Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




BÀN VỀ NGUỒN GỐC KINH DỊCH &

VĂN MINH LÚA NƯỚC LẠC VIỆT




K inh Dịch đã có chừng hơn 5000 năm tuổi, nhưng cho đến nay người ta vẫn chưa biết chính xác ai là tác giả đích thực của Kinh Dịch nguyên thuỷ.

Ngay các học giả Trung Quốc vẫn tiếp tục tìm cách xác minh nguồn gốc của KD nhưng hầu nhưng tất cả đều lâm vào bế tắc. Kinh Dịch bắt nguồn từ Phục Hi ư? Và những truyền thuyết Long Mã, Hà đồ, Lạc thư . . . , hầu như không tin được nữa vì không có cơ sở thực tế và khoa học. Nghĩa là vấn đề Tác giả của Kinh Dịch vẫn hoàn toàn còn để ngỏ.

Ở Việt Nam ta đã có một số người nghiên cứu mong tìm ra nguồn gốc KD. Họ khẳng định rằng Kinh Dịch là của Việt Nam nhưng đó chỉ là thể hiện tinh thần dân tộc cao cả chứ chưa đưa ra được những chứng cứ có sức thuyết phục.

Trong số học giả này có lẽ xuất sắc nhất là Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Ông Tuấn Anh đã công phu trong việc tìm tòi chứng cứ xác nhận DỊCH là sở hữu trí tuệ của tộc Lạc Việt; và phần ưu việt là ông đã dựa vào văn hoá dân gian Việt Nam để phát hiện những chứng cứ có sức thuyết phục. Chỉ tiếc rằng trong phần phủ nhận những sai lầm của các nhà DỊCH HỌC Trung Quốc ông chưa có đủ chứng cứ xác thực và đôi chỗ còn có phần khiên cưỡng hoặc ngộ nhận.

Trong khoảng vài ba chục năm qua tôi có để tâm nghiên cứu tìm tòi. Sau khi tìm ra một số chứng cứ tôi có thể khẳng định rằng tác giả Kinh Dịch không phải là Hoa Hạ-Hán tộc mà là Việt tộc.

Phương pháp tôi sử dụng là phương pháp mà khảo cổ học thường dùng. Chỉ có điều khác là khảo cổ học thì đào vào lòng đất tức là đào vào không gian để tìm quá khứ. Còn tôi, tôi đã đào vào thời gian nghĩa là những “vật thể” mà tôi tìm được là chứng cứ về ngôn ngữ học đó là những chứng cứ phi vật thể. Nhưng những chứng cứ phi vật thể này bất cứ ai cũng có thể nhận biết dễ dàng.

Trong bản tham luận ngắn này, tôi xin góp phần bàn luận sơ lược hai vấn đề:


1/ Ai là tác giả đích thực của bản DỊCH NGUYÊN THUỶ?

2/ Nền văn minh LẠC VIỆT LÚA NƯỚC hinh thành sau hay trước nền văn minh HOA HẠ -HÁN TỘC?


Chứng cứ chủ yếu là chứng từ ngôn ngữ lịch sử.


A/ TÁC GIẢ ĐÍCH THỰC CỦA DỊCH NGUYÊN THUỶ?


Mấy nghìn năm qua Trung Quốc nghiễm nhiên coi Hán tộc là tác giả của Kinh Dịch và thường thuyết giải bằng những huyền thoại Phục Hy và Đại Vũ . . .không có sức thuyết phục. Đặc biệt khi gặp bế tắc họ chẳng hề ngần ngại quy cho Dịch lý tính chất huyền bí để lảng tránh. Một số nhà nghiên cứu Dịch học Việt Nam đã từng dưa ra nhiều chứng cứ, nhất là những chứng cứ lấy từ văn hoá dân gian Việt Nam rất có lý nhưng cũng không thuyết phục nổi họ.Thành ra phần đông học giả Việt Nam đành cứ sao chép hoặc dịch thuật các thành tựu của họ rồi bàn thêm dăm câu ba điều hoặc có nêu thắc mắc hoài nghi rồi để đó, mặc cho mọi thứ trôi hoài theo thời gian.

