Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




VIỆT SỬ TẠP LUẬN








AN NAM ĐÔ HỘ PHỦ (3)




Đ ại Việt sử ký toàn thư chép: “Quý Mùi, [803], (Đường Trinh Nguyên năm thứ 19). Đô đốc Bùi Thái sai lấp bỏ những hào rãnh ở trong thành, hợp làm một thành. Tướng ở châu là Vương Quý Nguyên đuổi Bùi Thái đi. Vua Đường vời Xương hỏi tình trạng. Xương đã ngoài 70 tuổi, mà tâu việc rõ ràng. Vua Đường cho là giỏi, lại sai làm Đô hộ Giao Châu. Xương đến, người trong châu đều mừng, loạn bèn yên”.

Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Năm Tân Tị (801). (Đường, năm Trinh Nguyên thứ 17). Nhà Đường dùng Bùi Thái làm đô hộ. Triệu Xương xin người sang thay, nhà Đường sai lang trung bộ Binh là Bùi Thái sang thay. Bùi Thái đến nơi, bắt quân sĩ lấp bỏ những hào rãnh ở trong thành, hợp làm một thành, lại đắp thành ở các châu Hoan và Ái. Sau đó Bùi Thái bị bộ tướng trong châu là Vương Quý Nguyên đuổi đi.

Năm Quý Mùi (803). (Đường, năm Trinh Nguyên thứ 19). Tháng 12, nhà Đường lại cử Triệu Xương sang làm đô hộ. Theo Đường thư, bấy giờ Triệu Xương về triều làm tế tửu chưa được bao lâu, bộ tướng Giao Châu đánh đuổi Bùi Thái. Đức Tông vời Triệu Xương tới để hỏi tình hình. Triệu Xương bấy giờ đã ngoài 70 tuổi, tâu bày rõ ràng không lẫn; Đức Tông lấy làm lạ, lại cử sang làm đô hộ. Khi tờ chiếu đến nơi, người Giao Châu cùng nhau mừng rỡ; quân làm phản liền yên ngay”.

Theo như Việt sử thì năm 801 Triệu Xương xin nghỉ, đồng thời xin triều đình người sang thay, nhà Đường cử Bùi Thái sang, khi sang Thái cho lấp hào rãnh trong thành hợp làm một thành, lại đắp thành ở châu Ái và châu Hoan nên bị bộ tướng là Vương Quý Nguyên đuổi khỏi châu, vua Đường thấy vậy cho Triệu Xương sang thay, dân chúng vui mừng, loạn lại yên. Có 2 sự kiện đáng chú ý là: lấp hào rãnh hợp làm một thành và dân chúng vui mừng. Việc đào hào rãnh để tách thành 2 thành có từ khi nào? Chắc chắn là từ thời Triệu Xương, nhưng vì sao Triệu Xương lại cho đào rãnh để tách làm 2 thành? Như chúng ta biết Đỗ Anh Hàn vây phủ làm Cao Chính Bình lo lắng mà chết, Triệu Xương đến châu phủ dụ được yên. Nên việc có 2 thành gợi ý chúng ta về việc ngoài Triệu Xương làm chủ thành trước đây của Cao Chính Bình, thì bản thân Đỗ Anh Hàn cũng làm chủ một thành khác. Khi Bùi Thái tới đã lệnh lấp hào rãnh, hợp 2 thành làm một, khiến cho mối quan hệ giữa chính quyền của người bản địa xung đột với chính quyền địa phương của nhà Đường, kết quả là Bùi Thái bị đuổi khỏi châu. Triệu Xương vốn là người có chính sách mềm mỏng khôn khéo, dựa vào người bản địa, do vậy mà trị An Nam được hơn 10 năm, dưới trướng của Xương có một người tên là Đỗ Anh Sách, người này là dân bản địa và có cùng họ, tên đệm với Đỗ Anh Hàn, tôi cho rằng Đỗ Anh Sách và Đỗ Anh Hàn có mối quan hệ họ hàng. Trong hệ thống chính quyền tại An Nam thì Đỗ Anh Sách chỉ đứng sau Triệu Xương và ngang với Trương Chu, thế mà về sau Trương Chu làm An Nam đô hộ (năm 808) trong khi Đỗ Anh Sách thì không, mà vẫn làm thuộc hạ dưới trướng với mức độ quan trọng như dưới thời Triệu Xương. Việc này cho thấy: Đỗ Anh Sách làm chức cao dưới trướng của Triệu Xương cũng là nằm trong chính sách của Xương, chính sách dựa vào người bản địa để trị, nhưng cũng đồng thời cho thấy Đỗ Anh Sách rất có uy thế trước người bản địa. Gợi ý cho chúng ta về một thế lực của người bản địa tồn tại song song với chính quyền của nhà Đường ở An Nam và nó (nếu có) thì là chính quyền do Đỗ Anh Hàn thiết lập.

