Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



LÃNG DU TRONG

TRIẾT HỌC HY LẠP




P eriandros (627-586 tr. CN) là con trai, đồng thời là người kế vị cha mình. Năm 627, Periandros trở thành quan chấp chính ở thành bang Korinth. Dưới sự trị vì của Periandros , kinh tế, văn hóa, nông nghiệp, thợ thủ công, ngành gốm phát triển thông qua việc Cấm trốn khỏi quê hương thông qua việc chia ruộng của địa chủ cho nông dân nghèo, thông qua việc Cấm buôn bán nô lệ, việc thúc đẩy buôn bán Đông-Tây v.v… Periandros là một trong bảy nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại.


Quan niệm về cuộc sống


Có người đặt một loạt câu hỏi để Periandros trả lời:

- Tự do là gì?

- Lương tâm trong sạch

- Cái gì là tuyệt vời?

- Bình thản là tuyệt vời.

Periandros luôn tự nhủ:

- Hãy có chừng mực khi hạnh phúc, hãy tỉnh táo khi bất hạnh.

Ông quan niệm:

- Khoái cảm là nhất thời, danh dự là bất tử.

Về thời thượng cổ Hy Lạp chúng ta biết rất ít, vì không có sử liệu nào đáng tin cậy cho ta biết chính xác ngày sinh, ngày mất của bảy nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại, nên số liệu ở đây chỉ mang tính ước lệ. Pittakos (666-586 tr. CN) sinh ở Mytilene- thủ phủ đảo Lesbos- một trong những đô thị sầm uất của Hy Lạp thời thượng cổ. Năm 620, Pittakos được bầu làm quan chấp chính để giải quyết cuộc chiến giữa quý tộc thượng lưu thống trị và dân chúng. Xong việc, ông tiự nguyện rút khỏi chính trường, sống lưu vong. Ông là một trong bảy nhà hiền triết của Hy Lạp cổ đại.


Những suy tư của nhà hiền triết Pittakos


Là người từng trải, Pittakos rút ra từ cuộc sống kết luận:

- Con người khó trở nên tốt đẹp!

Ông quan sát thấy:

- Mỗi người có nỗi bất hạnh riêng của mình.

Vì vậy nên ứng xử:

- Tha thứ tốt hơn là trả thù.

Ông khuyên:

- Hãy tính toán cẩn thận thời gian, vì mọi thứ đều có thời.


Solon (640-560 tr. CN) là nhà lập pháp, nhà thơ của thành bang Athen. Năm 594, Solon được bầu làm người đứng ra hòa giải giữa tầng lớp quý tộc và dân chúng, đồng thời được bầu làm quan chấp chính với những quyền hành đặc biệt để lập lại trật tự ở thành bang Athen. Solon đã khôn khéo giải quyết những vấn đề xã hội bằng miễn nợ, bỏ câu thúc thân thể, ân xá chính trị v.v… Những cải cách xã hội và chính trị rộng lớn của Solon có tính chất quyết định tới sự phát triển của Athen: ban hành quyền sở hữu đất đai và quyền thừa kế kích thích kinh tế phát triển; quyền bầu cử và quyền bình đẳng; thành lập Hội đồng đô thị, Hội đồng nhân dân, lập Tòa án nhân dântạo nên thời kỳ đầu tiên của nền dân chủ ở Athen. Chính sách của Solon được người kế nhiệm Pisistrate tôn trọng, tiếp tục thi hành. Thơ của Solon là triết lý về đạo đức và chính trị. Solon là một trong bảy nhà hiền triết của Hy Lạp cổ đại.


Luôn trầm tĩnh, sáng suốt


Solon có nguyên tắc:

- Không bao giờ thái quá.

Solon xuất hiện trong trang phục lộng lẫy của quan chấp chính. Cerse hỏi:

- Liệu có cái gì đẹp hơn?

Solon trả lời:

- Lông của con gà trống, của con chim trĩ, của con công là do tạo hóa ban tặng, nó tự nhiên và đẹp hơn hàng nghìn lần trang phục này.

Và Solon trình bày quan điểm của mình với tư cách là quan chấp chính:

- Tôi ban tặng quyền hành cho dân chúng ở chừng mực họ cần: không tước đọat danh dự của họ, song không ban quá nhiều quyền hành. Tôi cũng quan tâm tới những kẻ giàu có và mạnh mẽ hơn mọi người, để không một ai sỉ vả họ. Tôi đứng giữa, phủ lên họ tấm lá chắn vững chắc của mình, và cấm thuyết phục người khác một cách không chính nghĩa.

Về sự giàu có, ông triết lý:

- Tôi muốn là người giàu sang, nhưng không muốnchiếm hữu một cách bất lương của cải đó. Chúng ta không đổi danh dự lấy một túi tiền. Đức hạnh bao giờ cũng còn lại. Tiền bạc có rồi lại hết.

Ông kết luận:

- Không thể làm vừa ý mọi người trong công việc lớn. Đến già vẫn học được nhiều điều.

Chúng ta biết rất ít về Bias. Chỉ biết ông sống ở Priene vào thế kỷ VI trước Công nguyên. Ông là một trong bảy nhà hiền triết của Hy Lạp cổ đại.


Con người là như thế


Bias cho rằng:

- Những kẻ xấu xa nhất ở đâu cũng là đa số.

Khi dân thành bang Priene chạy lọan, họ mang theo của cải. Riêng Bias không mang theo gì cả. Có người hỏi. Ông đáp:

- Tôi đem theo mọi thứ của mình bên người.

Trả lời câu hỏi:

- Điều gì khó?

- Bình tĩnh chịu đựng tình hình công việc trở nên tồi tệ hơn.

- Điều gì làm con người khoan khoái

- Hy vọng

- Cái gì làm cho con người cảm thấy sung sướng?

- Nhận được lợi lộc.

- Ai là cố vấn tốt nhất?

- Thời gian.

Ông khuyên:

- Hãy tiết kiệm sự thông thái, vì không có của cải nào đáng tin cậy hơn.


Kleobulos là quan nhiếp chính ở Lindos – thành phố cảng nằm ở bên bờ phía đông của Rhodos. Người ta không biết năm sinh và năm mất của ông, chỉ biết rằng ông sống vào nửa đầu thế kỷ VI trước Công nguyên. Ông có sáng tác bài hát và câu đố.


Hiểu người, chế ngự mình


Nguyên tắc ứng xử của Kleobulos là:

- Hãy chế ngự khoái cảm!

Ông khuyên:

- Đừng âu yếm hay cãi nhau với vợ khi có người lạ. Âu yếm: dấu hiệu của ngu xuẩn. Cãi nhau: dấu hiệu của sự điên rồ.

Là quan nhiếp chính thành bang Lindos, Kleobulos biết, người giàu sang lúc nào cũng tiệc rượu. Người nô lệ hi hữu mới được ngồi bên bàn tiệc. Nên:

- Đừng trừng phạt kẻ nô lệ khi bị say, hãy ra lệnh uống tiếp.

Theo Kleobulos thì ở nơi quan trường nên:

- Hãy thích lắng nghe hơn là thích nói!

