Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







MỤC ĐÍCH CỦA ĐẠO PHẬT




C àng cách xa thời điểm Đức Thích Ca lập Đạo. Càng xa rời những lời hướng dẫn của Chư Tổ thì Đạo Phật càng mở rộng bao nhiêu lại càng khác với mục đích ban đầu của Đức Thích Ca bấy nhiêu. Thật vậy, dù kinh sách người xưa để lại nhiều đến nỗi được gọi là “Thiên Kinh vạn quyển”, nhưng không phải tác giả nào cũng diễn giải đúng với Đạo Phật chân chính. Nhất là từ khi Đạo Phật phân chia ra thành Hai Thừa: Đại Thừa và Tiểu Thừa hay Phật Giáo Nguyên Thủy, thì mỗi bên đã có cách giảng dạy Đạo Phật khác nhau. Kết quả cũng không giống nhau. Thời Tổ Đạt Ma đã có những Tông đầu tiên đó là: Hữu Tướng Tông, Vô Tướng Tông, Định Huệ Tông, Giới Hạnh Tông, Vô Đắc Tông, và Tịch Tịnh Tông. Tổ thấy thương họ bị tà kiến, nên đích thân đến đấu lý với từng Tông, giúp họ bỏ đi sai lầm. Đệ Tử nhiều đời sau của Lục Tổ Huệ Năng cũng lập ra Ngũ Phái chuyên tu Thiền gọi là THIỀN TÔNG gồm: VÂN MÔN TÔNG, PHÁP NHÃN TÔNG, TÀO ĐỘNG TÔNG, QUY NGƯỠNG TÔNG và LÂM TẾ TÔNG. Những Tông này chuyên dùng Công Án để tu tập. Khi thấy được ý nghĩa của Công Án thì cho là Chứng Đắc.

Đạo Phật từ buổi đầu như biển lớn, bao gồm tất cả các Pháp, nhưng các đệ tử đã tách ra nên từ đó kể như đi lần vào sông rạch, bởi mỗi Tông, mỗi Phái chỉ lấy một hay vài Pháp trong Đạo Phật để khai triển, nên không còn giống Đạo Phật buổi đầu nữa.

Một thí dụ cụ thể mà ai cũng biết đó là Thiền Tông. Họ thấy rằng Đức Thích Ca đắc Đạo nhờ Thiền. Thế là họ bỏ hết các việc khác, chỉ tập trung thực hành môn Thiền mà thôi. Nhưng do không biết Đức Thích Ca đã NGỒI THIỀN như thế nào mà đắc đạo, nên họ ra Công Án hay một Thoại Đầu cho đệ tử Tham. Mỗi đệ tử nhận một Công Án. Khi khám phá ra được Công Án đó thì cho là chứng Đắc! Các Thiền Sinh đã bỏ ăn, bỏ ngủ để Tham. Nhiều Thiền Sinh loay hoay mãi mà chẳng thấy gì. Đến nỗi chỉ mỗi chữ VÔ thôi, mà Ngài VÔ MÔN phải mất đến 6 năm để Tham. Nhưng kết quả cũng chỉ là đọc bài Kệ 4 câu. Mỗi câu là 5 chữ VÔ, nghĩa lý chẳng ra làm sao. Vậy mà cũng được cho là Chứng Đắc! Thấy chữ VÔ mà cho là Thấy Tánh! Mục đích của Đạo Phật là Thoát Sinh Tử, Thoát Khổ, mà cho Tham những Công Án: “Ai niệm Nam Mô A Di Đà Phật”, “Tiếng vỗ của một bàn tay”, “Cô Thanh lìa hồn, cô nào là thật”, chẳng liên quan gì đến Thoát Sinh Tử, vậy thì làm sao Chứng Đắc? Không những thế, Nhà Thiền còn cho rằng cái mà họ Chứng Đắc, còn cao hơn cả Phật nên sau đó người được cho là Chứng Đắc đâm ra ngạo mạn!

Đọc Vô Môn Quan là tập mà Ngài Vô Môn gom lại những Công Án thời đó ta thấy có Công Án của Ngài Pháp Diễn: “Thích Ca, Di Lặc còn là tôi đòi của những kẻ ấy”! Cho thấy giới Tu Thiền ngạo mạn đến cỡ nào. Cái ngạo mạn đó làm cho người tự cho là Chứng Đắc trở thành ngông cuồng, lập dị. Người đời bị coi thường, bị gán cho là “phàm phu tục tử” mà còn biết rằng “Không thầy đố mầy làm nên” hay “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, tức là ngay cả chỉ hiểu được một chữ hay nửa chữ cũng là nhờ công ơn của người Thầy. Vậy mà nhà Thiền lại hạ các vị Thầy như Thích Ca, Di Lặc xuống thành hàng tôi đòi cho họ! Có người hỏi thế nào là Phật thì Ngài Vân Môn trả lời là “Que cứt khô”! Học trò ông thì trả lời là: “Ba cân mè”! Giá trị của Phật đối với họ chỉ có thế thôi sao? Có vị còn cho rằng “Nói đến chữ Phật phải súc miệng ba ngày”! Quả là trình độ lộng ngôn đã đến mức hết thuốc chữa! Khinh người là đã có tội rồi. Báng Phật, nhạo Pháp thì tội để đâu cho hết? Vậy mà Thiền Tông hiện nay vẫn dùng tài liệu này để đào tạo Thiền Sinh! Họ tu xong sẽ ra sao?