Khi Triệu Xương tới châu thì sẽ tiếp tục duy trì mối quan hệ hợp tác như trước đây từng làm, nghĩa là đảm bảo quyền lợi của người bản địa, vì thế mà dân chúng cùng mừng. Nhưng đó là một giả thuyết, chúng ta cũng có thể đặt một giả thuyết khác là: Trương Chu và Đỗ Anh Sách vốn là người rất có uy thế trong châu, nay Triệu Xương thôi chức, họ có tham vọng muốn thâu tóm An Nam, nhưng nay triều đình lại cử viên quan tới nhậm chức, thành ra họ lập kế hoạch, dùng Vương Quý Nguyên để đuổi Bùi Thái đi.

Thế nhưng Hán sử khi chép về sự kiện Quý Nguyên đuổi Bùi Thái khỏi châu lại không nhắc tới việc lấp các hào rãnh để hợp làm một thành.

Cựu Đường thư chép: “Năm Trinh Nguyên thứ 18 (…) tháng 3 (…) canh thìn, lấy từ bộ viên ngoại lang Bùi Thái làm kiểm giáo binh bộ lang trung, sung An Nam đô hộ, kiêm quản kinh lược sứ” và “Năm Trinh Nguyên thứ 19 (…) tháng 2 (…) kỷ hợi, An Nam kinh lược sứ Bùi Thái bị bộ tướng Vương Quý Nguyên đuổi khỏi châu” và “Năm Trinh Nguyên thứ 20 (…) tháng 3 (…) kỷ hợi, lấy quốc tử tế tửu Triệu Xương làm An Nam đô hộ, ngữ sử đại phu, kiêm quản kinh lược sứ” và “Bái [Triệu Xương] làm An Nam đô hộ, người di hưởng ứng giáo hoá. Năm 70 tuổi bị đau chân, xin về nghỉ, để binh bộ lang trung Bùi Thái thay, phong quốc tử tế tửu. Gặp lúc Thái bị thủ lĩnh người nam trục xuất khỏi châu, Đức Tông chiếu vời hỏi tình hình. Xương đã 72 tuổi nhưng vẫn tinh kiện, vua lấy làm kỳ lạ, phục mệnh làm đô hộ, người nam cùng mừng”.

Tư trị thông giám chép: “Năm Trinh Nguyên thứ 19 (năm 803) (…) tháng 2 (…) đinh hợi, An Nam nha tướng Vương Quý Nguyên trục quan sát sử Bùi Thái, Thái chạy tới Chu Diên. Cùng tháng tả binh mã sử Triệu Quân giết Quý Nguyên cùng đồng đảng, đón Thái về châu”.