Từ kinh nghiệm và quan sát, ông nói:

- Người nào luôn trung dung thì người đó sẽ hạnh phúc và thanh thản trong cuộc đời.


Epicharmos (550-460 tr. CN) là nhà thơ sống ở Syrakus – thành phố nằm bên bờ phía đông Sizilien, Hy Lạp. Ông đã đưa kịch bình dân thành hài kịch. Có tới 40 hài kịch được coi là của ông, tất cả đều chưa hoàn thành, đều ở dạng bản thảo.


Lúc nào cũng bình tâm


Trong đời sống Epicharmos có nguyên tắc:

- Hãy tỉnh táo, đừng cả tin – đó là sự sáng suốt.

Ông cho rằng:

- Nếu tinh thần trong sạch thì thể xác cũng hoàn toàn trong sạch.

Ông khuyên, nên suy nghĩ lúc tĩnh lặng:

- Nếu tìm điều khôn ngoan, hãy suy nghĩ trong lúc ngủ.

Và:

- Không nên quyết định khi giận dữ.

Ông kết luận:

- Thượng đế bán cho chúng ta mọi của cải bằng cái giá lao động.

Chúng ta không biết chính xác năm sinh, năm mất của Heraclitus, chỉ biết ông sống khoảng năm 500 trước Công nguyên ở Euphesus. Trong khi các triết gia thời kỳ đầu (còn gọi là các triết gia tiền Socrates) tập trung vào việc mô tả chất liệu cơ bản tạo nên mọi sự vật thì Heraclitus lại quan tâm tới vấn đề biến đổi. Theo Heraclitus, biến đổi là sự thống nhất trong đa dạng. Trong khi Thales lấy nước, Anaximenes lấy khí thì Heraclitus lấy lửa và coi lửa là nguyên tố cơ bản trong sự vật. Lửa luôn luôn phải được nuôi dưỡng, nhưng đồng thời nó không ngừng cho đi một cái gì, hoặc dưới dạng nhiệt, khói hay tro. Tư tưởng của Heraclitus được “tái khám phá” do những chú giải của Heidegger.


Chỉ là thay ngôi, đổi vị trí


Theo Heaclitus, cái được đưa vào để nuôi lửa sẽ biến đổi thành một cái gì khác. Heraclitus cho rằng mọi vật là một dòng chảy liên tục, vũ trụ là một ngọn “Lửa-sống-vĩnh-hằng”. Ông nói:

- Mọi vật là sự trao đổi lấy lửa và lửa là một sự trao đổi để lấy mọi vật, giống như trao đổi hàng hóa lấy vàng và trao đổi vàng lấy hàng hóa.

Qua đó, Heraclitus muốn nhấn mạnh rằng không có gì thực sự mất đi, vàng và hàng hóa vẫn tiếp tục tồn tại, mặc dù giờ đây chúng ở trong tay các chủ khác nhau. Ông bảo:

- Mọi vật chỉ là những dạng khác nhau của lửa theo những “đường đi lên và đi xuống”. Lửa sống là cái chết của đất; khí sống là cái chết của lửa. Nước sống là cái chết của khí; đất sống là cái chết của nước.

Heraclitus quan niệm:

- Lửa chính là lý trí (lý trính).


Dòng chảy


Heraclitus cho rằng:

- Mọi vật đều ở trong dòng chảy.

Ông nổi tiếng với câu:

- Bạn không thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông.

Lý do rất đơn giản: sông vẫn còn đó, nhưng nước của dòng sông đó hoàn toàn là nước mới. Heraclitus được coi là một trong những nhà hiền triết của Hy Lạp cổ đại. Mỗi khi nhắc tới sự biến đổi liên tục của mọi sự vật, người ta thường trích dẫn câu nói trên của Heraclitus


Perikles (còn viết là Pèriclés) là nhà cầm quyền nổi danh nhất của Athen thuộc cổ Hy Lạp. Đương thời có hai đảng ở Athen. Đảng Bình dân do Perikles cầm đầu, đối lập với đảng này là đảng Quý tộc do Cimon lãnh đạo. Cho đến thời Pericles, chính quyền chỉ do những công dân có thế lực nhất nắm giữ. Pericles bắt đầu sự nghiệp chính trị từ năm 469 trước Công nguyên. Từ khi chấp chính năm 444 trước Công nguyên, Pericles đã dân chủ hóa toàn bộ nhà nước, đứng ra bảo vệ quyền lợi của người dân, trả lương cho những công dân tham gia quân đội. Pericles đã cho xây cất nhiều công trình kiến trúc đồ sộ, trong đó có đền Partheon ở đồi Acropolis thờ nữ thần Athen (thành hoàng của Athen), ông biến Athen thành đô thị mỹ lệ nhất thế giới bấy giờ. Dưới thời Perikles, kinh tế, nghệ thuật phát triển. Athen có hải quân hùng mạnh. Thời ông được gọi là “Thời đại hoàng kim của Athen”. Năm 629 trước Công nguyên, Athen bị bệnh dịch hạch hoành hành. Pericles qua đời vì bị bệnh dịch hạch. Cùng với sự ra đi vào cõi vĩnh hằng của ông cũng là sự chấm dứt thời kỳ dân chủ và phồn vinh của thành bang Athen.


Dân chủ : dân làm chủ


Hàng năm công dân thành bang Athen tổ chức Công dân đại hội để bầu người đứng đầu. Trong Công dân đại hội các công dân thành bang Athen nghe Perikles tuyên bố:

- Chế độ của chúng ta được gọi là dân chủ, bời vì chính quyền không nằm trong tay một thiểu số, mà là thuộc về đa số, thuộc về mọi người dân…

Perikles đã lãnh đạo đảng Dân chủ của thành bang Athen đạt được thành công rực rỡ cả trong nội chính lẫn trong ngọai giao. Công dân thành bang Athen tin tưởng Perikles, vì vậy từ năm 444 trước Công nguyên, liên tục 15 năm liền, Perikles được bầu làm Thượng đẳng tướng quân (strategos).

Perikles đã khai sáng ra một thời đại, mà các học giả chân chính gọi là “Thời đại Perikles”.


Diogenes (413-327 tr. CN) là một trong những triết gia nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại. Ông thuộc trường phái chủ nghĩa Hoài nghi (Cynicism). Ông sống có phần lập dị , là triết gia, nhưng ông đi chân đất, chỉ khoác chiếc áo choàng trên người và sống ở trong một cái thùng to. Diogenes là người coi thường danh vọng, hay châm biếm hài hước đầy hóm hỉnh.


Cách sống của nhà hiền triết


Diogenes sống thanh đạm, an nhiên tự tại. Ông nói:

- Triết gia là người giữ được bình tĩnh trong mọi hoàn cảnh, chấp nhận cuộc sống và cố gắng hết mình vì cuộc sống.

Một người nói nhạo báng:

- Tôi không có gì liên quan với triết học.

Diogenes hỏi vặn:

- Bạn sống để làm gì, nếu không là để cho cuộc sống tốt đẹp hơn.

Có người hỏi ông:

- Khi nào thế giới thịnh vượng?

Ông trả lời ngay:

- Khi các quốc vương làm triết học, khi các nhà triết học lại là quốc vương.