Do Nhà Thiền không có người thật sự Chứng Đắc nên không biết rằng tu Phật đâu phải để Chứng Đắc? Sự Chứng Đắc nếu là phần Lý thì chỉ là đánh dấu sự hiểu biết về vấn đề mà họ đang cần tìm hiểu. Sau đó phải chuyển ra thực hành, gọi là SỰ. Lý Sự song hành thì mới đúng là người đang tu tập. Chỉ có cái Thấy Tánh mới là cái Chứng Đắc quan trọng của người tu. Nói lên được là họ đã tìm gặp cái TA THẬT của họ. Cái mà bất cứ người tu Phật nào cũng phải Thấy, thì mới có thể Thoát Sinh Tử, Khổ đau. Nhưng người tu Phật không dừng ở đó. Còn phải “Đắc cái vô Đắc”, “Chứng cái vô Chứng”, có nghĩa là người Đắc, Chứng phải không thấy CÓ MÌNH ĐẮC, MÌNH CHỨNG. Nếu còn thấy Có Mình Chứng, Mình Đắc, là đi một vòng rồi trở lại phàm phu, còn nguy hiểm hơn phàm phu trước kia, vì có câu: “Phàm phu còn có tâm quay về, mà Thinh Văn thì không”, để nói về người chưa biết gì thì còn muốn học hỏi. Ngược lại, người đã học một thời gian, biết được một số vấn đề nào đó, chưa biết đúng hay sai, nhưng thường chấp vào sự hiểu biết của mình, khó ai nói cho họ nghe để quay lại được!

Biện minh cho lý do có môn “Đả Thiền”, Nhà Thiền thấy Kinh viết rằng lúc Lục Tổ thông báo nhập diệt thì Thần Hội vẫn giữ được thần thái an nhiên thì cho rằng nhờ ba gậy của Lục Tổ mà Thần Hội THẤY TÁNH. Họ quên rằng sau khi lãnh ba gậy đó, Thần Hội có Thấy Tánh ngay đâu, Ngài còn theo hầu Tổ suốt mười mấy năm, học, hành bao nhiêu thứ, nên khi gặp chuyện mới giữ được thần thái như thế! Có Phái suốt một hay nhiều Thất, Thiền Sinh ngủ gục là bị đánh, bị quật cả thiết bảng lên đầu, lên vai, gọi là “Đả Thất”. Nhưng qua bao nhiêu thời kỳ, môn “đả Thiền, đả Thất” có cho ra được một Thiền Sư nào đâu?

Trong khi người tu theo Đạo Phật chân chính phải qua nhiều giai đoạn hành trì. Trước hết là phải giữ Giới. Phải hành theo Bát Chánh Đạo. Phải tập làm nhiều Hạnh. Phải Xả chấp v.v… Người tu học có đến Lục Độ để làm, gồm: Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Trí Huệ. Phải điều phục các Căn. Phải thấy Chúng Sinh để cứu độ. Phải “Độ” cho hết Chúng Sinh thì mới đạt được mục đích chân chính của Đạo Phật là Thoát Khổ, Thoát Sinh Tử hay Thành Phật.

Thiền chỉ là Một trong Sáu công việc gọi là Lục Độ. Mục đích của việc Ngồi Thiền là tập trung tư tưởng để Soi, Quán, tìm hiểu một pháp nào trong Đạo. Sự hiểu biết đó gọi là Trí Huệ. Có Trí Huệ rồi thì theo sự hướng dẫn đó mà tu hành. Vậy mà Thiền Sinh chỉ hành có mỗi môn Thiền, không cần học hỏi gì thêm. Thấy chút gì đó đã cho là Chứng Đắc!

