Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Nhà Toán Học Ấn Độ Xuất Chúng &

Vị Bác Sĩ Népal Mang Lại Phép Màu









CỘNG HOÀ ẤN ĐỘ


C ộng hòa Ấn Độ, là một quốc gia tại Nam Á. Đây là quốc gia lớn thứ bảy về diện tích, và đông dân thứ nhì trên thế giới với trên 1,31 tỷ người. Ấn Độ tiếp giáp với Ấn Độ Dương ở phía nam, biển Ả Rập ở phía tây-nam, và vịnh Bengal ở phía đông-nam, có biên giới trên bộ với Pakistan ở phía tây; với Trung Quốc, Nepal, và Bhutan ở phía đông-bắc; và Myanmar cùng Bangladesh ở phía đông.

Tiểu lục địa Ấn Độ là nơi xuất hiện văn minh lưu vực sông Ấn cổ đại, có các tuyến đường mậu dịch mang tính lịch sử cùng những đế quốc rộng lớn, và trở nên giàu có về thương mại và văn hóa trong hầu hết lịch sử lâu dài của mình. Đây cũng là nơi bắt nguồn của 4 tôn giáo lớn: Ấn Độ giáo, Phật giáo, Jaina giáo và Sikh giáo; trong khi Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo (mà đều phát tích tại thành phố Jerusalem, phía bắc của Bethlehem) được truyền đến vào thiên niên kỷ 1 sau CN và cũng giúp hình thành nền văn hóa đa dạng của khu vực. Ấn Độ thuộc Anh Quốc từ giữa thế kỷ XIX và độc lập vào năm 1947 sau một cuộc đấu tranh giành độc lập dưới hình thức đấu tranh bất bạo động do Mahatma Gandhi lãnh đạo. Nhưng vì tôn giáo, Tiểu lục địa chia ra 4 quốc gia: Ấn Độ theo Ấn giáo, Pakistan và Bangladesh theo Hồi giáo và Sri Lanka theo Phật giáo. Ấn Độ là một nước cộng hòa lập hiến liên bang theo thể chế nghị viện, gồm có 29 bang và 7 lãnh thổ liên bang. Ấn Độ là một xã hội đa nguyên, đa ngôn ngữ và đa dân tộc.


ẤN ĐỘ: nhà toán học Srinivasa Ramanujan (1887-1920)


Ramanujan & Con tem vinh danh ông của Ấn Độ.  (Sinh ngày 22/12/1887 – mất ngày 26/4/1920) là nhà toán học huyền thoại người Ấn Độ, nổi tiếng là người dù không được đào tạo bài bản về toán học lý thuyết nhưng đã có nhiều đóng góp quan trọng cho nhiều ngành toán học như giải tích, lý thuyết số, dãy vô hạn.


Cuộc đời


Ông sinh ra và lớn lên tại Erode, Tamil Nadu, Ấn Độ rồi làm quen với toán học năm lên 10 tuổi. Ông cho thấy năng khiếu đặc biệt về toán khi được tặng một quyển sách lượng giác cao cấp của S L Loney. Năm lên 13 ông đã thành thục quyển sách này nên bắt đầu tìm cách tự phát minh ra các định lý toán học. Năm lên 17 ông tự nghiên cứu về số Bernoulli và hằng số Euler-Mascheroni. Ông nhận học bổng vào một đại học công ở Kumbakonam nhưng rớt ngay năm đầu do không đạt các môn không phải toán học. Sau đó ông vừa làm nhân viên tại một cơ quan nhà nước để có chi phí theo đuổi ngành toán tại một đại học khác. Trong hai năm 1912-1913 ông gửi vài công trình đến ba vị ở đại học Cambridge nhưng chỉ có G. H. Hardy nhận ra tài năng của ông, nên giáo sư Hardy đã mời ông sang Anh làm học trò mình tại Cambridge.

