Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Miếu Ông Tà





Vài Suy Nghĩ Về Miếu Ông Tà

Khu Phố 4 Phường Bến Thành Quận 1










1-Miễu ông Tà ở khu phố 4 phường Bến Thành Quận 1:


Nằm sâu giữa khu phố 4 phường Bến Thành, miếu ông Tà đã tồn tại giữa khu tứ giác Nguyễn Du – Trương Định – Lý Tự Trọng – Đặng Trần Côn từ thời xa xưa mà ngày nay không ai biết nó xuất hiện từ lúc nào. Anh Lưu Phương Trinh năm nay trên 40 tuổi có nhà ở gần ngôi miếu cho biết từ hồi còn nhỏ về sống với cha mẹ ở đây thì đã thấy có ngôi miếu này. Và thời cha mẹ anh hồi còn nhỏ cũng cho biết đã thấy nó rồi và bà con sinh sống quanh đây đã tới lui quét dọn và cúng kiến hàng ngày. Họ đã hùn tiền, chung sức ra công tôn tạo ngày càng thêm đẹp đẽ khang trang như ngày nay.


Như vậy, có thể suy đoán là ngôi miễu ông Tà đã có mặt ở khu vực này từ xưa lắm, có cả trăm năm. Trong một bài luận văn tốt nghiệp trường Đại học xã hội và nhân văn, sinh viên Lại Thị Thu Trang với đề tài “Đền Hindu giáo ở TP HCM dưới góc nhìn văn hóa” đã viện dẫn nguồn nghiên cứu của ông Nguyễn Phan Quang (Góp thêm tư liệu Sài Gìn – Gia Định năm 1859-1945, NXB Trẻ TP HCM, năm 1998, trang 46) theo thống kê từ năm 1897-1905 (Thành Phụng tại Sài Côn bị liên quân của thực dân Pháp và Tây Ban Nha đánh chiếm vào mùa xuân năm 1859 mở ra thời kỳ nước ta bị Pháp đô hộ trên 80 năm), số người Ấn ở Sài Gòn là 910, người Khmer 58-128, người Hoa 13.113, người Pháp 2.323 trong khi người Việt từ 16.497 lên 54.700 và người Âu khác 164.300 v.v…Tuy ít người nhưng cộng đồng người Ấn tập trung sinh hoạt ở ba ngồi đền mà họ tín ngưỡng : đền Mariamman ở 45 Trương Định (nay thuộc khu phố 4 phường Bến Thành), đền Subramanian Swamy ở 98 Nam kỳ khởi nghĩa và đền Thenday Yutthapani ở số 66 Tôn Thất Thiệp (nay thuộc phường Bến Nghé).

Về niên đại, đền Thenday Yutthapani xuất hiện năm 1880, do những thương nhân Ấn Độ kinh doanh vải sợi, địa ốc, tín dụng xây dựng và tập trung sinh hoạt tôn giáo. Kế đó là đền Subramanian Swamy. Cả hai đền thờ thần Murugan và Ganesha đều là hai con của Thần Shiva và nữ thần Parvati. Còn đền Mariamman, theo hồ sơ di tích và cơ sở tín ngưỡng quận 1 của Huỳnh Ngọc Trảng và Đặng Văn Dũng thực hiện tháng 3 năm 1991, đền được xây dựng từ năm 1885 trên mảnh đất của ngôi miếu cũ, lúc đầu chỉ là một ngôi đền nhỏ đơn sơ lợp mái tôn trên mặt bằng ngôi miếu tàn của người Việt thờ Linh sơn thánh mẫu. Từ năm 1950 tới năm 1952, toàn bộ ngôi đền được xây dựng lại với kiến trúc như hiện nay.(Theo bài luận văn của Thu Trang đã dẫn trên).

Chúng ta nên chú ý tới tài liệu ở trên cho biết đền nữ thần Mariamman được xây dựng ban đầu trên nền ngôi miếu tàn của người Việt thờ Linh sơn Thánh mẫu.