Đọc tài liệu tu tập của Thiền Tông, ta thấy Phương tiện hướng dẫn của Thiền Sư thời xưa rất là đơn giản. Đệ tử không phải Giữ Giới, không cần Quán Sát, Tư Duy, cũng chẳng cần biết thế nào là Sinh tử Luân hồi, Phiền não, Khổ đau. Họ chỉ cần khai một Công Án nào đó mà thôi. Người thầy thì chẳng cần giảng nói, chỉ “Đưa ngón tay lên”. “Hét”. “Đánh”. “Quăng phất trần”. “Sập cửa cho gãy chân”. “Cầm phất trần đưa lên đưa xuống”… Vậy mà nhiều người, trong đó có Thiền Sư Suzuki ca tụng hết lời, cho đó là “Chỉ thẳng”. Nếu thật sự những phương pháp “chỉ thẳng” đó có thể đưa người học đến Giác Ngộ thì Thiền Sư Suzuki đâu có viết đến mấy quyển Thiền Luận dày cộp nhưng tự nói: “Dầu có đem hết tâm trí ra mà nghiền ngẫm thiên cảo luận này vẫn không khỏi hoang mang về đại nghĩa của Thiền Pháp”. Và chính Ngài tự đánh giá: “Tôi mong đem đến bạn đọc một ý niệm dầu rất mơ hồ về đạo Thiền theo như tinh thần đã được truyền tại Viễn Đông trên ngàn năm”!

Viết hàng mấy ngàn trang luận về Thiền để rồi tự nhận là chỉ “đem đến một ý niệm dầu rất mơ hồ cho người đọc”! Rõ ràng chính Ngài cũng tự biết là bản thân không thể diễn tả về Thiền cho rõ ràng, cho đúng nghĩa, mà chỉ đưa ra một ý niệm mơ hồ! Vậy thì người nghiền ngẫm, tham khảo mấy quyển Thiền Luận của Ngài sẽ hiểu được gì? Hay càng đọc càng mờ mịt, mơ hồ thêm thôi? Thiền Sư mà chẳng giải thích được thế nào là Thiền, cũng không đưa người đọc đến thực hành đúng để có kết quả của Thiền! Vậy thì chúng ta nghĩ sao về hai từ Thiền Sư mà mọi người gán cho Ngài?

Chính vì không có giáo pháp để truyền lại, nên lớp con cháu không có gì để học, mà lần hồi các môn phái Thiền tự đi vào diệt vong. Ngài Nguyệt Khê sau khi khảo sát về các môn phái Thiền Tông đã đưa ra kết luận: “Pháp Nhãn Tông truyền sang Cao Ly. Vân Môn và Quy Ngưỡng Tông đã thất truyền từ lâu. Chỉ còn hai phái Lâm Tế và Tào Động, nhưng con cháu các Phái Thiền này chỉ ghi trên Pháp Quyển là Thiền Sư đời thứ mấy, khi hỏi về gia phong tông chỉ thì ngơ ngác không thể trả lời”! Người dạy Thiền về sau này cũng mang danh hiệu Thiền Sư, nhưng không hướng dẫn Thiền Sinh cách thức như trong Kinh ghi lại, mà sáng tạo ra nhiều kiểu Thiền: Thiền Nằm, Thiền Chạy, Thiền Ôm… để rồi các đệ tử cứ Ngồi Thiền mà chẳng biết phải làm gì trong thời gian đó, nên họ hoặc “ngồi một cục” - mà Kinh Duy Ma Cật gọi là “Ngồi sửng ở đó” - đưa đến các hiện tượng hoặc hôn trầm, hoặc nghĩ vu vơ, hoặc thả hồn rong chơi các cõi, hoặc xuất hồn, không làm sao đạt được sự Chứng Đắc như Đức Thích Ca đã đạt được.

Ngược dòng thời gian để kiểm chứng lại thì chúng ta dễ dàng nhận thấy để so sánh lý do Ngồi Thiền hiện nay với lý do Ngồi Thiền của Đức Thích Ca. Đức Thích Ca Ngồi Thiền có mục đích hết sức rõ ràng: Tìm nguyên nhân đã gây ra cảnh Sinh, Lão, Bệnh, Tử đã đè nặng lên tấm thân của con người. Do đó, Ngài không ngồi ỳ một cục, thân tâm đều tĩnh lặng, mà Ngài đã THIỀN QUÁN, tức là dùng thời gian NGỒI, trói tay chân, mắt khép hờ, để tập trung tư tưởng tìm cho ra câu trả lời vấn đề mình đang bức xúc. Giờ chót, cuối đêm thứ 49, Ngài đã gặp được. Kết quả đó gọi là “Đắc Đạo”, tức là Gặp được con đường mình cần tìm. Sử sách chép lại, ngay sau khi Xả Thiền, Ngài đã đứng dậy hân hoan tuyên bố: “Ta lang thang trong vòng Luân hồi. Tìm mãi mà không gặp Kẻ làm nhà. Hỡi Kẻ làm nhà. Từ đây ta đã gặp được người rồi. Người không được làm nhà nữa. Bao nhiêu cột kèo của ngươi đã gãy vụn, rui mè của ngươi đã tan nát cả rồi. Tâm trí ta đã đạt được Vô Thượng Niết Bàn, Ta đã hoàn toàn Giải Thoát”.