Cái Diogenes cần là ánh (sáng) mặt trời


Hoàng đế Alexandre rất trọng người tài giỏi. Khi ở Corinth, nhà vua đến thăm Diogenes và hỏi, liệu có một đặc ân gì nhà vua có thể làm cho triết gia không thì Diogenes (đang nằm tắm nắng) ung dung đáp:

- Xin nhà vua làm ơn bỏ cái bóng của ngài ra khỏi tôi!

Trên đường trở về, những người tuỳ tùng của Alexandre cười nhạo và cho Diogenes là gàn dở. Nhà vua đánh giá cao những câu nói tự tin và rất trí tuệ. Với giọng hài hước Alexandre bảo:

- Các người cứ cười nếu muốn, nhưng nếu ta không phải là Alexandre, thì ta muốn là Diogenes.


Nhân tính (hồi ấy) cũng khó tìm


Một hôm, vào lúc trưa nắng chói chang, người ta thấy Diogenes tay xách đèn đi giữa phố phường ở thành Athene. Có người hỏi, ông đáp:

- Ta đi tìm một Con người (một người còn có nhân tính- tính người)


Những gì để lại


Người dân quê hương Sinope của Diogenes rất tự hào có người con tài giỏi, người từng khuyên họ bằng lòng với hạnh phúc nhỏ bé và vạch cho họ cách sống hạnh phúc. Sau khi Diogenes mất, họ đã dựng tượng đồng với dòng chữ:

- Thời gian bào mòn cả đá lẫn đồng, nhưng lời nói của Diogenes sẽ còn sống mãi.

LỜI BÌNH: Trong khi ở Ấn Độ triết học nằm trong tôn giáo thì người Hy Lạp cổ đại tách triết học ra khỏi tôn giáo. Khởi đầu là các nhà hiền triết, họ đưa ra những triết lý về đời sống con người và cuộc sống xã hội.

Những nhà hiền triết của Hy Lạp cổ đại thường được nhắc tới là Kleobulos ở Lindos, Periandros ở Korinth, Bias ở Priene, Solon và Pittakos ở Mytilene và Epicharmos... Họ là chính khách, nhà văn, nhà thơ – những người đọc nhiều, hiểu biết rộng, ứng xử nhanh, hóm hỉnh nhưng hợp lý hợp tình, có những câu nói nổi tiếng về những vấn đề thiết thực trong đời sống con người, đời sống xã hội thể hiện sự thông thái. Ta thấy các nhà hiền triết trải nghiệm cuộc sống sâu sắc hơn chúng ta ngày nay, họ không khốn khổ và bất lực bởi áp lực vật chất hay quyền lực, không để nó ảnh hưởng tới cách đối nhân xử thế của mình. Họ sống hết sức nhân văn, giàu trí tuệ với tâm thế an bình, đầy tự tin ở sự thông thái của mình.

Nhà triết học, toán học danh tiếng cổ Hy Lạp Pythagoras (571-497 tr. CN) sinh năm 571 trước công nguyên ở Samos. Ông không để lại tác phẩm nào. Người ta chỉ biết đến ông và trường phái (nghiên cứu triết học và tôn giáo Pythagoras) do ông sáng lập ra qua sách, thư tịch do học trò ông ghi chép, sưu tầm.

Triết học Pythagoras là một hệ thống triết học duy tâm thần bí. Ông tin thuyết luân hồi (metepsychosis). Ông cho rằng linh hồn bị giam hãm trong thể xác có thể nhờ học tập mà trở nên thuần khiết. Do đó ông chủ trương sống thuần khiết, uống nước trong, ăn đồ không cần nấu và luôn tự xét mình. Ông cho rằng, mọi hiện tượng (như trăng tròn, trăng khuyết, nhật thực) trong vũ trụ đều có quy luật của nó. Pythagoras cũnglà nhà toán học. Ông chứng minh định lý về số đo các cạnh của một tam giác, định lý về tổng các góc trong một tam giác (sau này được gọi là Định lý Pythagores).


Niềm tin và tâm linh


Mối bận tâm của các nhà toán học là con số. Ký hiệu quan trọng của trường phái Pythagores là ngôi sao năm cánh. Khẩu hiệu của trường phái này là “Mọi cái đều là con số”. Tuy là nhà khoa học, nhưng Pythagores lại sửng sốt khi cộng ba con số đầu tiên 1 +2 +3 = 6. Ông gọi số 6 là con số linh thiêng. Khi cộng bốn số đầu tiên 1 + 2 + 3 + 4 = 10. Ông gọi con số 10 là con số tuyệt vời.


Thấy và thực nghiệm – chứng minh


Về số đo các cạnh của một tam giác vuông, về tổng các góc trong một tam giác người ta biết từ lâu, nhưng chưa ai chứng minh được. Pythagores đã thực nghiệm và chứng minh điều mà những người trước ông đã biết và chấp nhận:

- Trong một tam giác vuông, bình phương cạnh huyền bằng tổng bình phương các cạnh góc vuông.

- Tổng các góc trong một tam giác vuông bằng 180 độ.

Sau này người ta gọi chúng là định lý Pythagores về cạnh huyền , Định lý về tổng các góc trong một tam giác vuông.


Thales (624-547 tr. CN) là người sáng lập ra trường phái triết học Miletus. Theo ông, tất cả bắt đầu từ nước, rồi trở lại yếu tố cuối cùng là nước. Thales là mộtthương gia giàu có. Ông đi du lịch nhiều nơi như Ai Cập, Babylon, ông giao du với nhiều nhà thông thái phương Đông, qua đó ông tiếp thu được nhiều kiến thức mới mẻ và nâng những tri thức đó lên trình độ khoa học. Ông là một trong bảy nhà hiền triết của Hy Lạp cổ đại.

Thales là người đặt nền móng cho hình học, thiên văn học, triết học Hy Lạp.


Nhà toán học Thales ở thời kỳ nào?


Người ta ước tính, sự phát triển của môn hình học có thể chia làm bốn thời kỳ: 1. Việc đo chia ruộng đất, tính diện tích, thể tích khi xây dựng nhà cửa, đền đài ở Ai Cập, Babylon, Hy Lạp trước thế kỷ V trước Công nguyên dẫn tới hình thành các chữ geometrie (đo ruộng), geometer (nhà hình học, con sâu đo), geometry (hình học). 2. Hình học được trình bày có hệ thống lôgíc đúng như một môn khoa học. Các mệnh đề bắt đầu được chứng minh. Định lý Thales: Nếu trên một cạnh của một góc ta đặt từ đỉnh các đọan bằng nhau và qua các đầu mút của chúng ta kẻ các đường song song cắt cạnh thứ hai những đọan bằng nhau” được biết đến ở Hy Lạp vào thời kỳ này. 3. Hình thành các môn hình học giải tích do Decartes và Ferma sáng lập ở thế kỷ XVII, hình học xạ ảnh do Decartes và Pascal sáng lập, hình học vi phân do Euler và Monge phát triển ở thế kỷ XVIII. 4. Ra đời hình học Lobatsevxki (hình học phi Euclide).