Qua nghiên cứu, chúng tôi phát hiện ra rằng núi Bà Đen ở Tây Ninh còn có tên là núi Linh Sơn vì trên núi có hang động thờ vị nữ thần tên Bà Đen mà người Khmer gọi là Phnom Chơn Bà Đen. Theo sách Tây Ninh xưa và nay của tác già Huỳnh Minh, 1971, Bà Đen có nhiều sự tích kể lại, trong đó có sự tích liên quan tới cái chết của cô gái quê ở Trảng Bàng tên Lý Thị Thiên Hương thời chiến tranh giữa Tây Sơn và chúa Nguyễn. Bị quân Tây Sơn đuổi tới đây, Nguyễn Ánh được Thiên Hương báo mộng mà thoát nạn nên khi lên ngôi vua niên hiệu Gia Long đã nhớ công ơn của người báo mộng mà sắc phong là “Linh Sơn Thánh Mẫu chủ trì Linh Sơn tiên thạch động”và đúc tượng đồng đen để thờ. Còn trước đó, theo chuyện kể dân gian, chính người Khmer sinh sống quanh đây đã thờ Bà Đen sau thời kỳ Phù Nam bị Chân Lạp thôn tính (TK thứ 7). Do đó, Bà Đen đã được chuyển hóa từ Duma hay Durga (còn có tên gọi hóa thân là Parvati hay Mariamman) là vợ của Thần Siva thuộc Bà La môn giáo được dân Phù Nam và Champa tôn thờ.

Trước khi người Việt thời chúa Nguyễn Phúc Chu từ miền Trung di dân vào Nam lập nghiệp (1623) sau khi đã được vua Chey Chetta II của Chân Lạp cho mượn đất lập hai đồn thu thuế ở Prei Nokor (Sài Côn – Chợ Lớn) và Kas Krobey (Bến Nghé) và Nguyễn Hữu Cảnh vào tổ chức hành chính lập Gia Định phủ mùa xuân năm 1687. Trong khi trước đó, năm 1674 Đệ nhị vương của Chân Lạp là Nặc Nộn còn cư trú ở Prei Nokor được sự bảo trợ của chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687). Theo Địa chí văn hóa TP HCM – 1987, Kas Krobey và Prei Nokor vào thế kỷ 17 là thị trấn nhỏ cất bằng vật liệu nhẹ với một số dân cư Khmer ít ỏi, nằm trên trục lộ giao thông và trao đổi sản phẩm bằng đường thủy.

Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Gia Định lập dinh Điều Khiển để làm cơ quan điều hành và quản lý nhà nước của chúa Nguyễn ở miền Nam lúc ban đầu. Cơ quan này đoán định nằm ở khu vực chợ Thái Bình - nhà thờ Huyện Sĩ ngày nay thuộc phường Phạm Ngũ Lão Quận 1. Còn trục lộ giao thông đường bộ là đường Nguyễn Trải ngày nay chạy ngang qua thành Bát Quái theo đường cái quan từ Nam ra Trung, Bắc tiếp nối đường Nguyễn Du, ngay phía sau lưng chợ Bến Thành. Thời Tả Quân Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn đã xuất hiện vườn Ông Thượng nay là Công viên văn hóa Tao Đàn. Chắc chắn trong giai đoạn này đã có nhiều người dân sinh sống quanh đây, trong đó có người Khmer. Vì nơi đây đã xuất hiện cảnh sinh hoạt “trên bến dưới thuyền” do phía dưới đường cái quan là đường thủy với nhiều kinh rạch mà trước mặt thành Bát Quái là “bến thành” (sau này là chợ Bến Thành) tức bên bờ rạch “Nguyễn Huệ - Lê Lợi – Lê Lai” (hệ thống rạch Cây Cám ngày xưa). Có thể người Khmer sinh sống ở đây đã lập ngôi miếu thờ Bà Đen mà người Việt gọi là Linh sơn thánh mẫu sau khi Bà Đen ở núi Tây Ninh có tên mới là Linh sơn thánh mẫu. Như vậy, chính Bà Đen (tiếng Khmer là “Yiey Mau”) do người Khmer đặt tên cho ngôi miếu được xây dựng ở trên nền đất cổ Prei Nokor hay Kas Krobey (nay ở số 45 Trương Định phường Bến Thành) còn người Việt hay người Hoa gọi Linh Sơn Thánh Mẫu, đúng như nghiên cứu của sinh viên Thu Trang nêu trong luận văn tốt nghiệp của mình (đã dẫn ở trên).