Rất tiếc ở Việt Nam ta có quá it người chú ý đến việc tìm chứng cứ trong ngôn ngữ lịch sử.

TÊN GỌI TÁM QUÁI LÀ NHỮNG TỪ VÔ NGHĨA TRONG NGÔN TỪ HÁN TỘC.

Nếu hỏi bất kỳ người Trung Quốc nào, kể cả các học giả chuyên nghiên cứu Dịch lý về nghĩa của 8 từ gọi tên các quái trong Bát quái, chắc chắn họ sẽ không trả lời được. May ra có từ có nghĩa như từ LY ( ) thì nghĩa của nó lại là chia tách, lìa xa, cách biệt, chẳng liên quan gì đến khái niệm HOẢ hay LỬA trong Bát quái.

Vậy thế là thế nào?

Có gì khó hiểu đâu! LY ( không có âm gần gũi với Hoả () trong ngôn từ của Hán tộc, nhưng lại gần gũi với từ LỬA trong ngôn từ của Việt tộc. Tất nhiên, tìm ra được sự biến đổi từ LY đến LỬA không hề dễ dàng. Nhưng nếu tra từ LỬA trong từ điển Việt-Bồ-La của A.De Rhodes xuất bản tại Roma năm 1651 thì sẽ đọc thấy dòng này: Lửa. Có một số người nói Lả.

Thế nghĩa là cho đến giữa TK XVII người Việt ở một vài địa phương nào đó vẫn còn phát âm từ LỬA là LẢ. Cũng chẳng khác bao nhiêu với trường hợp cho đến đầu thế kỷ XXI mà có làng Cổ Định (Thiệu Hoá -Thanh Hoá) vẫn còn phát âm LÚA là LÓ, NƯỚC là NÁC, VỀ là VIỀN . . . Một vài làng ở huyện Nam Trực (Nam Định) vẫn còn phát âm TRÂU là TÂU, khẩu SÚNG là khẩu THÚNG . . .

Chứng cứ sau đây cũng khá thú vị. Tức là vào khoảng cuối TK XIII, sứ thần nhà Nguyên là Trần Cương Trung sang Đại Việt ta đã ghi lai những điều tai nghe, mắt thấy trong "Sứ Giao Châu thi tập". Ngoài những ghi chép về phong tục, tập quán, y phục . . ., ông còn ghi lại một số tiếng nói bản xứ như:


Thiên ( ): bột mạt ( 勃 末 ) = trời;

Địa ( ): đát () = đất?

Sơn. ( ): cán ôi (榦 隈) = núi

Thuỷ. ( ): lược. ( )= nước

 Tất cả khoảng 18 từ.


Cảm tạ ngài Lê Quý Đôn đã ghi lại cho chúng ta những chứng cứ cực kỳ bổ ích trong tác phẩm "Kiến văn tiểu lục" của ngài. Hoá ra đến thời Trần, dân Đại Việt vẫn còn gọi núi là CÁN ÔI. Và rõ ràng đó là nguồn gốc của phiên từ CẤN.

Và rõ ràng hơn nữa là: tên của 8 QUÁI đều vốn là những từ được người Hoa Hạ-Hán tộc phiên âm từ những từ cổ thuần Việt của Việt tộc lúa nước.

Chẳng khác gì chúng ta từng phiên: Lang-sa (Francaise):


Chớ tham đồng bạc con cò

Bỏ cha, bỏ mẹ đi phò Lang-sa

Mít-tinh (meeting):

Rủ nhau đi dự mít-tinh

Nghe cán bộ nói tình hình Mỹ thua.


Nên nhớ nguyên tắc: đối với người bản xứ thì mọi từ phiên âm của từ ngữ ngoại bang đều vô nghĩa. Còn những từ ngữ bản địa thì qua quá trình biến đổi hàng ngàn năm rất nhiều trường hợp ngay người bản xứ cũng không còn nhận ra được bản lai diện mục của chúng nữa.