Vô dụng khi lý thuyết, hữu dụng khi thực hành  


Có lần vì mải ngắm các vì sao nên Thales bị ngã xuống giếng nước. Cô hầu gái người Thracia kể với mọi người:

- Rằng ông muốn biết xem cái gì đang xảy ra ở trên trời, khiến ông không thể thấy cái gì đang ở dưới chân ông.

Thales nổi tiếng là người biết nhiều, nhưng người ta chê Thales vì ông quá nghèo (như để chứng minh cho sự vô dụng của kiến thức thiên văn). Có lần quan sát khí tượng thủy văn, ông biết vụ hè tới sẽ có một mùa bội thu trái ô-liu ở Miletus và Chios. Thales đặt cọc trước thuê tất cả máy ép dầu ô-liu ở Miletus. Khi mùa thu họach đến, rất đông người cần thuê máy ép cùng một lúc nên Thales có thể cho thuê máy với giá cao, vì thế ông thu được một món tiền lớn.

Thời thượng cổ, mỗi người có một tên. Khi dân số tăng, để phân biệt những người cùng tên, người ta gắn thêm địa danh nơi người ấy sinh ra, hay một đặc điểm gì đó. Trường hợp Pyrrhon (365-275 tr. CN) cũng vậy. Nếu gọi Pyrrhon ở Elis thì đó chính là nhà triết học cổ Hy Lạp Pyrrhon (Pirông) ở Elis. Cũng như Aristote, Pyrrhon không để lại sách, nhưng ông vẫn được coi là người sáng lập chủ nghĩa hoài nghi cổ Hy Lạp (antiker griechischer Skeptizismus; Hoài nghi theo nghĩa: phải suy nghĩ, xem xét, nghiên cứu). Những người theo chủ nghĩa hoài nghi tự gọi mình là Pyrrhoner. Người ta biết về học thuyết Pyrrhon qua sách của môn đệ của ông, trong đó có Timon. Theo Pyrrhon thì chúng ta không thể biết được bản tính của vật, bởi vậy tốt nhất là kiềm chế để giữ được sự thanh thản, sự bình yên của tâm hồn. Pyrrhon hiểu hạnh phúc là sự trầm tĩnh (tĩnh tâm) và là tình trạng không có đau khổ (vô cảm), còn phương tiện để đạt tới hạnh phúc là chủ nghĩa hoài nghi. 


Cố học để sau này làm điều ngược lại


Pyrrhon thích hội họa, nhưng sau khi nghe hùng biện liền say mê triết học. Pyrrhon theo học một người theo phái Zinic (xi-ních)- phái biểu hiện tâm trạng của các tầng lớp dân chủ của xã hội chiếm hữu nô lệ. Học xong, Pyrrhon nói:

- Mọi câu nói đều có câu nói ngược lại.

Pyrrhon không khẳng định, luôn hoài nghi bằng thái độ vô cảm (ataraxia), bằng lãnh đạm (adiaphora), bằng dửng dưng (apatheia). Nếu hoài nghi tất cả thì phải hoài nghi cả thuyết hoài nghi!? Sextus Empiricus, một môn đệ của Pyrrhon nói:

- Triết lý hoài nghi giống như một thứ thuốc xổ, một khi giải tỏa được những dơ bẩn kết tập trong thể xác thì cũng bị tiêu tan với chúng.


Phục thiện kiểu Alexander


Pyron từng tham gia vào những cuộc viễn chinh châu Á của Alexander và được chứng kiến cuộc trò chuyện của Alexander với nhóm các triết gia khổ hạnh - những triết gia mặc khố (không quần áo) - bị bắt làm tù binh . Họ gày gò,rách rưới, trên cơ thể họ không có gì ngoài cái khố. Cuộc đàm đạo bắt đầu bằng câu hỏi của Alexander:

- Người chết hay người sống nhiều hơn?

- Người sống, vì con người không chết.

- Đất hay biển nuôi dưỡng nhiều người hơn?

- Đất, vì biển là một phần của trái đất.

- Con vật nào tinh ranh nhất

- Con vật mà con người tới nay vẫn chưa biết.

- Ngày và đêm, cái gì xuất hiện sớm hơn?

- Ngày, sớm hơn một ngày.

- Làm thế nào trở thành người được yêu quý nhất?

- Trở thành người hùng mạnh nhất, nhưng không phải là người khủng khiếp nhất.

- Sống và chết, cái gì mạnh hơn?

- Sống, vì chỉ có nó mới mang lại những đau khổ như vậy.

- Con người làm thế nào để trở thành Thượng đế?

- Làm điều mà con người không làm được.

- Thích thú với những câu trả lời, Alexander đã thả họ. Pyrrhon lầm rầm:

- Ai mà biết được, có thể lối ứng xử kỳ quặc của một kẻ xâm lăng vĩ đại đã đem lại cho thế giới một con người kỳ quặc nữa.

Trong cách đối nhân xử thế trong lịch sử nhân lọai thường có hai kiểu: 1. xem con người là cứu cánh 2. xem con người là phương tiện.


Không là thế này cũng không là thế kia


Nhờ cuộc diện kiến trên mà Pyrrhon làm thân được với một vài thiền sư Ấn Độ. Thái độ lãnh đạm của họ trước những biến cố đầy bất trắc khi bị cầm tù làm Pyrrhon hết sức ngạc nhiên, bỡ ngỡ. Pyrrhon coi đó như một sức mạnh huyền bí. Các thiền sư Ấn Độ chủ trương một lý thuyết: nhà hiền triết phải là người không được nói năng chi cả (aphasia), không được khẳng định hay phủ định chi cả, nghĩa là không là thế này cũng không là thế kia (ouden mallou= pas plus l’un que l’autre).

Có lẽ Pyrrhon đã học được ở những thiền sư Ấn Độ “cái lãnh đạm” và chủ trương của họ nên ông luôn nói nơi cửa miệng:

- Không là thế này cũng không là thế kia. Không dễ gì mà hoàn toàn lọai bỏ được các phẩm chất của con người.


Lối suy diễn của Pyrrhon


Theo Pyrrhon thì tính biến đổi liên tục của các vật đưa tới sự phân biệt không rõ ràng do trực giác, giác quan chỉ cho phép ta biết được những gì thuộc về bề ngoài của sự vật, còn chính bản tính sự vật lại không thể biết được, nên:

- Không thể phán xét chúng từ góc độ “chân lý” và “giả dối”.

Ông bảo:

- Nếu mọi người cũng cảm thấy một cái là đẹp thì đã không có cuộc tranh cãi thù địch giữa mọi người.

Ông nói tiếp:

- Cảm giác được tạo ra dường như chỉ để lừa dối, còn bản thân con người đã học được cách lừa dối bản thân bằng chính các giác quan của mình: con người nhìn thấy trong mơ, cảm nhận thấy thần linh !? Tại sao con người lại phải thoả mãn với các cảm giác của mình, khi nó thua con nhện và con rắn về cảm giác nhiệt độ? Lẽ nào chúng ta lại ghen tỵ với… động vật? Phải chăng do con người làm tất cả theo luật pháp và tập quán!?

Nhà triết học Pháp Pierre Bayle (1647-1706) nhận xét:

- Học thuyết Pyrrhon – đó là nghệ thuật thảo luận mọi vấn đề luôn kiềm chế phán đóan.