Trong quãng đời ngắn ngủi Ramanujan đã độc lập công bố gần 3900 kết quả nghiên cứu phần lớn thuộc lĩnh vực phương trình và đồng nhất thức mà ngày nay hầu hết được công nhận chính xác trừ vài kết quả sai hoặc đã có trước khi ông đưa ra. Một số công trình của ông vẫn là nền tảng và chưa được hoàn thiện như số nguyên tố Ramanujan, hàm theta Ramanujan đã cuốn hút nhiều nghiên cứu đi sâu vào các đề tài này. Tạp chí Ramanujan ra đời để công bố các nghiên cứu toán học có ảnh hưởng từ công trình của ông.

Nhà toán học Ramanujan được đánh giá là một trong số ít những thiên tài toán học hiếm hoi trong hàng thế kỷ qua với gần 3900 kết quả nghiên cứu phần lớn thuộc lĩnh vực phương trình và đồng nhất thức. Không được đào tạo bài bản về toán học nhưng những đóng góp và phát hiện của ông cho ngành toán học thực sự là vô cùng quan trọng và có giá trị.

Câu chuyện Ramanujan còn có hậu ý kể về người phương Tây đã khám phá ra một tài năng "thô" ở hải ngoại và giúp tài năng đó đơm hoa. Không thể bỏ qua bối cảnh chính trị thời đó. Đó là thời nước Anh là siêu cường toàn cầu duy nhất, có thể xem thường Đức trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Ấn Độ khi đó là thuộc địa, là viên kim cương trên vương miện của Anh. Bài diễn văn nổi tiếng "Phút dành cho giáo dục Ấn Độ" đọc trước Quốc hội của Thomas Macaulay năm 1835 đã đặt nền tảng cho nền giáo dục Anh ở Ấn Độ và tạo ra một lớp công chức như Ramanujan để làm trung gian giữa kẻ thống trị và người bị trị. Sự kiêu ngạo của người Anh lên tới tột đỉnh. Toán học có thể khởi nguồn từ châu Á và Ả Rập, song tất cả các lý thuyết toán và phương trình lớn đều do các nhà toán học phương Tây tìm ra. Khi Ramanujan chứng minh rằng mình không hề thua kém người phương Tây, ông đã thách thức đầu óc thực dân thượng đẳng của họ.

  Một toán học gia lỗi lạc của thế kỷ 19 lại không có gốc Âu Mỹ mà lại xuất phát từ Madras đáng yêu: đó là nhà toán học: Srinivasa Ramanujan, Ấn độ.

Srinivasa Ramanujan là nhà toán học huyền thoại người Ấn Độ, nổi tiếng là người dù sở học của ông không được đào tạo bài bản về lý thuyết toán học, nhưng ông đã có nhiều đóng góp vô cùng quan trọng cho nhiều ngành toán học như giải tích, lý thuyết số, dãy số vô hạn,... 

Trong quãng đời ngắn ngủi 32 năm, Ramanujan đã độc lập công bố gần 3900 kết quả nghiên cứu phần lớn thuộc lãnh vực phương trình và đồng nhất thức(Identities), mà ngày nay hầu hết được công nhận chính xác trừ vài kết quả sai hoặc đã có trước khi ông đưa ra. Một số công trình của ông vẫn là nền tảng và chưa được hoàn thiện như số nguyên tố Ramanujan, hàm theta Ramanujan đã cuốn hút nhiều nghiên cứu đi sâu vào các đề tài này. Tạp chí Ramanujan ra đời để công bố các nghiên cứu toán học có ảnh hưởng từ công trình của ông.

-Với tinh thần nhân bản, tư tưởng của Hardy vượt qua vấn đề chủng tộc, dù tình bạn của họ cũng trải qua thử thách. Không giống như các nhà toán học phương Tây viết ra các bước giải chặt chẽ, Ramanujan thường dùng phấn viết các bước giải trên bảng đá đen, sau đó viết ghi chú kết quả vào cuốn sổ tay. Quan trọng là đích điểm, bất kể bạn đi đến đó bằng cách thức nào. Đó là truyền thống toán học của các "sư phụ" (master) Trung Hoa và Ấn Độ: Họ chỉ nói kết quả, không bận tâm tới chi tiết và để cho học trò tự giải quyết.