Như vậy rất khó để có thể chắc chắn rằng: Đỗ Anh Hàn thực sự đã thiết lập một chính quyền song song với chính quyền tại An Nam của nhà Đường, tuy nhiên trong đoạn chép của Đường hội yếu ở trên có miêu tả vài chi tiết nhỏ về tình hình An Nam thời Bùi Thái như: Thành trì châu Hoan, Ái bị Hoàn Vương và Côn Lôn thiêu rụi, không giữ quân thành và binh giới trong quân mất hết. Với những chi tiết này cùng với việc Thái bị Quý Nguyên đuổi khỏi châu chứng tỏ Thái không nắm quân lính trong tay. Trong khi Xương nghỉ đã xin triều đình cử người đến thay mà không hề tiến cử 2 thuộc hạ của mình là Trương Chu và Đỗ Anh Sách, như vậy thì khi Thái tới, với tư cách triều đình cử đến nhậm chức thay cho Xương (theo yêu cầu của chính Xương) thì Chu và Sách về bên ngoài phải tuân lệnh Thái và cũng về bên ngoài đối với 2 người này thì Thái như Xương. Thế nhưng khi Thái bị Nguyên đuổi chúng ta không thấy vai trò của Chu và Sách mà thay vào đó là Triệu Quân. Việc thiếu vắng vai trò của Chu và Sách trong sự kiện Thái bị đuổi khỏi châu cùng với sự miêu tả của Phàn Xước về tình hình An Nam trong Man thư cho thấy: Trương Chu không nắm binh quyền, chỉ là một kỳ khách cố vấn cho Triệu Xương mà thôi, trong khi Đỗ Anh Sách là người nằm binh quyền cao nhất ở An Nam sau Xương. Nhưng sự thiếu vắng vai trò của Sách khiến chúng ta khó hiểu, điều thú vị là sau khi Triệu Xương làm độ hộ lần thứ hai ở An Nam thì người kế nhiệm Xương chính là Trương Chu và Đỗ Anh Sách vẫn là người nắm binh quyền cao nhất sau Chu. Vậy là thời Triệu Xương và Trương Chu làm đô hộ, Đỗ Anh Sách với vai trò nắm giữ binh quyền, An Nam yên. Nhưng sau Triệu Xương và trước Trương Chu, thời Bùi Thái, khi thiếu vắng Đỗ Anh Sách, An Nam loạn, trước thì bị giặc ngoài tấn công sau thì bên trong làm phản, điều đó cho thấy vai trò quan trọng của Đỗ Anh Sách, người nắm giữ binh quyền trong tay. Đỗ Anh Sách là người bản địa nên binh lính ở An Nam do Sách chỉ huy cũng phần nhiều là người bản địa, nghĩa là Triệu Xương và Trương Chu đã dựa vào người bản địa để mà cai trị. Như vậy rõ ràng là Triệu Xương cũng không nắm toàn quyền, vẫn phải dựa vào Sách, điều này đã thêm bằng chứng cho thấy Xương đã phủ dụ Đỗ Anh Hàn, chứ không động binh, cũng có nghĩa Hàn đã không bị giết như Tân Đường thư chép. Xương phủ dụ được người nam, Hàn không bị giết, Xương phải dựa vào Sách và quân lính người nam để cai trị, quân lính mà Sách chỉ huy thường là quân lính theo Sách nhiều năm, trung thành với Sách, rất khó có thể là quân lính mà Cao Chính Bình để lại (vì quân lính này sẽ nghe lời Xương, mà nếu nghe lời Xương thì Xương không cần dựa vào Sách), thêm nữa Sách và Hàn lại cùng họ Đỗ Anh, tất cả dẫn ta tới giả thuyết rằng: Sách và Hàn có mối quan hệ họ hàng, có thể là anh em hoặc cha con thậm chí có thể là một người. Dù là như thế nào thì, kết quả là sau cuộc vây và tấn công phủ đô hộ năm 791, chính quyền phương bắc tại An Nam mà đứng đầu là Triệu Xương đã đàm phán, thoả thuận với nghĩa binh bản địa đứng đầu là Đỗ Anh Hàn, công cuộc ấy được tiếp nối bởi Đỗ Anh Sách ít nhất là tới thời Bùi Hành Lập (năm 813-817).

Một số thủ lĩnh An Nam thời thuộc Đường của Phạm Lê Huy viết: “Theo Cựu Đường thư Bùi Hành Lập được cử sang làm An Nam Đô hộ, bản quản Kinh lược Chiêu thảo sứ năm Nguyên Hòa thứ 8 (813). Và Tân Đường thư chép khi một người Lâm Ấp tên là Lý Lạc Sơn làm phản Hoàn Vương đến cầu viện binh, để lấy lòng Hoàn vương, Hành Lập đã sai “bộ tướng” Đỗ Anh Sách chém Lý Lạc Sơn” và “Phạm Đình Chi là một tù trưởng miền núi (khê động hào) được Đô hộ Bùi Hành Lập sử dụng cùng thời với Đỗ Anh Sách. Phạm Đình Chi thường xin Bùi Hành Lập nghỉ để đi tắm nhưng không quay lại đúng hẹn. Sau nhiều lần như vậy, Bùi Hành Lập lấy quân pháp xử phạt, đem giết Phạm Đình Chi, sau đó lại chọn trong số bọn tử đệ của Diên Chi một người để thay thế. Qua đó, chúng ta biết được rằng, giống như Đỗ Anh Sách, Phạm Đình Chi cũng bị ràng buộc phải có mặt ở trị sở của An Nam Đô hộ”.