Có vô cảm được không !?


Một hôm, thầy dậy học bị sa xuống đầm lầy, trò Pyrrhon thản nhiên đi ngang qua, nhìn thấy nhưng không giúp đỡ. Bản tính Pyrrhon bí ẩn và độc đáo. Ông không thích gì, không gì làm ông nổi giận. Có lần ông rất tức giận vì một chuyện đã xảy ra với chị gái của ông. Có người hỏi, sao ông lại như vậy. Ông trả lời:

- Không phải vì phụ nữ mà phô trương thái độ thờ ơ.

Lần ấy, bị một con chó tấn công và Pyrrhon sợ hãi. Bị mọi người chế giễu, ông đáp:

- Không dễ gì mà hoàn toàn lọai bỏ được các phẩm chất của con người.


Lối suy diễn của Pyrrhon


Theo Pyrrhon thì tính biến đổi liên tục của các vật đưa tới sự phân biệt không rõ ràng do trực giác, giác quan chỉ cho phép ta biết được những gì thuộc về bề ngoài của sự vật, còn chính bản tính sự vật lại không thể biết được, nên:

- Không thể phán xét chúng từ góc độ “chân lý” và “giả dối”.

Ông bảo:

- Nếu mọi người cũng cảm thấy một cái là đẹp thì đã không có cuộc tranh cãi thù địch giữa mọi người.

Ông nói tiếp:

- Cảm giác được tạo ra dường như chỉ để lừa dối, còn bản thân con người đã học được cách lừa dối bản thân bằng chính các giác quan của mình: con người nhìn thấy trong mơ, cảm nhận thấy thần linh !? Tại sao con người lại phải thoả mãn với các cảm giác của mình, khi nó thua con nhện và con rắn về cảm giác nhiệt độ? Lẽ nào chúng ta lại ghen tỵ với… động vật? Phải chăng do con người làm tất cả theo luật pháp và tập quán!?

Nhà triết học Pháp Pierre Bayle (1647-1706) nhận xét:

- Học thuyết Pyrrhon – đó là nghệ thuật thảo luận mọi vấn đề luôn kiềm chế phán đóan.

Cũng như Khổng Tử, Socrates (469-399) không để lại tác phẩm nào. Người học trò Plato của ông đã chuyển tải ý tưởng của thày mình bằng 56 quyển sách đề cập tới mọi vấn đề của thời cổ đại. Vì vậy Socrates vẫn được coi là nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thế giới cổ đại. Socrates là người kiên định giữ chính kiến của mình: ít nhất hai lần thà chết chứ không làm những điều mà ông cho là sai. Nhiệm vụ thiêng liêng của ông là kiểm tra sự thông thái bằng lối quy nạp. Ông cho rằng những cái Ác là do thiếu tri thức.

Socrates có nhiều kẻ thù trong phái Bảo thủ, kịch gia nổi tiếng Aristophanes đã bày tỏ sự thù địch với Socrates bằng vở kịch “Những đám mây”(423 TCN). Năm 399 trước công nguyên, Socrates bị buộc tội vô thần và bị kết án tử hình. Ông thản nhiên uống thuốc độc trong nhà tù.


Thế mới là Socrates


Socrates sinh ra trong một gia đình tầng lớp dưới (trong khi đó ở thời ông, các nhà tư tưởng đều thuộc dòng thế phiệt trâm anh). Cha là thợ đẽo đá, mẹ là bà đỡ.

Socrates cổ ngắn, đầu to hói, trán dô, mũi hếch, mắt lồi lại có cái nhìn như lườm nguýt thiên hạ (thuộc loại tướng dị dạng kỳ tài). Câu nói nổi tiếng của ông là:

- Hãy nói ra để tôi nhìn thấy anh!

Ta thấy hình ảnh Socrates qua miêu tả của nhà hùng biện Antiphon:

- Ông sống không bằng bất kỳ một tên nô lệ nào. Ông dùng thức ăn đồ uống như người nghèo, không những mặc quần áo rách rưới, mà còn mặc chỉ một bộ cho cả mùa hè lẫn mùa đông.


Hối thì đã muộn


Socrates không có duyên với phụ nữ, mặc dù ông lấy vợ hai lần. Phải chăng vì ông sống giản dị, khinh của cải và tiện nghi!? Ông thú nhận:

- Cưới vợ hay không- đằng nào cũng phải hối hận.


Ai biết được, ai sẽ hơn ai


Socrates sống ở Athens khi thành phố này đang ở thời kỳ hoàng kim, nên các nhà khoa học, văn nghệ sĩ , sinh viên ở khắp nơi đổ về kinh đô thương mại của Hy Lạp. Những nhà giầu có từ các vùng xa xôi như Sicile cũng gửi con đến học Socrates. Giới trẻ hết sức ngưỡng mộ Socrates, vì nhà triết học Socrates thường đưa ra những quy tắc tổng quát về nghệ thuật sống. Điều này dẫn tới nỗi lo sợ của một số người. Khi Athens chiến đấu chống Sparte thì Alcibiade, một học trò của Socrates chạy sang hàng ngũ Sparte. Athens thất bại cay đắng liền lấy đó là cái cớ để dân kinh thành trút trách nhiệm lên đầu Socrates trong một phiên toà gồm 501 công dân, ông bị kết án tử hình vì tội :

- Không tin ở thần thánh đã được kinh thành chấp nhận và “đã làm hư hỏng tuổi trẻ”.

Ông nói lời cuối cùng trước tòa:

- Đã tới lúc phải rời khỏi đây, tôi thì để chết, các người thì để sống, điều nào tốt hơn, không ai biết ngoài Thượng đế.

Tên thật của Platon (427-347) là Aristocles, có lẽ vì vóc dáng to lớn vạm vỡ nên ông có biệt danh là Platon. Ông là nhà triết học duy tâm cổ Hy Lạp. Sokrates là người thầy có ảnh hưởng quyết định đến cuộc đời Platon. Những điều giảng dạy của Sokrates còn truyền đến ngày nay cũng là nhờ người học trò Platon. Năm 387, Plato thành lập Viện Hàn lâm Athen (có thể coi Viện này là trường Đại học tổng hợp đầu tiên ở châu Âu) và lãnh đạo viện này tới khi mất.

Trước tác của Platon gồm 56 tập (phần lớn được viết dưới hình thức đối thoại), trong đó có các sách “Về tình yêu”, “ Sự bất diệt của linh hồn”, “Chế độ cộng hoà”, “Không tưởng”, “Về bản chất Tri thức”, Bản chất của Thế giới vật chất”v.v…


Học được gì ở nhà triết học


Khi bạo chúa Diomici gặp nạn, có người hỏi ông học được gì ở Plato. Bạo chúa đáp:

- Bình tĩnh, điềm nhiên chịu đựng phong ba của số kiếp!


Điều nhà triết học chân chính quan tâm


Có người hỏi Plato, nhà triết học chân chính quan tâm điều gì. Ông trả lời:

- Nhà triết học chân chính không quan tâm tới thể xác ở chừng mực có thể lãng quên thể xác của mình, nhưng quan tâm tới tâm hồn, vì tâm hồn là bất tử và bất diệt.