Qua lời tuyên bố đó, ta thấy rằng Đức Thích Ca đã dùng thời gian Ngồi Thiền để truy tìm KẺ ĐÃ LÀM RA NGÔI NHÀ SINH TỬ, và Ngài đã nhận diện được hắn. Chính vì vậy, Thiền trong Đạo Phật gọi là THIỀN QUÁN, có nghĩa là người Ngồi Thiền dùng thời gian đó để Quán tưởng, tư duy về Pháp nào đó trong Đạo để sinh sự hiểu biết gọi là Trí Huệ, không phải ngồi ỳ ra đó, chờ hết giờ là Xả, giống như người nhen củi lửa rồi bỏ cho cháy khơi khơi, chẳng nấu ra được món gì! Đó là lý do mà ta thấy từ rất nhiều năm qua, Thiền nở rộ khắp nơi, Chùa nào cũng có những lớp dạy Ngồi Thiền mà chẳng thấy có ai đắc đạo!

Cũng giống như việc học ở đời. Người Thầy phải tốt nghiệp thì mới đào tạo cho lớp sau cũng tốt nghiệp. Thầy còn chưa Đắc Thiền thì làm sao đào tạo đệ tử Đắc Thiền? Việc tu hành cũng giống như tạc một pho tượng, nếu chỉ tạc một bộ phận nào đó thì làm sao có được một pho tượng hoàn chỉnh? Thiền chỉ là một trong nhiều phương tiện của Đạo Phật, mục đích để tập trung mà tìm hiểu một vấn đề nào đó trong Đạo, cần có sự hỗ trợ của những Pháp khác, không thể đang loạn động mà Ngồi Thiền thì Định được ngay. Hơn nữa, Tu Phật có 4 giai đoạn: KHAI, THỊ, NGỘ, NHẬP. Kết quả của Thiền chỉ là giai đoạn Thị hay Ngộ, còn cần phải hành dụng để Nhập nữa, nhưng nhà Thiền dừng ở Thị hay Ngộ thì đâu có giống với Thiền của Đức Thích Ca và Chư Tổ hướng dẫn?

Bàn về mục đích Ngồi Thiền của Đức Thích Ca và những người từ sau đến hiện đời, ta thấy: Thủ phạm gây ra Sinh Tử Luân Hồi đã được Đức Thích Ca nhận diện, đã bị bắt về quy án, thì chúng ta còn Ngồi nhắm mắt nhắm mũi để tìm thứ gì? Do đó, công việc của người thời sau chúng ta cũng là Thiền, cũng là Định, nhưng là tập trung để tìm hiểu xem những gì Đức Thích Ca hay Đạo Phật nêu ra có hợp lý đối với ta hay không? Nếu thấy hợp lý thì áp dụng vào cuộc sống để được Thoát Khổ như mục đích mà Đạo Phật đề ra. Chư Tổ, Chư Vị Giác Ngộ là người đi trước, đã cắm mốc, đã hướng dẫn cặn kẽ trong những Bộ Chính Kinh, ta có thể nương theo đó để dò xem mình có đi đúng hướng hay không? Thí dụ ai cũng nói là Tu Phật là phải Tu Tâm, thì ta có biết cái Tâm mà Đạo Phật nói là gì chưa? Ở đâu? Làm sao để Thấy nó? Thấy nó rồi thì Tu nó như thế nào? Nếu ta hành trì kiểu gì khác, mà không từng biết đến Cái Tâm thì chừng nào mới tu cho thành công?

Người chưa từng vào rừng làm sao biết lối? Rừng Phật Pháp cũng thế. Cần người đã thông thạo hướng dẫn, bởi ngoài Chữ còn có Nghĩa, mà kinh Đại Bát Niết Bàn dặn dò là “Y NGHĨA BẤT Y NGỮ”, nếu không có người đi trước hướng dẫn e rằng chúng ta khó hiểu được lời Phật dạy. Các vị Giác Ngộ có xuất hiện thì chúng ta cũng không thể nhận ra. Do đó, tốt nhất là từ cái hiểu, cái hành đều phải rà soát, phải kiểm tra lại với Chính Kinh, coi có khế hợp hay không, nếu không muốn tu hành mà không đạt kết quả. Những người chống đối hay chê Kinh Đại Thừa không đọc thì chẳng những tự cản trở bước tiến của họ, mà còn không tuân theo Di Ngôn của người khai sáng ra Đạo Phật, bởi chẳng phải khi Truyền Y Bát cho Ngài Ca Diếp, Đức Thích Ca có dặn là “việc này phải tiếp tục mãi để Đạo Phật được trường tồn”? Lý do nào Phật Giáo Nguyên Thủy chỉ nhìn nhận Tổ Ca Diếp và Tổ A Nan, trong khi có đến 33 vị?