Với những cứ liệu nêu trên,liệu có nên bác bỏ cái gọi là Hậu thiên Bát quái và cần độc tôn Bát quái nguyên thuỷ?


VỀ THUYẾT ÂM DƯƠNG


Ai nghiên cứu Kinh Dịch hoặc quan tâm đến Kinh Dịch đều thấy rằng vấn đề cốt tử hàng đầu của Kinh Dịch là vấn đề Âm Dương.

Tôi rất ngạc nhiên khi thấy Hán tộc không có khái niệm chính xác về Âm Dương. Đồng thời họ lại hay tự mâu thuẫn trong vấn đề này. 

Ai đã xem Tây Du Ký đều thấy rằng khi Tôn Ngộ Không cần triệu tập vị thần cai quản một vùng đất nào đó thì đều thấy hiện lên một ông già râu tóc bạc phơ. Và nhiều địa phương ở Trung Quốc trong nhà dân vẫn còn bàn thờ Ông Địa. Cho đến nay dù đã bước vào Thế kỷ XXI người dân Trung Quốc vẫn duy trì tục lệ tiễn chân Thổ Công//Táo Quân lên Thiên đình vào ngày 23 tháng Chạp ÂM lịch. (Không biết ta chịu ảnh hưởng TQ từ hồi nào mà cũng trưng bàn thờ ông ĐỊA và có tục thả cá chép tiễn ông Táo về trời vào 23 tháng Chạp. Họ quên mất truyện vua bếp Hai ông Một Bà, cũng quên cả truyện Mẹ Đất, Mẹ Nước, Mẹ Thượng Ngàn . . .

Nếu tính từ ngày có Âm Dương gia trong Bách gia chư tử cho đến ngày nay thì giới nghiên cứu/khảo cứu KD ở Trung Quốc đã quan niệm rõ ràng: CÀN vi Thiên (Trời) thuộc phạm trù Dương, còn KHÔN vi Địa ( Đất) thuộc phạm trù Âm. Giới Bác học cứ việc biên soạn, thuyết trình, giảng giải như thế; còn giới Bình dân TQ thì vẫn cứ coi Thổ/Địa thuộc Dương. Và Thiên cũng lại thuộc Dương, nghĩa là có ông Thiên, đồng thời có cả ông Địa và ông Thổ. Do đó, họ lập bàn thờ ông Thiên ở ngoài trời, và lập bàn thờ ông Địa trên nền đất trong nhà.

Sao lại có chuyện lạ kỳ như vậy? Và nên hiểu như thế nào? Và phải giải thích chuyện này ra sao?

Riêng Việt tộc thì Đất/Thổ/Địa dứt khoát phải thuộc Âm. Do đó, mà có Mẹ Đất, Mẹ Nước, Mẹ Thượng Ngàn . . .

Điều đáng ngạc nhiên hơn nữa là chính giới nghiên cứu Trung Quốc cũng có nhiều người nhầm lẫn về vấn đề này. Cứ xem họ xếp Trưởng nam, Trưởng nữ, Thứ nam, Thứ nữ lộn xộn âm dương ở Hậu thiên Bát quái đồ thì càng rõ.

Trước khi trình bày những chứng cứ mới, tôi mạn phép hỏi các vị học giả, chuyên gia nghiên cứu về Kinh Dịch cả ở Trung Quốc và ở Việt Nam: một tộc người có sự hiểu biết sai lạc, nhầm lẫn về Âm Dương (như đã kể trên) liệu có khả năng sáng tạo ra Kinh Dịch không?

Theo ý tôi (Trần Khuê), bất cứ dân tộc nào không hiểu biết chính xác về khái niệm cơ bản Âm Dương thì không thể nhận mình là tác giả Kinh Dịch.

Do đó, dựa trên chứng cứ thực tiễn không thể bác bỏ, tôi có thể dứt khoát khẳng định: Hán tộc chắc chắn không phải là tác giả của Kinh Dịch!