Hỏi – Đáp


Domici hỏi Plato:

- Theo ngài, nhiệm vụ của người cầm quyền là gì?

- Làm cho thần dân trở thành những người tốt.

- Theo ngài, toà án công minh có tác dụng gì ?

- Không đáng giá gì, vì quan tòa công minh giống như người thợ may có công việc là khâu vá chiếc áo đã bị rách.


Thầy sao, trò vậy


Phương pháp đánh đổ mọi luận điểm của đối phương mà Sokrates áp dụng là Luận điểm mang tính định nghĩa. Plato hiểu sâu sắc phương pháp ấy, ông nói:

- Chúng ta cần xem xét bản chất của lửa, nước, không khí và đất là gì trước khi Trời ra đời và trạng thái hiện nay của chúng ta là gì.


Aristote/ Aristoteles (384-322 tr. CN) là nhà triết học cổ Hy Lạp và là thầy dạy (từ 343 tới 334 trước công nguyên) hoàng tử con vua Philip xứ Macedon (Alexander Đại đế). Năm 335 trước công nguyên, Aristote mở trường “Lyceum” ở Athen, nơi thầy giảng bài, rồi đàm đạo với trò trong lúc đi dạo trong cánh rừng cạnh trường. Với cách làm này, vô tình Aristote đã sáng lập ra học phái “Tiêu dao”. Lyceum trở thành một trung tâm giáo dục lớn nghiên cứu sinh học, sử học, khoa học quản lý nhà nước. Aristote đề cập tới toàn bộ tri thức của thời đại mình và làm sáng tỏ những vấn đề được giảng dạy qua các sách “Công cụ”, “Chính trị học”, “Đạo đức học”, “Siêu hình học”, “Nghệ thuệt thi ca”, “Logich học”, “Vật lý học”, “Lịch sử động vật” “Về bầu trời” v.v…

Cùng với việc ra đi vào cõi vĩnh hằng của Aristote thời kỳ văn minh rực rỡ nhất của Hy Lạp cũng cáo chung.


Thầy nào, trò nấy


Thầy giáo dạy sử bực mình về một học trò lớn nhất lớp, nhưng lại không thuộc bài. Thầy nói:

- Khi Alexander Đại đế bằng tuổi em thì đã lừng danh thế giới!

Bỗng có tiếng đáp:

- Vì thầy dạy học ông ta là Aristoteles.


Cái mà nhà triết học suy tư


Các nhà triết học luôn đi tìm đạo làm người trong đời sống của xã hội con người. Kết quả của nó là hình thành luân lý/ đạo đức học. (Ethics / Ethik). Aristoteđã thống kê 12 đức tính ở những trạng thái: đức độ, bất cập, thái quá. ( Đức độ là trạng thái thăng bằng. Nó còn được gọi là đức hạnh; bất cập và thái quá là hai trạng thái không thăng bằng ở con người) :

Đức độ Bất cập Thái quá

1. Can đảm Hèn nhát Liều lĩnh

2. Đôn hậu Lãnh đạm Phóng đãng

3. Rộng lượng Bủn xỉn Hoang phí

4. Đứng đắn Hèn hạ Thô tục

5. Cao nhã Khiêm hạ Kiêu căng

6. Cầu tiến Yếm thế Hãnh tiến

7. Dịu dàng Lãnh cảm Nóng nảy

8. Trung thực Dè dặt Khoác lác

9. Khôi hài Đạo mạo Lố bịch

10. Qủang giao Cáu kỉnh Quỵ lụy

11. Khoan hoà Vô liêm sỉ Rụt rè

12. Rạch ròi Đa nghi Đố kỵ

Aristote cho rằng:

- Con người được sinh ra không chỉ sống để tồn tại, mà để sống một cuộc đời tốt đẹp.

Theo Aristote, đức độ là cái dung hoà giữa hai thái cực bất cập và thái quá, đức độ đòi hỏi tỉnh táo, kiềm chế, điều tiết và chừng mực, vì vậy nó là cái không phải ai cũng làm được.


Epicurus (341-270 tr. CN) là nhà triết học duy vật và vô thần Hy Lạp cổ đại. Epicurus mở ở Athens một “ngôi trường” ngoài trời nổi tiếng, gọi là vườn Epicurus. Trong trường ấy, Epicurus sống chung với bạn bè và môn đệ. Trong những sáng tác của ông thì ngày nay chỉ còn lại ba bức thư tóm tắt học thuyết của ông về đạo đức.

Epicurus phủ nhận sự can thiệp của thần thánh vào việc đời. Ông quan niệm: mục đích của triết học là hạnh phúc của con người, là đề cao lạc thú và tránh né khổ đau. Ông cho rằng con người phải biết sử dụng đúng đắn những lạc thú như là sự ban thưởng cho đạo lý, cho sự tu dưỡng tinh thần và sự thực hành đạo đức.

Chủ nghĩa lạc thú / khoái lạc (Hedonism) Epicurus sau đó phát triển ở Aicập, La Mã. Nó có ảnh hưởng đến nhiều nhà triết học phương tây thế kỷ XVII- XVIII, như nhà triết học duy vật Pháp P. Gassendi. Đạo đức vị lợi Anh của J. Bentham, J. S. Mill chịu nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa khác lạc của Epicurus.


Chủ nghĩa lạc thú của Epicurus


Epicurus chia lạc thú ra làm ba lọai:

- Lọai thứ nhất là lọai chúng ta phải đề cao; lọai thứ hai là lọai chúng ta phải thừa nhận; lọai thứ ba là lọai chúng ta phải lảng tránh.

Ông khuyên:

- Chúng ta phải đề cao các lạc thú “tự nhiên” và “cần thiết”.


Hai trường phái trong chủ nghĩa khoái lạc


Trái ngược với trường phái của Epicurus là trường phái Cyrenaic của Aristippus (435-356 TCN). Trường phái khoái lạc của Aristippus đề cao việc tận hưởng lạc thú nhất thời như là mục đích chính yếu trong đời. Aristippus bảo:

- Hãy ăn uống và tận hưởng lạc thú , bởi vì rồi mai đây chúng ta sẽ chết.

Epicurus cho rằng phải khôn ngoan để phân biệt và chọn lựa những thú vui đáng hưởng thụ. Ông bảo:

- Đa số những người tuân thủ triết lý “ăn uống và tận hưởng lạc thú, bởi vì rồi mai đây chúng ta sẽ chết” đều không chết ngay vào thời điểm “mai đây”. Họ vẫn tiếp tục sống để hứng chịu hậu quả tai hại của cuộc sống sa đọa trong thú vui vô độ.


Nhà triết học, nhà chính khách, nhà thơ Lucius Aunacus Seneca ( 4 tr. CN – 65 s. CN) sinh năm thứ 4 trước công nguyên tại Cordoue (Tây Ban Nha) trong một gia đình thế gia vọng tộc. Seneca học luật ở Rom. Tài hùng biện đã mang lại cho ông danh tiếng, địa vị và lợi lộc. Seneca viết nhiều khảo luận về triết học, trong số đó có “Sự bình tĩnh của tâm hồn “; “Đời người ngắn ngủi”; “Sự khoan hồng”; “Về ân nghĩa”.