Có nghiên cứu mới thấy chính vì việc tranh giành Y Bát của người thời đó đã làm hại biết bao nhiêu thế hệ về sau, bởi vì không có Y Bát để làm Tin, nên mạnh ai nấy giảng Đạo, Phật Tử làm sao đủ khả năng để phân biệt Chánh, Tà? Đâu biết ai giảng đúng Chánh Pháp hay không? Bởi đâu phải Vị nào tu lâu năm, đạo mạo, nghiêm trang, giữ tròn Giới, giảng Pháp thao thao đã là người Chứng Đắc? Không Chứng Đắc, không Thấy Tánh mà giảng dạy thì Tổ Đạt Ma gọi đó là “Ma nói”, vì dắt những người tin theo đi vào tà pháp. Ngay cả Chánh, Tà, nếu người tu còn chưa minh định thì biết mình đang ở bên nào? Đang hành sai hay đúng? Kết quả về đâu?

Cho nên, theo tôi, nếu người Phật Tử không muốn bị dắt đi sai lạc thì tự mỗi người phải tìm hiểu tất cả các Pháp mới có thể nắm vững đường lối tu hành. Lục Tổ Huệ Năng dạy: “Tất cả Sự, Lý phải hiểu đến tận chỗ chân”, kể cả những việc được xem là trái thường: Tại sao Tổ thứ Ba lại Truyền Y Bát cho một chàng thanh niên mới có 20 tuổi, mới Xuất Gia được có 3 năm mà không Truyền cho các vị Trưởng Lão đã tu lâu năm trong Chùa? Tại sao Ngũ Tổ không Truyền Y Bát cho Sư Thần Tú là Giáo Thọ mà lại truyền cho một chàng thanh niên mới 25 tuổi, dốt nát, nhà quê, mới vào Chùa có 8 tháng, còn chưa được quy y, thế phát? Từ đó ta mới hiểu việc Chứng Đắc, Thấy Tánh quan trọng và ảnh hưởng đến việc tu hành, giảng Pháp ra sao.

Thực tế đã chứng minh các Tổ cũng không hề nhầm lẫn. Chàng thanh niên 20 tuổi được Truyền Y Bát cho làm Tổ thứ Ba đó đã làm tròn sứ mạng, giữ gìn Đạo Pháp, cầm nắm Tăng Chúng và trước khi nhập diệt đã Truyền Y Bát lại cho Tổ kế nhiệm, để Đạo Phật tiếp tục được phát huy cho đến đời Tổ thứ 33 là Lục Tổ Huệ Năng. Những Tổ về sau đúng là có sáng tạo, đã luận giải những điều trước kia được cho là bí mật, vì con người thời trước đó chưa đủ trí để hiểu biết, cũng như ngôn ngữ chưa đủ phong phú để diễn tả. Nhưng các Ngài đều đã chứng đắc, cho nên tất cả những gì các Ngài luận giải đều không sai lạc với Giáo Pháp do Đức Thích Ca giảng dạy từ buổi đầu. Không xa rời mục đích Giải Thoát khỏi Sinh Tử, Phiền Não, Khổ đau của kiếp sống.

Những người không đọc hết Kinh, chưa biết rõ mục đích của Đạo Phật, mới đọc đến giai đoạn quán sát cái Thân, thấy nó là giả tạm, cuộc đời là ô trược, phiền não, đã căm ghét cái Thân, chê cuộc đời, rồi ruồng bỏ, xa lánh thế nhân, tách riêng để không chung đụng với người đời để lên núi ẩn tu, hay vô Chùa xa lánh trần tục. Ngược lại, người hiểu đúng Chánh Pháp và nắm vững đường lối tu hành theo Đạo Phật chân chính thì quý trọng cái Thân, cảm ơn cuộc đời. Vì nhờ có cái Thân, có cuộc đời mà họ mới tu hành Giải Thoát được. Giai đoạn đầu, họ cũng phân tích cái Thân để thấy nó là Giả tạm, không thật, không bền, để tìm cái Mình Thật hay cái Chân Tánh. Khi gặp được cái Chân Tánh rồi, thì biết rằng nó cũng phải nương cái Thân hữu tướng để hành dụng, nên không khinh chê, vùi dập cái Thân, chỉ lấy lại vị trí của mình, không tiếp tục phục vụ cho nó, không chìu theo nó để làm những điều sai quấy, trái lại điều khiển nó, dùng nó để phục vụ cho Con Đường tu hành.

Cũng Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý... nhưng ngày trước là Lục Tặc, dắt các Pháp về làm náo loạn Thân, Tâm. Sau khi điều phục xong thì chúng lại trở thành Lục Hộ Pháp, là những tay sai đắc lực để phục vụ cho con đường tu hành, đưa đến kết quả Giải Thoát. Người tu Phật chân chính khi thành tựu cũng không thành Thánh, thành Phật, hay đi về cõi nào để an vui một mình, mà họ chỉ đi một vòng, bắt đầu từ cuộc đời, nhìn cho rõ chân tướng của cái thân, của cuộc đời để biết Phiền Não từ đâu tới rồi điều phục nó. Sau khi xả bỏ Tham, Sân, Si, Thương, Ghét, họ trở lại với cuộc đời bằng tấm lòng bao dung, bằng bốn Đức Từ, Bi, Hỉ, Xả của Phật. Bằng Hạnh Bồ Tát, xem tất cả mọi người là “những vị Phật sẽ thành”, để kính trọng, nâng đỡ nhau, giúp nhau vượt qua khó khăn trong cuộc sống tạm, cùng với Chư Vị Giác Ngộ tát cạn Bể Khổ, để trần gian không còn là vực nước mắt, mà tất cả mọi người đều được sống trong phiền não mà không bị phiền não nhiễu hại, được hạnh phúc, an vui cho đến hết kiếp, như hình ảnh HOA SEN. Đó là lý do mà đạo Phật dùng Hoa Sen làm biểu tượng.