  Ramanujan thậm chí còn đẩy truyền thống đó xa hơn. "Ramanujan chưa bao giờ hoàn thiện những bước giải trình tự mình để có thể kiểm tra chéo (cross-check)một cách chặt chẽ". Nhà văn Ấn Độ Hartosh Singh Bal, đồng tác giả cuốn tiểu thuyết về toán học "A Certain Ambiguity" (tạm dịch là Sự mập mờ hiển nhiên) cho biết. "Trực giác dẫn Ramanujan tới kết quả mà phần lớn các nhà toán học khác không thể hiểu nổi, song nó cũng khiến ông lạc lối. Ramanujan tin rằng trực giác của mình được thần thánh ban tặng. Khi trực giác đúng, kết quả là kỳ diệu".

  Phương pháp của Ramanujan, hay đúng hơn là vô phương pháp, làm người coi trọng những bước giải tao nhã không kém gì kết quả như khi Hardy tức điên (*). Trong cuốn "Nhân viên người Ấn", Leavitt cũng mô tả sự thất vọng và không thể hiểu nổi của Hardy là tại sao một thiên tài như Ramanujan lại không thể viết ra một bước giải đơn giản. Bên cạnh sự nghiệp toán học của Ramanujan là sự chia tách giữa trực giác và lý tính, giữa niềm tin và logic. Dễ dàng nhận ra đó là sự chia tách giữa Đông và Tây. Song, thực tế là Ramanujan đã làm toán mà không nhất thiết tuân theo những bước giải tuần tự theo trường phái Euclip – và điều đó làm nên sự thần kỳ đối với những người được đào tạo dùng logic để giải toán.

  Trong cuốn tiểu thuyết của Leavitt, Hardy tin rằng Ramanujan đã đạt tới đỉnh cao sự nghiệp, dù chết trẻ. Điều đó không làm giảm tài năng của Ramanujan. Cuốn "Nhân viên người Ấn" đưa một thông điệp tới người đọc: nghệ thuật là nền tảng của khoa học. Toán học là thế giới của Ramanujan và Hardy. Thế giới đó có vẻ trừu tượng và xa rời thực tế, song chính vì thế nó lại hấp dẫn hai người. Nhà tiểu sử về Ramanujan là Robert Kanigel cho rằng Ramanujan đã nhìn được cõi vô cùng. Ramanujan gần như hiểu được ý nghĩa của vũ trụ thông qua các con số. Ông cố giải thích nó bằng các phương trình, nhưng không viết ra được mọi thứ. Cuộc đời Ramanujan quá ngắn ngủi, song ông đã thoáng nhìn ra ý nghĩa thống nhất của vũ trụ (theo Washington Post).


CỘNG HOÀ DÂN CHỦ LIÊN BANG NÉPAL


Nepal với Quốc kỳ (đặc biệt hình tam giác) -Lumbini là nơi sinh của Phật Thích Ca

Nepal là một quốc gia nội lục tại Nam Á. Dân số quốc gia Himalaya này đạt 26,4 triệu vào năm 2011. Nepal giáp với Trung Quốc về phía bắc, giáp với Ấn Độ về phía nam, đông và tây. Nepal cách lãnh thổ Bangladesh 27 km tính từ mũi đông nam. Nepal đa dạng về địa lý, có các đồng bằng phì nhiêu, các đồi rừng cận núi cao, và có tám trong số mười núi cao nhất thế giới, trong đó có núi Everest. Kathmandu là thủ đô và thành phố lớn nhất của Nepal.