Nếu cứ còn khăng khăng nhất quyết cho rằng hoặc tin rằng Bát quái và cả Thiên can lẫn Địa chi đều là bản quyền thuộc Trung Quốc thì kính mời trả lời ngay câu hỏi sau đây:

Tại sao Hán tộc không gọi những danh xưng đó bằng ngôn ngữ của họ?

Có ai chứng minh được rằng những danh xưng đó là những từ gốc Hán tối cổ?

Thêm những chứng cứ sau đây minh định rằng tất cả những danh xưng đó đều là những từ tối cổ gốc Việt.


TẠI SAO LẠI LÀ "Tí, Sửu, Dần, Mão . . . 子 丑 寅 卯" MÀ KHÔNG PHẢI "Thử,Thuỷ ngưu,Hổ,Thố. . .鼠 水牛虎 兔"?


Không rõ từ thuở nào, người Việt ta trong sách vở cũng như trong thực tế đã dịch NGƯU ( ) là TRÂU.

Sự thật, trong thực tế và ngôn từ thì người Hoa Hạ (Hán tộc) từ thượng cổ cho đến ngày nay vẫn gọi NGƯU là BÒ. Tại sao lại có chuyện đó?

Đơn giản thôi, vì vùng thảo nguyên du mục của người Hán tộc cổ xưa vốn khô cằn chỉ có thể là môi trường trường sống thích nghi với BÒ là con vật không có nhu cầu cao về Nước. Cho nên cái chữ NGƯU được vẽ ra () chính là hình tượng khá gần gũi để mô tả con vật này. Chỉ khi vượt sông Dương Tử tràn xuống vùng lúa nước của Bách Việt, họ mới ngạc nhiên nhìn thấy con vật giống con NGƯU của họ lại đầm dưới nước. Họ liền gọi nó là THUỶ NGƯU (水 牛 ). THUỶ NGƯU chính là tên chỉ CON TRÂU của vùng Bách Việt lúa nước ở vùng đất phía nam Dương Tử. Vậy con vật kéo cày này thì Việt tộc gọi tên là gì? Xin thưa rằng họ gọi nó là con SỦ.

Hiện nay, còn một làng ở Thanh Hoá có tên là làng SỦ là làng buôn TRÂU, có sông chảy qua làng này tên là sông SỦ. Dân làng gọi con TRÂU là con TRU. Vậy biến thể SỦ > TLU > TRU và biến thể SỦ > TLÂU >TÂU >>TRÂU đã diễn tiến trong những bối cảnh lịch sử như thế nào, cần khảo cứu thêm.

Nhưng chắc chắn SỬU là phiên âm từ SỦ, một từ cổ thuần Việt.

Và người Hoa Hạ khi nói năm SỬU, tuổi SỬU cầm tinh con TRÂU (thủy ngưu) là rập theo lối nói, lối nghĩ của Việt tộc từ thượng cổ.

Tôi hoàn toàn đồng ý với nhà nghiên cứu An Chi. Tất cả những từ NGƯU,HOÀNG NGƯU . . .trong các quẻ kép của Kinh Dịch đều phải dịch là BÒ, BÒ VÀNG. . . chứ không thể dịch là TRÂU, TRÂU VÀNG. Cụ Phan Bội Châu, cụ Ngô Tất Tố có sự nhầm lẫn trong chuyện dịch từ này.

Điều quan trọng là những nhà nghiên cứu Kinh Dịch xưa cũng như nay ở Trung Quốc cũng cố tình làm ngơ, không ai coi người sinh năm SỬU là người cầm tinh con BÒ, mà là cầm tinh con TRÂU.

Vậy tại sao có chuyện dùng danh xưng SỬU mà không dùng NGƯU hay THUỶ NGƯU?

Đơn giản là họ đâu phải "mẹ đẻ" của những đứa con này. Do đó Bà Mẹ Đẻ Lạc Việt đã đặt tên các con ruột của mình thế nào thì họ vẫn cứ thế gọi theo mà thôi.


NÓI THÊM CHUYỆN MÃO VÀ THỐ.