Gậy ông đập lưng ông


Seneca là gia sư của hoàng cung , là thầy dạy của thái tử Nero. Seneca thường nói:

- Các nhà triết học dù không phải luôn luôn hành động như họ nói, dẫu sao họ cũng đem lại lợi ích to lớn, vì họ đã bàn luận, họ chỉ ra các lý tưởng đạo đức.

Hoàng đế bạo chúa Nero sợ gặp khó khăn trong thi hành những việc tàn bạo nên mượn cớ một âm mưu phản nghịch mà ra lệnh cho Seneca được quyền chọn cách tự sát.


Biển – đất liền


Seneca có tài hùng biện, nhưng ông lại sợ sóng to hío lớn ở biển. Có người bảo:

- Seneca mới chỉ là nhà thông thái ở trên cạn.


Có mâu thuẫn …! ?


Có người hỏi Seneca:

- Ông dạy người ta coi thường của cải, tại sao ông vẫn là người giàu có ?

Seneca thản nhiên đáp:

- Nhà hiền triết không yêu quý sự giàu có, nhưng đề cao nó hơn sự nghèo khổ.


Epichte (50-138 s. CN) là nhà triết học La Mã, người đại diện trường phái khắc kỷ (Stoicism), tri túc (contentment) La Mã. Vốn là nô lệ được Epaphrodite giải phóng, Epictete chú tâm về đạo đức học. Đạo đức học của ông đề cao nội tâm. Theo ông, người chủ nô vẫn có thể là nô lệ cho chính những ham muốn dục vọng của bản thân mình, còn người nô lệ vẫn có thể là người tự do, vì có sự độc lập tinh thần của mình. Ông cho rằng, không phải cái thiện và cái ác nằm trong các sự vật, mà là thái độ của chúng ta đối với chúng, do đó chính hạnh phúc phụ thuộc vào ý chí của chúng ta.

Epictete không viết sách, học trò của ông Arrianus cho xuất bản những ghi chép lời thầy giảng thành 8 cuốn gồm “Những bài văn đả kích”; 12 cuốn gồm “Những bài thuyết giáo”.


Thế nào là hạnh phúc


Theo Epichtete điều giá trị nhất trong cuộc sống là tri túc (biết đủ). Ông cho rằng:

- Hạnh phúc là có một đời sống lặng lẽ, bình yên và điềm nhiên. – sự bình an tâm hồn.

Ông cho rằng, muốn làm chủ bản thân, chế ngự những ham muốn, người ta phải:

- biết tự kiềm chế (self-control) hay biết tự chủ (self-mastery).


Saint Thomas Aquinas (1225-1274) là nhà triết học, thần học người Italia thời Trung cổ. Ông gia nhập dòng tu Đa Minh năm 1243. Tư tưởng của Aistotle được chấp nhận trong cộng đồng Thiên Chúa giáo Tây Âu là nhờ công luận giải các công trình của Aristotle của Aquinas. Ông phân định rạch ròi giữa hai con đường, một nằm trong phạm vi khai phá bởi lý trí của con người và một là những gì chỉ có thể phát lộ nhờ thiên khải. Hai cuốn sách mang lại cho Aquinas danh tiếng là “Về Chân lý của niềm tin Thiên Chúa giáo chống lại những người ngọai đạo” (Summa Contra Gentilles); “Tổng luận về Thần học” (Summa Theologiae). Ông được liệt vào hàng thánh năm 1323. Năm 1880, ông được chính thức công nhận là vị thánh bảo hộ các trường Công giáo.


Phải cầm cân nảy mực cho đúng


Theo Thomas Aquinas thì bạo lực là điều đáng ghê tởm, chỉ nên sử dụng như biện pháp cuối cùng để chống lại Cái Xấu và phải được giới hạn ở mức cần thiết, ông nói:

- Mối quan hệ đúng mực giữa năng lực người dân và luật pháp là cơ sở xác lập trị an mà không cần sử dụng đến bạo lực.

Ông khuyên:

- Không bao giờ chấp nhận và tuân thủ các điều luật vô đạo (những điều luật bất công). Cách phản ứng của mỗi cá nhân chính Thomas Aquinas quan niệm:

- Suy luận lôgíc là cơ sở thích hợp để đánh giá phẩm hạnh của con người, nh là thước đo lương tâm và đạo đức của bản thân.



Mệnh lệnh của trái tim –mệnh lệnh của lương tâm


Thomas Aquinas quan niệm:

- Suy luận lôgíc là cơ sở thích hợp để đánh giá phẩm hạnh của con người, nhưng chính quy luật tự nhiên định hình nên khuôn mẫu suy luận đó.

Ông bảo:

- Con người không nhận thức về quy luật tự nhiên thông qua con đường suy luận, mà thông qua sự trực nhận.

Ông cho rằng:

- Con người hành thiện, vì tiếng gọi, mệnh lệnh hay nguyên tắc của lương tâm.


Giordano Bruno (1548-1600) là nhà triết học Italia. Tuy là giáo sĩ dòng Saint – Dominique, nhưng ông phê phán vũ trụ học của Aristole, ông vượt lý thuyết của Copernicus. Theo ông, vũ trụ là vô tận và thế giới rất đa dạng. Ông khẳng định sự vĩnh cửu và sự thống nhất của vật chất.

Những tác phẩm nổi tiếng của ông là “Bàn về nguyên nhân, nguyên lý và sự thống nhất”, “Bàn về sự vô tận của vũ trụ và các thế giới”, “Khai trừ con vật đắc thắng”, “Những cơn giận anh hùng”. Triết học của Bruno bị coi là tà giáo. Ông bị kết án tử hình và bị thiêu sống năm 1600 ở Rom.


Không có niềm tin


Bruno bị coi là “con người không có niềm tin”. Còn Bruno thì tin tưởng :

- Sách của tôi sẽ còn sống tới khi trái đất còn quay bề mặt sống động của mình vào con mắt vĩnh cửu của những vì sao đang chiếu sáng.

Phương pháp lập hệ thống thế giới quan của Bruno

Bruno trình bày phương pháp làm việc khoa học của mình như sau:

- Tôi không nói rằng, Platon là kẻ ngu dốt. Aristoles là con lừa, còn môn đệ của họ là những kẻ ngu xuẩn, dốt nát và cuồng tín. Nhưng tôi không muốn tin họ mà thiếu chứng minh, cũng không muốn tán thành những luận điểm của họ mà tính không xác thực đã được chứng minh rõ ràng và minh bạch.


LỜI BÌNH: Theo thời gian và sự phát triển của xã hội Hy Lạp hình thành một lớp người tổng kết trải nghiệm của lớp người đi trước - những nhà thông thái- rồi đưa ra những tổng kết có tính quy luật, lý luận. Đó là những nhà triết học Platon, Pyrrhon, Bruno, Seneca, Aristote…Các nhà triết học quan sát,rồi đưa ra những nhận xét tổng kết, những quy luật về Lạc thú trần gian; về Cái Đẹp; về Thiện –Ác; về Tình (thương) yêu; về Sám hối, về Phục thiện. Ở phương Đông cũng như phương Tây đều có những nhận định tương tự như nhau, nhưng cách diễn đạt thì mỗi nơi có cách diễn đạt riêng (như người thuận tay phải, người thuận tay trái).