Vào giữa thiên niên kỷ 1 TCN, người sáng lập Phật giáo là Gautama Buddha sinh tại miền nam Nepal. Nepal chưa từng bị thuộc địa hoá, song đóng vai trò là vùng đệm giữa Đại Thanh và Ấn Độ thuộc Anh. Nội chiến Nepal dẫn đến kết quả là tuyên bố thành lập nước Cộng hoà vào năm 2008.

Nepal hiện nay là một nước Cộng hoà nghị viện thế tục liên bang, gồm có bảy bang. Nepal là một quốc gia đang phát triển, có chỉ số phát triển con người HDI xếp thứ 144 thế giới vào năm 2016. Nepal cũng có tiềm năng khổng lồ về thuỷ điện để xuất khẩu. Nepal gia nhập Liên Hiệp Quốc vào năm 1955, ký kết các hiệp định hữu nghị với AĐ vào năm 1950 và với TQ vào năm 1960. -Đại đa số cư dân Nepal tin theo Ấn Độ giáo. Shiva được cho là thần hộ mệnh của quốc gia. Nepal có đền thờ Shiva nổi tiếng là đền Pashupatinath, là nơi tín đồ Ấn Độ giáo từ khắp thế giới đến hành hương. Lumbini là một thánh địa hành hương Phật giáo, và là một di sản thế giới UNESCO. Nơi đây theo truyền thống được cho là nơi sinh của Đức Phật vào năm 563 TCN,


NEPAL: Tiến sĩ Sanduk Ruit : Vị ‘Thần y’ giúp hơn 100.000 người mù sáng mắt trở lại mà không cần tiền suốt 30 năm qua


Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết có khoảng 39 triệu người đang bị mù lòa trên toàn thế giới. Mặc dù gần 80% số người có bệnh về mắt có thể được chữa khỏi hoặc ngăn chặn được bệnh, nhưng 90% trong số đó là những người thuộc diện thu nhập thấp và không có đủ khả năng để điều trị.

Điều này đã thôi thúc Tiến sĩ Sanduk Ruit, một bác sĩ nhãn khoa 60 tuổi nổi tiếng và được kính trọng ở Nepal. Sinh năm 1954 tại chân núi Kanchenjunga, ngọn núi lớn thứ ba trên thế giới, vào năm lên 6 tuổi, Sanduk được cha gửi vào trường nội trú ở Ấn Độ vì không có trường làng. Sinh năm 1954 tại chân núi Kanchenjunga, ngọn núi lớn thứ ba trên thế giới, vào năm lên 6 tuổi, Sanduk được cha gửi vào trường nội trú ở Ấn Độ vì không có trường làng.


Vị bác sĩ mang lại phép màu


Tiến sĩ Ruit & Bệnh viện mắt Tilganga ở Kathmandu Tiến sĩ Ruit thấu hiểu cuộc sống cơ cực của những người nghèo khó. Ông lớn lên ở một ngôi làng xa xôi hẻo lánh trong dãy Himalaya, nơi người ta phải đi bộ một tuần để tới được trường học gần nhất. Khi em gái của ông chết vì bệnh lao dù thực tế là căn bệnh đó có thể chữa được, những mất mát mà ông phải trải qua đã nhen nhóm trong ông mong muốn được phục vụ cộng đồng. Ông đã quyết định chọn con đường sẽ đem lại lợi ích cho những người khác nữa chứ không chỉ cho bản thân mình

“Nghe có vẻ buồn nhưng bạn nhận ra rằng cuộc sống rất ngắn ngủi và không thể đoán trước. Cái chết là một người thầy vĩ đại. Nó nhắc nhở bạn, gần như mỉa mai, rằng tất cả mọi người đều được định trước ngày mình sẽ phải chết. Tôi là một người chết sau tất cả mọi thứ tôi có. Vậy nên tôi phải làm những gì tốt nhất để mọi người có được cuộc sống tốt đẹp hơn. Tôi phải làm điều đó trước khi qua đời”.