Với người Việt, từ thượng cổ tới nay người sinh năm MÃO thì là tuổi MÃO và tất nhiên là cầm tinh con MÈO. Vậy tại sao những người thuộc Hán tộc tuổi MÃO lại cầm tinh con THỎ. Và tại sao lại có chuyện MÃO nghĩa là THỎ. Nếu thỏ thì phải là Thố (兔  ) chứ Mão ( ) sao ổn.

Có lẽ trên lưng rùa, người Lạc Việt vẽ 12 con giáp, đến con Mão thì cả người sao chép cũng như triều thần của Đế Nghiêu đều không biết nó là con gì; nhưng sau thấy nó có hai cái tai vểnh lên giống tai Thỏ nên gọi đại nó là con Thố chăng? Chuyện tréo ngoe: Tuổi Mão lại cầm tinh con Thỏ kéo dài mấy nghìn năm liền. Biết đến bao giờ thì ngài Thiệu Vĩ Hoa và giới Dịch học Trung Quốc mới để tâm đính chính những chuyện nhỏ như con Thỏ này?

Thế là lại thêm một minh chứng: 12 Địa chi cũng vẫn là những tên được phiên âm từ những từ gốc Việt. Một số tên khác NGỌ ( ) rõ ràng có từ hậu duệ là từ NGỰA, từ HỢI (  ) có hậu duệ là HEO . . .


VĂN MINH LẠC VIỆT CÓ SAU HAY TRƯỚC VĂN MINH HÁN TỘC?


Có lẽ chỉ cần xác định chữ viết của ai có trước là đủ.

Rất nhiều người đã chú ý trích dẫn đoạn văn trong sách Thông chí của Trịnh Tiều nói về việc cống rùa vàng của tộc VIỆT THƯỜNG :

"Đời Đào Đường (Đế Nghiêu- 2253 tr.CN), phương Nam có bộ tộc Việt Thường cử sứ bộ qua ba lần phiên dịch sang chầu, dâng con rùa thần có lẽ đã sống nghìn năm, mình dài hơn ba thước, trên lưng có khắc văn KHOA ĐẨU ghi việc trời đất mở mang trở về sau. ĐẾ Nghiêu sai chép lấy gọi là QUY LỊCH (tức Lịch Rùa).”

Đáng tiếc không có ai quan tâm đầy đủ đến chứng cứ cực kỳ quan trọng và lý thú này.

Tất nhiên, người nhận ra mặt chữ Khoa đẩu và người chép lại chữ Khoa đẩu hẳn phải là người thông thạo chữ Khoa đẩu.

Vậy chữ Khoa Đẩu của Việt tộc đã có từ trước thời Đế Nghiêu. Tại sao người Hán tộc lại phải vay mượn chữ viết của Lạc Viêt?

Dễ hiểu thôi! Vì họ chưa có chữ viết. Hoăc có nhưng chưa đầy đủ và thuần thục như chữ Khoa Đẩu.

Vậy phải chăng ta nên đặc biệt chú ý đến chữ KHOA ĐẨU (蝌 蚪 ) (chữ Nòng nọc) được dùng ghi trên mai Rùa?

Thật ngạc nhiên đến cực kỳ thú vị khi Khổng An Quốc, người cháu 12 đời của ngài Khổng Tử phát lộ rằng: những bộ Kinh Thi, Kinh Thư . . . tìm thấy khi phá vách nhà thầy Khổng cũng đều chép bằng chữ KHOA ĐẨU.

Hoá ra thực tế lịch sử này đã hùng hồn chứng minh rằng: Ngài Khổng Tử đã dùng chữ Khoa Đẩu, chữ viết của Việt tộc để san định các bộ Kinh vốn được coi là sách kinh điển của NHO GIÁO.