Tư trị thông giám chép: “[Năm Nguyên Hòa 14 (819)] Mùa đông tháng 10, Dung quản [Kinh lược sứ] tấu An Nam tặc là Dương Thanh hạ Đô hộ phủ (An Nam đô hộ phủ trị tại Giao châu) giết Đô hộ Lý Tượng Cổ và vợ con, quan thuộc, bộ khúc hơn 1000 người. Tượng Cổ là anh của Đạo Cổ. Do tham lam, hà khắc nên để mất lòng người. Thanh nhiều đời làm tù trưởng người Man. Tượng Cổ gọi về làm nha tướng. Thanh u uất, bất đắc chí. Tượng Cổ sai Thanh dẫn 3 nghìn quân đánh Hoàng Động Man. Thanh nhân lòng người phẫn uất, dẫn quân ban đêm tập kích phủ thành, hạ thành”.

Thời Bùi Hành Lập làm đô hộ cũng vẫn sử dụng những người bản địa, ngoài Đỗ Anh Sách còn có Phạm Đình Chi, đến năm 818 Lý Tượng Cổ sang thay Bùi Hành Lập, Cổ đã thực hiện chính sách tham lam, hà khắc, lại sử dụng người bản địa đánh người bản địa, dẫn đến cuộc khởi nghĩa của Dương Thanh (năm 819-820), kết quả là Cổ bị giết năm 819.

Khi Triệu Xương làm đô hộ thì Hoàn Vương không giám tấn công, nhưng khi Bùi Thái vừa tới nơi thì Hoàn Vương và Côn Lôn đã thiêu rụi thành trì châu Hoan, châu Ái. Cả hai lại cùng là viên quan do triều đình cử xuống vậy thì sao phương nam lại có thái độ ứng xử khác nhau với 2 vị quan này, như vậy rõ ràng là uy thế của triều đình không trực tiếp lớn đối với phương nam, cái quyết định tới thái độ ứng xử của phương nam là chính sách cai trị của mỗi viên quan đô hộ do triều đình cử xuống.

Như vậy chúng ta có thể phán đoán rằng: Triệu Xương đã dùng chính sách mềm mỏng để yên được An Nam trước cuộc khởi binh của Đỗ Anh Hàn, tiếp theo đó Xương sử dụng chính sách dựa vào người bản địa để giữ yên phương nam, theo một nghĩa nào đó chúng ta có thể hiểu đây là sự hợp tác, khi Bùi Thái tới đã áp dụng nhiều chính sách cứng rắn đã dẫn đến sự bất hợp tác của người bản địa, kết quả là châu Hoan, Ái bị tấn công, bản thân thì bị trục xuất khỏi châu, để yên sự loạn này triều đình phương bắc cử Xương trở lại phương nam một chuyến.

Tiểu kết: Chúng ta không thể chắc chắn rằng khởi nghĩa của Đỗ Anh Hàn diễn ra từ năm 766 đến năm 803 nhưng qua những sự kiện chúng ta có thể đặt giả thuyết rằng: Đường Lâm có quan hệ ràng buộc với chính quyền phương bắc tại An Nam rất lỏng lẻo, khi Trương Bá Nghi tới đã áp dụng những chính sách nhằm kiểm soát chặt hơn dẫn đến không khí căng thẳng tại An Nam, cho đến khi Cao Chính Bình làm đô hộ thì không khí ấy đẩy đến cực đại và cụ thể là cuộc khởi binh của Đỗ Anh Hàn năm 791, trước thất bại của Chính Bình, Triệu Xương được cử đến, với chính sách hoà hợp với người nam, Xương đã phủ dụ yên được An Nam nhưng cũng bước đầu thực hiện chính sách dùng người nam để trị người nam, đối với tầng lớp hào trưởng ở An Nam thì đó là sự hợp tác, nó cũng cho thấy chính quyền phương bắc ở An Nam phụ thuộc rất nhiều vào tầng lớp hào trưởng ở bản địa, nhưng khi Bùi Thái sang thay đã không còn duy trì chính sách này, nên kết cục là bị người trong châu đuổi đi và như thế không có lý do gì để không tin rằng: Thành quả của cuộc khởi binh do Đỗ Anh Hàn lãnh đạo vượt qua thời điểm vây và tấn công phủ đô hộ năm 791 tới tận thời Bùi Hành Lập làm đô hộ.