Đại vũ trụ- tiểu vũ trụ


Phương Đông có lý luận thiên nhân cảm ứng, về hiện tượng này, Bruno nói:

- Vạn vật đều nằm trong vũ trụ và vũ trụ trong vạn vật. Chúng ta- trong nó, nó – trong chúng ta.


Đối lập : âm > < dương


Mặc dù cách diễn đạt khác nhau, nhưng các nhà khoa học của phương Đông và phương Tây đều thống nhất với câu nói của Bruno:

- Các thế giới được cấu thành từ những mặt đối lập có một số mặt đối lập sống và được nuôi dưỡng bằng các mặt đối lập khác. (Phương Đông có học thuyết âm dương (trong âm có dương, trong dương có âm).


Luật pháp, pháp lý, pháp chế


Thomas Aquinas cho rằng, luật pháp phải được cụ thể hóa dưới dạng quy định pháp lý, phải trở thành một nghĩa vụ luật pháp, là cơ sở cưỡng chế của xã hội (pháp chế). Ông định nghĩa:

- Luật pháp là luật được định hình dưới dạng văn bản, thể chế hóa lẽ phải bằng lý luận thực tiễn.


Ý chí giúp vượt được khổ đau


Epictete đề cao quan điểm:

- Ý chí của con người phải giữ được trong tình trạng tự chủ và không thể khuất phục.

Ông khuyên:

- Chúng ta phải học cách sống với nỗi thất vọng bất khả kháng, học cách chấp nhận mọi sự mất mát không thể vãn hồi và học cách chịu đựng sao cho nỗi khổ đau vơi dần và phai nhoà đi.

Rồi ông bảo:

- Nên thành tâm đón nhận mọi khó khăn trắc trở trong cuộc sống.


Vô bổ không ?


Có người nói, các nhà triết học nghiên cứu biết bao thứ vô bổ. Seneca giáo huấn:

- Triết học chấn chỉnh cuộc sống, chỉ đạo hành động, chỉ ra cần làm gì và không nên làm gì. Mỗi giờ lại có một sự kiện diễn ra, nó đòi hỏi phải có lời khuyên. Việc này chỉ có triết học mới có thể đưa ra được.


Cam chịu đau khổ- chiến thắng nỗi sợ cái chết


Theo Epicurus, có những khoái cảm cần được lọai trừ hoàn toàn, nhưng có những kinh nghiệm đau khổ lại cần cam chịu vì lợi ích tương lai. Ví dụ:

- Một bệnh nhân cần uống thuốc đắng , hoặc trải qua một cuộc phẫu thuật, nếu đó là cần thiết cho cuộc sống tương lai.

Một trong những sợ hãi thường thấy là Nỗi sợ hãi cái chết. Epicurus nhận định:

- Chiến thắng được nỗi sợ cái chết sẽ khiến cuộc sống an lạc và “đáng sống” hơn.


Hạnh phúc


Có nhiều định nghĩa khác nhau về hạnh phúc. Theo thuyết Tự phát triển nhận thức (Self-Realizationism) của Aristote thì:

- Hạnh phúc là có cuộc sống tốt đẹp, là phát triển toàn mãn năng lực, thiên tư và nhân cách của một con người.


Tôi có nghe đâu


Một người gặp Aristote ở ngoài đường. Người này kể đủ mọi chuyện trên đời. Khi thấy Aristote cứ ngước mắt nhìn trời, người này liền xin lỗi. Nhà hiền triết trả lời:

- Không dám, tôi có nghe đâu.


Người mù không thấy được Cái đẹp


Có người hỏi Aristote:

- Tại sao ông lại thích Cái đẹp.

Nhà hiền triết đáp:

- Đúng là câu hỏi của một người không nhìn thấy gì – một người mù.


Thiện – Ác


Có người hỏi Platon về thiện –ác trong xã hội. Ông đáp:

- Loài người sẽ không tránh được cái Ác cho tới khi các nhà triết học chân chính chưa được giữ các chức trách nhà nước hoặc là các nhà cầm quyền chưa trở thành các nhà hiền triết.

Và Plato định nghĩa:

- Nhà triết học chân chính là người ưa thích phát hiện ra chân lý.


Tình yêu nuôi dưỡng cái gì ?


Có người hỏi quan niệm của Plato về tình yêu. Ông đáp:

- Tôi cảm thấy rằng, người ta hoàn toàn không ý thức được sức mạnh đích thực của tình yêu, vì nếu họ ý thức được nó, họ đã xây dựng các đền thờ lớn nhất cho tình yêu và hiến dâng những lễ vật quý báu nhất cho tình yêu, nhưng điều đó không xảy ra. Tình yêu có sức mạnh khủng khiếp, chúng nuôi dưỡng những tâm hồn vĩ đại.


Sám hối


Trong cảnh chiều tà cuộc đời, Socrates nói:

- Tôi lại nghiên cứu tôi – một quái vật phức tạp hay một sinh vật đơn giản, mà mặc dù khiêm tốn, song xét về bản chất thì vẫn có liên can tới một cái gì đó mang tính thần thánh!


Phục thiện kiểu Alexander


Pyron từng tham gia vào những cuộc viễn chinh châu Á của Alexander và được chứng kiến cuộc trò chuyện của Alexander với nhóm các triết gia khổ hạnh Ấn Độ- những triết gia mặc khố

(không quần áo) - bị bắt làm tù binh . Họ gày gò,rách rưới, trên cơ thể họ không có gì ngoài cái khố. Cuộc đàm đạo bắt đầu bằng câu hỏi của Alexander:

- Người chết hay người sống nhiều hơn?

- Người sống, vì con người không chết.

- Đất hay biển nuôi dưỡng nhiều người hơn?

- Đất, vì biển là một phần của trái đất.

- Con vật nào tinh ranh nhất

- Con vật mà con người tới nay vẫn chưa biết.

- Ngày và đêm, cái gì xuất hiện sớm hơn?

- Ngày, sớm hơn một ngày.

- Làm thế nào trở thành người được yêu quý nhất?

- Trở thành người hùng mạnh nhất, nhưng không phải là người khủng khiếp nhất.

- Sống và chết, cái gì mạnh hơn?

- Sống, vì chỉ có nó mới mang lại những đau khổ như vậy.

- Con người làm thế nào để trở thành Thượng đế?

- Làm điều mà con người không làm được.

Thích thú với những câu trả lời, Alexander đã thả họ. Pyrrhon lầm rầm:

- Ai mà biết được, có thể lối ứng xử kỳ quặc của một kẻ xâm lăng vĩ đại đã đem lại cho thế giới một con người kỳ quặc nữa.

Cách đối nhân xử thế trong lịch sử nhân lọai thường có hai kiểu: 1. xem con người là cứu cánh 2. xem con người là phương tiện. Ở đầu thế kỷ 21 người ta sử dụng cả hai kiểu với phương châm: quyền lợi và ảnh hưởng.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 16.03.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004