Và căn cứ vào bài Thạch Cổ Ca của ngài thi hào Hàn Dũ đời Đường thì cho đến thời đại nhà Đường ở Thế Kỷ VI, chữ viết Khoa Đẩu vẫn được người Hán sử dụng song hành với chữ Triện, chữ Lệ của Hán tộc :


Từ nghiêm nghĩa mật độc nan hiểu

Tự thể bất loại Lệ dữ Khoa

(Nguồn: trích trong Thạch Cổ ca của Hàn

(Văn nghiêm nghĩa kín đọc khôn hiểu

Dạng chữ khác xa Lệ và Khoa)


Và ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh còn phát hiện trong truyện Thuỷ Hử của tác giả Thi Nại Am đời Nguyên có một chi tiết nói đến chữ Khoa Đẩu. Thế là có lẽ đến cuối đời Tống và đầu đời Nguyên, chữ Khoa Đẩu vẫn còn được người Hoa Hạ dùng song hành với chữ Triện và chữ Lệ?

Liệu đã đã có thể chắc chắn kết luân rằng: kinh Dịch cũng được chép bằng chữ Khoa đẩu, không phải trên lưng rùa thần nổi trên sông Lạc, mà là chép trên lưng rùa do sứ giả Việt Thường mang cống Đế Nghiêu? Và cả chữ Khoa đẩu và kinh Dịch phải ra đời trước thời Đế Nghiêu.

Trước bao lâu? Phải nghiên cứu thêm.

Nhưng rõ ràng chữ viết Khoa Đẩu của Lạc Việt đã ra đời trước chữ viết Triện của Hán Tộc khoảng vài ngàn năm.


BÀN THÊM VỀ GỐC GÁC CỦA TỪ "DỊCH"


Ngay từ DỊCH thì từ mấy ngàn năm nay mọi người vẫn yên trí đó là từ của người Hán; có người cho là từ cổ Lạc Việt thì lại cho rằng đó là sự đọc chệch đi từ DIỆC.

Nhưng thực tế không ai chú ý là Đế Nghiêu sai chép lại những gì đã viết trên mai rùa rồi không phải ngẫu nhiên gọi đó là QUY LỊCH/LỊCH RÙA.

Hiện nay nhiều địa phương phía Nam nước ta vẫn còn gọi tên Dích ( miền Bắc gọi là con VÍCH) để chỉ con RÙA BIỂN. Vậy phải chăng những gì ghi trên mai Rùa đã được gọi là DÍCH và sau này người Hoa Hạ phiên thành Dịch và ghi nghĩa DỊCH (căn cứ vào nội dung nói về sự mở mang biến chuyển của Trời Đất) là Dịch? Thế là DÍCH vốn nghĩa là RÙA ( Lạc Việt) biến đổi thành DỊCH ( kinh Dịch, Chu Dịch) rồi nghiễm nhiên coi đó là sản phẩm văn hoá của Hán tộc.

Ngay từ DỊCH thì từ mấy ngàn năm nay mọi người vẫn yên trí đó là từ của người Hán tộc; có người cho là từ cổ Lạc Việt thì lại cho rằng đó là sự đọc chệch đi từ DIỆC. Nhưng thực tế không ai chú ý là sở dĩ Đế Nghiêu sai chép lại những gì đã viết trên mai rùa rồi gọi đó là QUY LỊCH/LỊCH RÙA. Và hiện nay nhiều địa phương phía Nam nước ta vẫn còn gọi tên Dich ( miền Bắc gọi làcon VICH) để chỉ con RÙA BIỂN.

Thực ra, phải khôi phục lại từ Việt cổ để gọi Lịch Rùa là Lịch Dích và phải chăng nên bàn nhau đặt một tên VIỆT mới cho DICH LẠC VIỆT?

Như thế là có những chứng cứ thép ( thiết chứng) nhằm lý giải một loạt vấn đề từ lâu vẫn làm bận tâm giới học giả chuyên nghiên cứu về Kinh Dịch.

Có cần phải đưa thêm chứng cứ nữa không?

- Theo tôi là không cần?

Vì khảo cổ học chỉ cần đào được vài cái răng hoặc một khúc xương của người Nguyên thuỷ đã có thể dựng lại cả một người Nguyên thuỷ, thậm chí còn hình dung được cả môi trường và thời đại họ đã sống.