Thật ra thì cảnh trần vốn đẹp bởi thiên nhiên sẵn bày, với hoa cỏ xanh tốt, núi non hùng vĩ, phong cảnh hữu tình, nhưng do nhiều người tham lam, sân hận, đã tranh giành, tàn sát lẫn nhau, gây biết bao thảm cảnh, biến nó thành địa ngục. Nếu mọi người đều ý thức rõ về cuộc sống mà yêu thương, nâng đỡ nhau thì trần gian sẽ trở thành Niết Bàn, vì không còn cảnh giành giật, đấu đá, tranh chấp với nhau. Trong gia đình thì con cháu yêu thương, tôn kính, giúp đỡ ông bà cha mẹ. Ngoài xã hội thì mọi người không còn lường gạt nhau, không còn cảnh bóc lột, hà hiếp nhau, trái lại yêu thương, giúp đỡ nhau. Người nào việc ấy, cùng chung tay góp sức cho xã hội được giàu mạnh, ấm no. Mỗi người hành xử theo Luật Nhân Quả, không còn mê tín dị đoan, cúng sao giải hạn. Không còn cầu An, cầu Siêu, cầu bớt rủi, thêm may. Không trách móc thần thánh khi gặp chuyện xấu, vì biết đó là Nhân Quả trả lại cho mình, không ai có quyền thêm bớt. Không chỉ là con người đối tốt với nhau. Những sinh vật sống chung quanh cũng không còn bị tàn sát vô tội vạ.

Nếu mọi người thật sự hiểu rõ ý nghĩa của cuộc sống, giá trị của kiếp sống thì hẳn trái đất đầy tình yêu thương, không còn tiếng than khóc, không còn cảnh khổ vì chiến tranh, vì đói nghèo, vì bị áp bức. Cây cỏ xanh tươi, thái bình, an vui khắp chốn. Ngay cả sự chia lìa với người thân thì cũng biết đó là hết Duyên, hết Nghiệp, không có gì phải tiếc nuối khóc than, vì biết rằng “các Pháp hữu tướng là hư vọng”. Hợp tan là điều sớm muộn phải đến. Biết cái Thân này không phải là Mình, chỉ là cái Thân ứng hiện để cho Nhân Quả trả vay, nên khi Thân già cỗi hết Duyên mà ra đi thì cũng biết như mùa Đông cây thay lá úa để cho mầm xanh mới vươn lên. Sự sống vẫn tiếp tục qua hình thức khác, vì Chân Tánh của chúng ta là Bất Sinh, Bất Diệt. Biết cuộc đời là Vô Thường, nên khi còn sống bên nhau thì đối xử với nhau hết tình, để khi chia tay không hối tiếc. Một gia đình êm ấm, vợ chồng cùng yêu thương nhau, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, chăm lo giáo dục cho con cái. Đó là hạnh phúc của lứa đôi, mọi người cần nâng niu giữ gìn. Với ông bà, cha mẹ, bạn bè khi còn bên cạnh nhau chúng ta cũng đối xử hết lòng, thì có gì đau khổ khi phải chia lìa, bởi biết đó là điều đương nhiên phải xảy ra, không sớm thì muộn?

Khắp nơi an lạc hạnh phúc, cuộc đời tràn ngập những niềm vui. Đó mới là mục đích của Đạo Phật theo đúng Chánh Pháp. Không phải để tô đắp, dát vàng cho Tượng, xây Chùa ngày càng hoành tráng để tôn vinh Phật. Cũng không phài xa lìa trần gian, sống biệt lập với thế nhân, không tham gia việc đời để rảnh rang mà tu hành.