Còn miễu Ông Tà hiện nay ở giữa khu phố 4 cũng có thể do người Khmer lập ra cùng lúc với miếu Bà Đen ở 45 Trương Định nhưng do nhường chỗ cho người Ấn xây dựng đền bà Mariamman hay đã bỏ phế trước đó mà người Ấn tới Sài Gòn năm 1885 chiếm lấy. Ông Tà , Bà Đen thực sự là biến thể của thần nam Siva và thần nữ Duma như nói ở trên. Do đó, hai nơi cùng được thờ cúng ở gần nhau. Riêng miếu Ông Tà cũng có thể chỉ mới lập ra từ khi một số gia đình người Việt kiều thời Lon Non chạy loạn về đây trú ngụ mà lập để thờ cúng theo tín ngưỡng dân gian vốn có từ bên Campuchia khi về mang theo. Từ đó tới nay cũng đã trên nửa thế kỷ. Nhưng theo tìm hiểu, Việt kiều Campuchia không hề tín ngưỡng Bà Đen hay ông Tà. Như vậy, ngôi miếu này có từ xa xưa, có thể là thời Prei Nokor mà tác giả là ngườ Khmer sinh sống ở đây.

Bà Mai năm nay 65 tuổi có nhà ở gần miễu Ông Tà giữa khu phố 4 phường Bến Thành cho biết, gia đình bà từ Cà Mau về đây cư ngụ lúc bà còn nhỏ 5,6 tuổi đã thấy có ngôi miếu này rồi. Lúc ấy, ở khu vực này chỉ có lưa thưa vài ngôi nhà. Nay thì đông nghẹt, chen chúc nhau cất nhà, xây nhà khiến lối đi ngày càng thu hẹp lại và trở nên quanh co nhưng vẫn chừa chỗ cho ngôi miếu tồn tại mặc dù nhà dân ở bao quanh sát vách ở ba mặt. Bà còn cho biết và nhiều người dân sống chung quanh miếu đều cùng nhận định là hòn đá Ông Tà hầu như ngày càng lớn lên cùng với nhiều hòn đá cuội ở hai bên (?). Số lượng đá cuội nằm hai bên ông Tà ngày càng nhiều lên do bà con sống quanh đây mang tới chất chồng thêm.

Nhiều bà con tự nguyện quét dọn và nhang đèn thờ cúng thường xuyên vì cảm nhận được sự linh thiêng của Ông Tà.


2-Mối quan hệ giữa nữ thần Linh sơn thánh mẫu với nữ thần Mariamman :


Trong cuộc Hội thảo khoa học do trường Dại học Khoa học xã hội nhân dân TP HCM phối hợp với Ban Qủan Trị đền Bà Mariamman tổ chức vào ngày 25/10/2017 về chù đề “Tín ngưỡng nữ thần Mariamman – giá trị di sản Ấn Độ trong giao lưu văn hóa với Việt Nam”, một trong số 18 đề tài được trình bày tại hội thảo có tựa đề “Bà Đen, con đường hưng khởi của một vị Neak Ta” (Yiey Mau, the way a Neak Ta arose) của giáo sư Jean Michel Filippi đến từ trường Đại học Hoàng Gia Phnom Penh.