II – GIẢ THUYẾT


Chúng ta đã khảo sát những sự kiện để chỉ ra rằng: Mãi tới năm 679 nhà Đường mới bắt đầu thực hiện chính sách cai trị trên thực tế An Nam, sau cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến năm 687 phương bắc mới quản lý một cách đúng nghĩa.

Trong bài Khảo cứu lại cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan của Phan Huy Lê viết: “Trên cơ sở tập hợp và phân tích các nguồn tư liệu hiện có, có thể nhận định:

- Khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ năm Khai Nguyên thứ 1 tức năm 713, chứ không phải năm Khai Nguyên thứ 10 tức năm 722 như sử cũ của ta đã chép và nhiều công trình nghiên cứu lịch sử đã viết theo.

- Cuộc khởi nghĩa có qui mô lớn, từ Hoan Châu đã mở rộng ra gần như cả nước và đã giành thắng lợi, chiếm phủ thành An Nam, giải phóng đất nước.

- Trên cơ sở thắng lợi đó, Mai Thúc Loan đã xưng đế tức vua Mai Hắc Đế, xây thành Vạn An làm quốc đô.

- Nhà nước độc lập tồn tại được gần 10 năm từ năm 713 đến năm 722”.

Trong bài Đường Lâm là Đường Lâm nào? của nhóm tác giả Trần Ngọc Vương, Nguyễn Tô Lan, Trần Trọng Dương viết: “Qua những cứ liệu đã trình bày, chúng tôi tạm có một vài kết luận sơ bộ:

- Nếu tin Khuông Việt là người hương Cát Lợi, huyện Thường Lạc thì cho đến hiện nay mới chỉ tìm thấy tên địa danh này sớm nhất trong Thái bình hoàn vũ kí (thời Tống) thì địa danh này sau đổi là huyện An Thuận, nằm ở đông nam Châu Ái. Theo Việt sử lược và Minh sử kí sự bản mạt ít nhất địa danh này phải nằm ở nam Thanh Hóa gần khu vực Nghệ An ngày nay. ĐVSKTT có xác nhận địa danh Cát Lợi ở Bắc Giang, song đây có thể là do trùng danh. Và Cát Lợi (Bắc Giang, nay thuộc Sóc Sơn, với 5 cứ liệu văn bia từ thế kỷ XVII đến XX ) chỉ là nơi Khuông Việt tu tập trụ trì và quy tịch. 

- Nếu tin Khuông Việt Đại sư là dòng dõi Ngô Thuận Đế thì ông là người châu Đường Lâm. Vị trí chính xác của châu Đường Lâm còn phải khảo chứng thực địa thêm, nhất là cần phải khảo về các vấn đề họ tộc, cư dân, phong tục, sản vật, ngôn ngữ bản địa, cũng như sự thờ cúng và tư liệu điền dã tại địa phương (Thanh Hóa ngày nay). Châu Đường Lâm vốn từng có tên châu Phúc Lộc (gồm ba huyện Nhu Viễn, Đường Lâm và Phúc Lộc), châu này nằm phía tây nam Ái châu, gần gũi Trường châu, về sau đã có lúc quy về Ái châu. Cả hai địa danh Đường Lâm và Phúc Lộc sau đời Đường đều bỏ. Dù vậy, có thể khẳng định rằng quê Ngô Quyền nằm loanh quanh giữa vùng Thanh Hóa - Nghệ An ngày nay mà khó có thể ở vị trí Sơn Tây (khi đó là huyện Gia Ninh của Phong Châu) được.