Phật dạy người tu xong phải đền TỨ ÂN, đâu có kêu ta bỏ cha mẹ, bỏ đời, không tham gia việc đời? Ngài dạy người tu phải LY GIA, CẮT ÁI, XA RỜI QUYẾN THUỘC trong ý nghĩa: “Ly Gia” là Rời khỏi Nhà lửa Tam Giới, là Tham, Sân, Si. “Rời bỏ cha mẹ” là bỏ đi Vô Minh và Tham Ái, vì từ bao đời chúng sai sử mỗi chúng ta như cha mẹ sai con. “Cắt Ái” là cắt đi ái luyến với cái Thân và những thứ yêu thích. “Xa rời quyến thuộc” có nghĩa là rời bỏ Ba Nghiệp của Thân, Khẩu, Ý, bởi vì những việc ta làm qua 3 nơi này mới thật sự là quyến thuộc của ta, chính vì hành vi của ba nơi đó mà ta được phước hay phải đọa. Do đó, nếu ta cứ Y NGỮ mà làm, mà không hành theo NGHĨA nói trên thì chẳng bao giờ tu hành thành công.

Cuộc đời dù nói là phù du, thân này là giả tạm, nhưng cũng kéo dài cả trăm năm. Thời gian sống mỗi người chúng ta hưởng dụng biết bao nhiêu sản phẩm của cuộc đời, có nhiệm vụ phải đền đáp, đâu thể dửng dưng bên lề cuộc sống mặc mọi người xây dựng hay tàn phá? Có đọc mô tả 32 Tướng Tốt của Phật, ta sẽ thấy đó chỉ là phương tiện của Phật để mọi người sống với nhau tốt đẹp hơn, bởi mỗi Tướng được hình thành bằng cách cư xử giữa con cháu với ông bà, cha mẹ. Giữa học trò với thầy. Giữa bạn bè và mọi người chung quanh. Không hại người, trái lại giúp người. Lời nói phải trung thực. Thêm vào đó là Giới, Hạnh phải giữ tròn. Nói về người tu hành phải thanh tịnh mới đạt được Thánh vị thì chúng ta nên nhớ rằng chính Đức Thích Ca cũng có vợ con rồi mới đi tu, không phải Ngài đi tu hành từ lúc còn là thanh niên trong trắng. Ngài Chứng Đắc cũng nhờ Thiền Định, không phải nhờ vào độc thân. Thật vậy, ai mà không phải phiền não? Có gia đình có cái phiền não của người có gia đình. Độc thân có cái phiền não của cảnh độc thân. Hoàn cảnh nào mà không cần giải thoát? Người độc thân làm một số việc nào đó mà thành thánh vị thì lẽ nào người có gia đình cũng làm bao nhiêu việc đó mà kết quả lại khác? Nhưng thật ra không nên quan trọng hóa quả vị, vì đó chỉ là “Hóa thành dụ” mà thôi, không phải là mục đích của việc tu hành.

Đạo Phật được đặt ra là vì con người, cho tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác, giới tính, dân tộc, trình độ, trong Chùa hay ngoài Chùa. Nếu có người cố tình diễn giải sai khác, chính là người làm cho Đạo Phật bị giới hạn, không phổ cập cho đại chúng được. Đạo Phật ra đời cách đây đã gần 3.000 năm. Có nhiều điều đã bị hiểu sai do bị ảnh hưởng của lớp người đi trước truyền lại, cần chấn chỉnh cho hợp tình, hợp lý:

1. Phật dạy: “Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành”, đâu có phân biệt Tu Sĩ hay Cư Sĩ. Cùng là tu hành với nhau, tại sao Giới Tu Sĩ thì được quyền ăn trên, ngồi trước, không phải lo âu gì đến cuộc sống, được an tâm, nhàn thân mà tu tập trong khi Giới Cư Sĩ vừa lo tu tập, vừa phải gánh vác gia đình, vợ con, lại phải cung dưỡng mọi thứ cho Tu Sĩ, trong khi ai cũng biết là “Ông tu, ông đắc, Bà tu, bà đắc”?

2. Nói về Cúng Dường thì mọi người đều biết, bản tính con người vốn tham lam, không bao giờ cho ai thứ gì mà không mong nhận lại nhiều hơn. Do mọi người được nghe xưng tán Phật là Thần Linh, có quyền cứu độ Tam Thiên Đại Thiên thế giới, nên họ cúng Chùa, cúng Phật cũng với lòng tin tưởng, cầu mong được ban ơn, giáng phúc. Họ nghĩ rằng các tu sĩ do tu hành, thanh tịnh sẽ chuyển lời cầu xin của họ đến Phật để Phật sẽ giáng phúc, bớt rủi, thêm may cho gia đình họ, bản thân họ. Trong khi đó, Giáo Pháp của cả Đại Thừa và Phật Giáo Nguyên Thủy cũng đều cho rằng Phật “cũng là người bình thường như tất cả mọi người, nhờ tu hành đoạn trừ lậu hoặc mà đắc pháp”. Ngài không có thần thông, phép mầu, không thể cứu độ cho mọi người. Như vậy, liệu những đồng tiền mồ hôi, lao động, tích góp của thí chủ mà họ bớt phần để cúng cho người tu do hiểu lầm về Phật, về người tu, thì có thể gọi là “tịnh tài” được không? Phật không phải là Thần Linh thì những người khuyến khích bá tánh Cầu An, Cầu Siêu nghĩ sao?