Giáo sự người Pháp này ngiên cứu riêng về Bà Đen (Yiey Mau) và Neak Ta ở Campuchia ngày nay, nhất là hai vị thần này được nhân dân Campuchia lập miếu thờ cúng rất phổ biến trong vòng 20 năm nay, đặc biệt mới nhất ở khu du lịch Bokor (người Nam Bộ Việt Nam quen gọi là Tà Lơn hay núi Tà Lơn trong dãy núi Cardamom (Dậu Khấu) nằm sát biên giới Việt Nam - Campuchia. Nhưng hình như ông lẫn lộn giữa Yiey Mau với Neak Ta. (Now, Yiey Mau is required to perform a number o1f actions just like a Neak Ta. In other words, Yiey Mau became a full-fledged Neak Ta-bài nói chuyên đã dẫn ở trên, dòng cuối trang 35). Trong hki đó, kết luận bài nói chuyện ông đưa ra nhận xét chung cục “Yiey Mau được Khmer hóa nữ thần Kali hay Durga thuộc Ấn Độ giáo dưới hình dáng của Nieng Khmau (the Black Lady – Bà Đen). Theo thần thoại Ấn Độ, Kali hay Durga hay Uma và Parvati là một. Sở dĩ các nữ thần này đều gọi là Bà Đen vì được tạc bằng đồng đen hay loại vật liệu như gỗ được sơn màu đen. Hơn nữa tượng tạc có màu đen là do nguồn gốc của nữ thần này thuộc tộc da đen (Dravidian) cư trú ở địa bàn miền Nam Ấn Độ trái với tộc Aryan da trắng xâm nhập vào Ấn Độ từ phương Bắc và đồng hóa hay hợp chủng với Dravian sau khi hoàn thành công cuộc chiếm đóng cả bán đảo Ấn Độ rộng lớn.

Bà Đen (Yiey Mau hay Neang Mau) là một nhưng hoàn toàn khác với Neak Ta (Ông Tà theo cách gọi của dân Nam Bộ Việt Nam). Ông Tà rõ ràng chính là thần Siva được Khmer hóa. Do đó, không thể Yiey Mau là Neak Ta được. Thần Siva có biểu tượng là cột đá, hòn đá có tên “linga”(dương vật). Khi chuyển hóa thành Ông Tà (Neak Ta) thì có hình tượng là hòn đá – đá cuội – hay cục đá bất kỳ , được đặt đứng hay nằm tùy theo vị trí nơi thờ tự.

Chùa Một cột ở Hà Nội hay cột kinh đá ở Hoa Lư đều là biểu tượng của “linga’ hay thần Siva được biến thể theo tín ngưỡng đạo Phật ở Việt Nam và cục đá (đá cuội) theo tín ngưỡng của người Khmer ở Nam Bộ.

Vương quốc Phù Nam (TK 2-7) và Vương quốc Champa tiếp nhận văn hóa Ấn Độ rất sớm và thực hành tín ngưỡng Bà La môn giáo hay Ấn Độ giáo, được coi là quốc giáo. Các di tích tháp Cham hay di chỉ có hiện vật bằng đá hay đồng ở Nam Cát Tiên (thuộc tỉnh Đồng Nai) hay Óc Eo (thuộc tỉnh An Giang) đều cho thấy như thế. Sau khi thôn tính Phù Nam, Chân Lạp tiến hành xây dựng vương triều Angkor với Angkor Wat, AngKor Thom, đặc biệt xây dựng khu tượng đá bốn mặt Bayon thời vua Jayavarma II (802-850). Ba vị thần Brama, Wishnu, Siva (Trimurti) của Bà La Môn giáo hay Ấn Độ giáo được tôn thờ, sung bái khắp Angkor Wat , Angkor Thom và các đền tháp khác.