Tiến sĩ Sanduk Ruit quyết định dành trọn cuộc đời mình để chăm sóc mắt cho những người kém may mắn

Ông đã phát triển một kỹ thuật an toàn và hiệu quả để loại bỏ đục thủy tinh thể chỉ trong vòng 5 phút

Điều này cho phép ông thực hiện phẫu thuật trên nhiều bệnh nhân chỉ trong một khoảng thời gian ngắn. Ông cũng truyền dạy phương pháp này cho các bác sĩ khác. Ông đã tới các nơi ở châu Á, châu Phi, và cả ở Bắc Triều Tiên trong vòng 30 năm qua, và giúp phục hồi thị lực cho hơn 100.000 bệnh nhân.

Năm 1994, Tiến sĩ Ruit cộng tác với người thầy và cũng là người bạn tốt của mình Fred Hollows, một bác sĩ nhãn khoa và nhà từ thiện người Úc, họ đã cùng nhau thành lập nên Viện nhãn khoa Tilganga (TIO) hay còn được gọi là Bệnh viện Mắt Tilganga ở Kathmandu. TIO đã cam kết cung cấp dịch vụ chăm sóc mắt đẳng cấp thế giới cho tất cả người dân Nepal. Viện chuyên phát triển các loại kính áp tròng công nghệ cao, thường được sử dụng cho những bệnh nhân bị đục thủy tinh thể hoặc cận thị. Những chiếc kính này cũng được xuất khẩu đi hơn 30 quốc gia trên toàn thế giới.


Bệnh viện mắt Tilganga ở Kathmandu


Có rất nhiều người ở Nepal không thể tiếp cận được các cơ sở chăm sóc y tế trong khu vực của mình và chưa bao giờ nhìn thấy một bác sĩ nào trong đời. Cùng với đội ngũ của mình, Tiến sĩ Ruit đã tổ chức các trại khám mắt di động để tới được các khu vực nông thôn của Nepal và các nước láng giềng. Họ đi bộ nhiều ngày và dọn dẹp những nơi khám bệnh dã chiến như lớp học, lều, và thậm chí cả chuồng trại gia súc để làm phòng phẫu thuật mắt di động.

Họ tận tình chữa trị cho bệnh nhân mà không quản tới việc những người này có thể trả cho họ được bao nhiêu tiền viện phí

Một bệnh nhân nghèo chưa từng nhìn thấy một vị bác sĩ nào trước đây

Gần 500 bệnh nhân khác đã đi bằng xe đạp, xe máy, xe buýt, hoặc thậm chí còn mang theo người thân của họ theo trong nhiều ngày đi đường chỉ để gặp được Tiến sĩ Ruits ở trại khám mắt di động.

Lều dã chiến của bệnh viện di động nằm ở phía nam Kathmandu.

Ông chỉ mất năm phút để thực hiện một ca phẫu thuật đục thủy tinh mà nhờ đó cuộc sống của bệnh nhẫn sẽ mãi mãi thay đổi. Một người đàn ông 80 tuổi ở Bắc Triều Tiên đã nhìn thấy được con trai của mình lại một lẫn nữa sau 10 năm bị mù hoàn toàn. Nhiếp ảnh gia người Úc Michael Amendolia, người được đi cùng tiến sĩ Ruit và các đồng nghiệp của ông từ năm 1990, đã bắt được khoảnh khắc cảm động này nhờ chiếc máy ảnh.

Người cha 80 tuổi nhìn lại được mặt con trai mình sau 10 năm mù hoàn toàn

Một bệnh nhân chạm thử vào mũi vị bác sĩ sau khi được phẫu thuật để chứng minh bà đã có thể nhìn trở lại

Nhiều người đã coi ông như một “Vị thần ánh sáng”. Tất cả những gì có thể miêu tả ngắn gọn về ông là một bác sĩ tốt bụng sống để phục vụ mọi người. Ông có thể đã có cuộc sống đầy đủ và sang trọng hơn, nhưng thay vào đó ông đã chọn ở lại Nepal và đi tới những vùng xa xôi nhất trên thế giới để mang lại ánh sáng cho các bệnh nhân nghèo.