Thiết nghĩ, với những cái "răng" đã trình bày ở trên cũng đủ kết luận rằng:

- Lạc Việt là tộc người có nền văn minh lúa nước rất sớm, có chữ viết (Khoa Đẩu) cũng rất sớm, ít nhất cũng cách ta ngày nay khoảng 5000, 6000 năm có lẻ. Hiện tộc LẠC VIỆT (tức Việt Nam ngày nay) còn lưu giữ nhiều chứng cứ lịch sử.

- Người Việt cổ chủ nhân tạo dựng nền VĂN MINH LÚA NƯỚC đã từng tạo ra chữ viết Khoa Đẩu để viết sách, làm lịch và đã từng kính biếu Đế Nghiêu thuộc Hán tộc du mục văn bản LỊCH RÙA (Quy lịch) để quý vị Hoa Hạ tham khảo, học tập.

CHÍNH VIỆT TỘC LÀ TÁC GIẢ CỦA KINH DỊCH, mà văn bản nguyên thuỷ hầu như đã thất lạc, chỉ còn văn bản đã bị sửa chữa, xuyên tạc đã lưu hành từ mấy nghin năm cho đến tận ngày nay.

-Người Hoa Hạ đã từng sử dụng chữ Khoa đẩu, điển hình là ngài Khổng Tử và các tác giả đồng thời với ngài đã dùng chữ Khoa đẩu của Việt tộc để viết kinh sách. Nhiều thế hệ sau ngài, cho đến tận thế kỷ VI đời Đường, vẫn còn dùng thứ chữ viết này song hành cùng với chữ Triện, chữ Lệ để viết văn, làm thơ.

Cũng cần lưu ý các bạn nhớ đến hai sự kiện lịch sử:

Một là Dân tộc LẠC VIỆT từng bị Hán tộc thống tri hơn ngàn năm liền và họ đã thành công trong việc hủy diệt chữ Khoa Đẩu. 

Hai là Minh Thành tổ mang quân xâm chiếm nước ta (Đại Việt thời Trần, thế kỷ XIII) đã lệnh cho tướng Trương Phụ tịch thu đốt hết tất cả sách vở và đập nát hết mọi tấm bia đá của Đại Việt.

Cho nên, đừng ngạc nhiên khi thấy sách vở của Việt Nam từ thời Lý Trần trở về trước không còn gì cả.

Điều đáng ngạc nhiên là: Hán tộc đã đô hộ Lạc Việt đến hơn 1000 năm mà không đồng hoá nổi. 

Vì sao thế? Vấn đề cực kỳ hệ trọng này xin bàn vào một dịp khác.

Đáng ngạc nhiên hơn nữa là: mặc dù đã chiếm đoạt Kinh Dịch và ra công nghiên cứu mấy nghìn năm liền nhưng Hán tộc xưa cũng như nay chưa tỏ ra có sự hiểu thấu đáo, chưa nắm vững cái thần của Dịch. Do đó, tuy là một nước lớn mà chưa bao giờ thực sự hùng mạnh, trong suốt trường kỳ lịch sử luôn luôn bại trận một cách khốn khổ và từng bị các Rợ (Hung Nô, Mãn Thanh) đô hộ hàng trăm năm liền. Đặc biệt, Hán tộc chưa sản sinh ra một nhà tiên tri nào đáng kể.

Riêng LẠC VIỆT, tác giả đích thực của Kinh Dịch đã từng tạo ra những võ công chống ngoại xâm oanh liệt “lừng lẫy Năm châu, chấn động Địa cầu”.

Đồng thời tộc LẠC VIỆT còn sản sinh ra những nhà tiên tri nổi tiếng như Lý Thường Kiệt, Nguyễn Bình Khiêm, Hồ Chí Minh . . .

Bài thơ NAM QUỐC SƠN HÀ biều hiện rõ khả năng hiểu thấu và vận dụng thành thạo kinh Dịch để có thể tiên tri chính xác sự thảm bại của giặc Tống xâm lược.

Tài tiên tri của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Chí Minh . . . sẽ bàn trong một dịp khác.