3. Đức Thích Ca chỉ để lại những gì Ngài đã hiểu, đã thực hành gọi là Giáo Pháp để người nào chấp nhận, hành theo thì sẽ hết Khổ, gọi là Tự Độ mà thôi. Vậy thì chủ trương xây Chùa cho hoành tráng, đúc tượng cho to lớn, tốn kém biết bao nhiêu tiền của của người đời để tôn thờ và cầu xin Ngài phù hộ thì có đúng với Đạo Phật chân chánh hay không?

4. Một điều rất quan trọng nữa, là đất nước bất cứ thời nào cũng cần rất nhiều nguồn nhân lực để dựng xây, phát triển, nhưng do hiểu lầm về Phật, về con đường tu hành theo Phật, nên một số tu sĩ thời xa xưa, không những bản thân xa lánh cuộc đời mà còn thuyết phục nhiều người đang sức trẻ, có học, có tay nghề cao, bỏ đời, kéo nhau vô Chùa chỉ để tụng Kinh, Niệm Phật, chờ về Tây Phương Cực Lạc, trong khi Tây Phương Cực Lạc mà Phật diễn tả chỉ là cảnh giới thanh tịnh của Tự Tâm mỗi người sau khi dẹp hết Phiền não, Tham Sân Si, không phải ở bên ngoài!


Mong rằng những vị có trách nhiệm hướng dẫn Đạo Phật cho bá tánh cần xem kỹ lại những gì mình đã phổ biến để ngừng kịp lúc những gì không đúng Chánh Pháp. Nếu không, không những có tội với Đạo Phật mà còn có lỗi với cuộc đời, với những người tin theo mình. Bởi bao nhiêu đời qua, phải chăng chính vì cứ tưởng Phật là Thần Linh, đi tu là để phụng sự cho Phật, tu sĩ thanh tịnh có thể cầu xin Phật ban ơn cho cha mẹ, cho đất nước, cho quốc thái, dân an, nên biết bao người đã bỏ cha mẹ, gia đình, bỏ đời, để đi tu hành để rồi chẳng những không thành Phật, thành Thánh, mà cũng không cầu xin được ơn thiêng nào của Phật, vì Phật hoàn toàn không có khả năng đó. Thế rồi cuộc đời qua đi mà không thực hiện được trách nhiệm làm con với cha mẹ, làm một người công dân của đất nước, lại thêm mang nợ áo, cơm đối với bá tánh đã cung dưỡng cho mình!

Phần người Phật Tử, theo tôi, đến thời này rồi, mọi người không thể thờ ơ, giao khoán việc đọc và giảng lời Phật trong Kinh sách cho tu sĩ, vì nhìn lại thực tế đã thấy có quá nhiều điều được phổ biến không khế hợp với Kinh sách. Bao thế hệ qua đã biến công việc Tu Phật trở thành Thờ Phật. Biến Đệ Tử Phật, tức là Con, Em của Phật, thay vì “con phải nối nghiệp cha” là phải Thành Phật, lại trở thành những “Gã Cùng Tử”, hàng ngày cứ hương khói cầu xin Cha ban cho. Hết xin phù hộ cho mình được mạnh khỏe, chồng được thăng quan, tiến chức, vợ làm ăn phát tài, con cái thi đâu đậu đó, bệnh hoạn thì gặp thầy, gặp thuốc… quên rằng bản thân Phật cũng đã bệnh, đã chết, đã trà tỳ. Con ruột của Phật, Chư Đại đệ Tử đắc pháp bao nhiêu đời qua cũng đã chết! Phật dạy: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” thì chùa chiền ngày càng cất đồ sộ hơn, hoành tráng hơn. Kinh Kim Cang viết: “Nếu dùng sắc để thấy ta. Dùng âm thanh để cầu ta. Đó là kẻ hành tà đạo” thì Tượng ngày một to hơn, Chùa chiền lúc nào cũng nghi ngút khói hương, suốt ngày tiếng cầu Kinh không dứt! Con Đường Giải Thoát không còn ai quan tâm đến. Đành rằng lỗi đó do người đi trước nhiều đời đã hiểu sai rồi truyền lại! Nhưng chúng ta không thể đổ thừa “Xưa bày, nay làm”, vì Phật đã dặn dò mỗi người “phải tự thắp đuốc lên mà đi”, đâu có kêu ta nương đuốc của người khác? Do đó, theo tôi, muộn còn hơn không. Chúng ta nên nhìn lại những gì mình đã và đang làm, so với mục đích của Đạo Phật, nếu không thấy đưa đến kết quả Giải Thoát thì nên chỉnh đốn lại để khỏi phí đi một kiếp Nhân Thân Nan Đắc, vì mỗi chúng ta tự chịu trách nhiệm cho hành động của mình, không thể đổ cho ai hết vậy.


Tháng 2/2018



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 09.4.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004