“Quan niệm của tôi về sự thành công không phải là số tiền một người kiếm được, mà là tầm ảnh hưởng của cuộc đời của anh ta.” – Tiến sĩ Sanduk Ruit


LỜI KẾT


- Công trình siêu việt của Ramanujan được giáo sư Anh nổi tiếng Hardy công nhận – cậu bé thiên tài Ấn Độ này, bèn mời ngay Ramanujan sang đại học Cambridge ở Anh để nghiên cứu và thuyết giảng về toán học. Trong thời gian đó, Ramanujan đã công bố hơn 30 bài báo và ông được vinh dự giới thiệu vào Hiệp Hội Hoàng Gia (tổ chức này gồm những nhà khoa học thông thái khám phá những tiến bộ khoa học cho nhân loại).

  "Đối với một thời gian ngắn, năm năm, ông (Ramanujan) đã châm lửa thắp sáng thế giới của toán học", Ono nói với LiveScience.

-Sự bất đồng giữa hai thầy trò Hardy và Ramanujan được hai nhà văn David Mason viết trong bài "Resonant Numbers" và David Leavitt, tác giả của sách "The Indian Clerk" nhận xét về điều khác biệt về niềm tin tâm linh và sự khám phá toán học. Sự mê tin của nhà toán học Ramanujan khiến cho giáo sư Hardy bực mình. Những chi tiết như vậy được đưa vào sách vở văn học, sân khấu kịch nghệ và phim ảnh. Chính những điểm gây cấn này đã tạo cho cốt truyện hay câu chuyện trở nên lâm ly. Cần nói thêm là Hardy lớn hơn Ramanujan 10 tuổi. Hardy (sinh 1877) và Ramanujan(sinh 1887).

-Vị ‘Thần y’ giúp hơn 100.000 người mù sáng mắt trở lại mà không cần tiền suốt 30 năm qua

Tổ chức Y tế Thế giới cho biết có khoảng 39 triệu người đang bị mù lòa trên toàn thế giới. Mặc dù gần 80% số người có bệnh về mắt có thể được chữa khỏi hoặc ngăn chặn được bệnh, nhưng 90% trong số đó là những người thuộc diện thu nhập thấp và không có đủ khả năng để điều trị.

Điều này đã thôi thúc Tiến sĩ Sanduk Ruit, một bác sĩ nhãn khoa 60 tuổi nổi tiếng và được kính trọng ở Nepal.

“Nghe có vẻ buồn nhưng bạn nhận ra rằng cuộc sống rất ngắn ngủi và không thể đoán trước. Cái chết là một người thầy vĩ đại. Nó nhắc nhở bạn, gần như mỉa mai, rằng tất cả mọi người đều được định trước ngày mình sẽ phải chết. Tôi là một người chết sau tất cả mọi thứ tôi có. Vậy nên tôi phải làm những gì tốt nhất để mọi người có được cuộc sống tốt đẹp hơn. Tôi phải làm điều đó trước khi qua đời”.

Tiến sĩ Sanduk Ruit quyết định dành trọn cuộc đời mình để chăm sóc mắt cho những người kém may mắn. Nhiều người đã coi ông như một “Vị thần ánh sáng”. Tất cả những gì có thể miêu tả ngắn gọn về ông là một bác sĩ tốt bụng sống để phục vụ mọi người. Ông có thể đã có cuộc sống đầy đủ và sang trọng hơn, nhưng thay vào đó ông đã chọn ở lại Nepal và đi tới những vùng xa xôi nhất trên thế giới để mang lại ánh sáng cho các bệnh nhân nghèo.

“Quan niệm của tôi về sự thành công không phải là số tiền một người kiếm được, mà là tầm ảnh hưởng của cuộc đời của anh ta.” – Tiến sĩ Sanduk Ruit.


(Tham khảo: Sách báo - Internet)



Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ SàiGòn ngày 05.03.2018 .

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004