lễ giỗ Tổ chính thống cho cả nước lại thuộc về đời thứ ba. Nếu lấy ngày 10/3 âm lịch làm ngày lễ Giỗ Tổ thì ngày 18/1 âm lịch của giỗ Thủy Tổ bị bỏ ra. Chắc không nên làm như vậy.


(Kỷ niệm ngày Giỗ Tổ Hùng vương 10/3 năm Mậu Tuất)



Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ SàiGòn ngày 22.4.2018 .


trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004