Nhà nước hay Vương quốc Chân lạp chia thành hai khu vực : Khmer Lơ (Lục Chân Lạp – vùng trên) quanh biển Hồ Tonlesap lên tới Nam Lào và Khmer Krom (Thủy Chân Lạp –vùng dưới) ứng với đồng bằng sông Mê Kong (miền Tây Nam Bộ). Nhưng vùng đồng bằng sông Mê Kong ẩm thấp đầy dẫy kinh rạch nên ít có người ở. Tới thế kỳ thứ 15-16, do áp lực đánh chiếm, xâm nhập và thôn tính của người Xiêm (Thái) mà số đông người Khmer tản cư xuống miền Đông (Tây Ninh, Sài Côn – Prei Nokor) rồi miền Tây Nam Bộ (Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Cà Mau…). Theo sau Bà La Môn giáo là Phật giáo đại thừa. Ngôi chùa cổ nhất ở Trà Vinh có Ao Bà Om ghi nhận cho tới nay tuổi thọ 900 năm. “Bà Om” có thể được gọi trại từ chữ “Um” (vợ thần Siva).

Người Khmer ở Lục Chân Lạp hay Thủy Chân Lạp đều dễ dàng tiếp nhận Ấn Độ giáo và Phật Giáo Nam tông nhưng ở Thủy Chân Lạp sau khi tiếp nhận Phật Giáo thì có thay đổi trong tín ngưỡng cũ là chuyển hệ Siva thành Neak Ta và Uma, Parvati thành Yiey Mau, có thể do không muốn thờ cúng đồng thời các thần chủ của Ấn Độ Giáo ngang hang với Thích ca Mâu ni của Phật Giáo. Xưa thì ở Thuỷ Chân lập (Nam Bộ) chuyển đối Siva thành Neak Ta và Uma thành Yiey Mau trước. Nay thì tới phiên Lục Chân Lạp (Campuchia) bắt đầu chuyển đổi tín ngưỡng bằng cách khôi phục lại đền thờ Yiey Mau và Neak Ta theo ghi nhận của giáo sư Michel trong bài tham luận của mình : “Yiey Mau, the way a Neak Ta arose”. Khu du lịch mới trên núi Bokor (Tà Lơn) hiện nay có casino đồng thời cũng được xây dựng thêm tượng Yiey Mau cao lớn và bên cạnh có thờ tượng Neak Ta.

Như vậy, sự tích Bà Đen ở núi Tây Ninh, Bà chúa Xứ ở núi Sam Châu Đốc và riêng Bà Đen ở Sài Côn (chợ Bến Thành) có tên Linh Sơn Thánh Mẫu sau khi Bà Đen ở Tây Ninh được Gia Long đổi tên đều có nguồn gốc từ Uma, Kali, Parvati hay sau này là Mariamman.. Riêng đền thờ nữ thần Mariamman do chính người Ấn Độ xây dựng để cầu nguyện trong thời gian làm ăn, lập nghiệp ở Sài Gòn vào thế kỷ 19 dưới thời Pháp thuộc cùng với hai đền thờ nam thần Muruga và Ganeshsa (ở phường Bến Nghé) đều là con của nữ thần mẹ Mariamman (ở phường Bến Thành).

Khi có đền bà Mariamman thì tên gọi Bà Đen một lần nữa tái xuất hiện hoặc do đền xây dựng trên nền cũ Linh Sơn Thánh Mẫu (Bà Đen) thời Prei Nokor hoặc nhận ra tượng đồng đen của nữ thần Mariamman mà người dân ở chợ Bến Thành gọi tiếp theo là “chùa Bà Đen”.

Ngôi miếu thờ Ông Tà (Neak Ta) ở giữa khu phố 4 phường Bến Thành ngày nay chắc chắn có nguồn gốc lai lịch như trên đã trình bày.



Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ SàiGòn ngày 25.02.2018 .


trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004