NHIỆM VỤ HIỆN NAY CỦA CHÚNG TA


Hán tộc đã tìm cách huỷ hoại, xuyên tạc hoặc cất dấu những công trình văn hoá của ta. Vậy ta có nên chấp nhận những công trình xuyên tạc hiện vẫn công khai lưu truyền từ mấy ngàn năm nay của họ hay không?

Thứ nhất: ta phải kiên quyết, bằng những lý lẽ và chứng cứ xác đáng, minh định bằng được sự thật lịch sử: Âm dương, Ngũ hành,Bát quái, Dịch thư , chữ viết Khoa đẩu . . . đều là những sản phẩm trí tuệ của nền Văn minh Lúa nước LẠC VIỆT. Đó hoàn toàn không phải thuộc quyền sở hữu của nền Văn minh Du mục Hán tộc.

Do đó, tôi đề nghị phải phủ nhận cái gọi là Hậu thiên Bát quái của Văn Vương mà từ vài ngàn năm nay, giới Dịch học Trung Quộc cứ bám vào đó để vu khoát và nhận vơ chủ quyền.

Ta phải lớn tiếng khẳng định chủ quyền văn hoá của Việt Nam ta trong lĩnh vực này để giới khoa học Quốc tế bớt dần sự ngộ nhận đã diễn ra quá lâu rồi.

Thứ hai là: giới nghiên cứu Dịch học cuả ta hiện nay nên có sự hợp tác chặt chẽ cùng nhau nghiên cứu bản chất của Dịch lý và khẳng định giá tri chân thật của Dịch Lạc Việt nhằm góp phần xứng đáng vào nền khoa học hiện đại của nhân loại trong thế kỷ mới. Chúng ta phải nghĩ cách giải thích các công trình của Tổ tiên bằng những kiến thức và phương pháp luận Việt Nam trên cơ sở thực tiễn của cả tiến trình lịch sử và cơ sở khoa học hiện đại

Tất nhiên, đây là nhiệm vụ cực kỳ nặng nề và khó khăn. Nhưng ta thử bình tâm suy xét:

Chẳng lẽ từ hơn 5000 năm trước Tổ Tiên Lạc Việt ta có đủ năng lực trí tuệ sáng tạo ra những công trình khoa học lớn lao và quan trọng như Dịch học mà nay con cháu nòi Lạc Việt lại chịu bó tay sao?

Chẳng lẽ sự xuất hiện một lớp nhân tài mới rất xuất sắc hiện nay trong khá nhiều lĩnh vực khoa học bao gồm những Lưu Lệ Hằng, Trịnh Xuân Thuận, Dương Ngọc Ánh, Ngô Bảo Châu, Nguyền Thục Quyên . . . lại không tăng thêm sự tự tin vào năng lực trí tuệ của chúng ta chút nào chăng?

Đã đến lúc chúng ta phải dứt bỏ hẳn lối suy tư "thuật nhi bất tác" của Khổng Tử. Sao chép cũng nên vừa phải thôi để có thể tập trung thời gian và trí tuệ vào sự nghiệp sáng tạo những cái Mới, hoàn toàn Mới, nhằm đọ sức cùng nhân loại và xứng đáng với Tổ tiên Lạc Việt.

Tất nhiên, dù tự hào là một dân tộc sáng tạo ra Kinh Dịch, sử dụng khá thành thạo Kinh Dịch, và không chịu khuất phục bất kỳ đại cường hoặc siêu cường nào, ta cũng không nên tự túc, tự mãn với quá khứ mà cần khẩn trương khắc phục mọi nhược điểm của dân tộc, ra sức đẩy mạnh sự nghiệp nghiên cứu khoa học tiến thêm những bước mới, góp phần phát triển Đât Nước trong thế kỷ XXI, xứng đáng với Tổ tiên Lạc Việt đã sáng tạo ra nền Văn minh Lúa Nước từ hơn 5000 ngàn năm nay.


TP.HCM, 9 tháng 3 Mậu Tuất (25/3/2018)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 19.4.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004