- Tên xã Đường Lâm tại Sơn Tây ngày nay mới xuất hiện từ năm 1964 (ngày 21 tháng 11). Trong suốt lịch sử từ đời Hán cho đến năm 1964, khu vực này không hề có Châu hay huyện hay làng nào tên là Đường Lâm”.

Chúng ta cũng vừa bàn về cuộc khởi binh của Đỗ Anh Hàn tại châu Đường Lâm năm 791 khiến đô hộ Cao Chính Bình chết có nguyên nhân từ việc chính quyền nhà Đường tại An Nam áp đặt chính sách thuế (chính sách cai trị trực tiếp) lên người bản địa, làm tổn hại tới quyền lợi của các hào trưởng.

Từ những khảo cứu trên chúng ta tổng kết lại như sau:

- Năm 687 tại Giao Châu, thủ lĩnh của người bản địa là Lý Tự Tiên và Đinh Kiến khởi binh chống lại đô hộ Lưu Diên Hựu do chính sách thuế, khiến Hựu chết.

- Năm 713 tại Hoan Châu, thủ lĩnh của người bản xứ là Mai Thúc Loan khởi binh chống lại đô hộ Quang Sở Khách, buộc Khách trốn về phương bắc.

- Năm 791 tại Đường Lâm châu, thủ lĩnh thổ dân là Đỗ Anh Hàn khởi binh chống lại đô hộ Cao Chính Bình do chính sách thuế, khiến Bình chết.

Chúng ta nhận thấy các cuộc khởi nghĩa này có những điểm chung như sau: Đều là những cuộc khởi nghĩa lớn, các đô hộ hoặc chết hoặc bỏ trốn, các thủ lĩnh đều là người bản xứ và đều chiếm được thành phủ đô hộ. Mỗi cuộc khởi nghĩa đều nổ ra ở những vùng lãnh thổ mới (năm 687 thì ở vùng đồng bằng sông Hồng, năm 713 thì ở vùng đồng bằng Nghệ An, năm 791 thì ở vùng đồi núi của Thanh Hoá), chủ yếu liên quan tới chính sách thuế (biểu hiện hình thức cai trị). Từ đó gợi ý chúng ta: Mỗi một cuộc khởi nghĩa giống như là một cuộc kháng chiến, nổ ra do lần đầu tiên người phương bắc tiến đến và xâm chiếm một vùng đất mới. Nghĩa là năm 687 người phương bắc chiếm và quản lý hoàn toàn vùng đồng bằng bắc bộ nhưng vùng đồng bằng bắc trung bộ thì chưa, phải đến năm 722 thì mục đích ấy mới đạt được và mãi tới năm 791 người phương bắc mới bắt đầu nghĩ đến việc quản lý vùng đồi núi phía tây nhưng họ vấp phải sự kháng cự của cư dân ở đây. Chứ không phải sau năm 679 là toàn bộ An Nam đã thuộc sự cai trị của nhà Đường trên thực tế. Năm 687 nhà Đường đánh bại thủ lĩnh người Lý, có lẽ là nhóm người mạnh nhất, có ảnh hưởng nhất ở bắc bộ, nên phương bắc cai trị trên thực tế vùng đất này, vùng bắc trung bộ nhà Đường mới chỉ cai trị trên danh nghĩa, tự nhận là lãnh thổ và có những hoạt động như chia châu, đặt hệ thống quan lại, nhưng trên thực tế vùng đất bắc trung bộ này vẫn do các thế lực bản địa quản lý, đến năm 713 những thế lực bản địa này nhận thấy sự xâm phạm quyền lợi từ phía nhà Đường do đó mà dẫn tới cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan. Sau khi đã quản lý trên thực tế vùng đồng bằng của An Nam, nhà Đường tính chuyện mở rộng hơn việc quản lý trên thực tế những vùng đất khác, ở đây chúng ta nhấn mạnh việc quản lý trên thực tế, mà bỏ qua việc quản lý trên danh nghĩa, trong quá trình mở rộng đó thì nhà Đường vấp phải sự kháng cự từ thổ dân vùng đồi núi phía tây qua cuộc khởi nghĩa của Đỗ Anh Hàn năm 791.

Tiểu kết, theo tôi nhà Đường đã từng bước mở rộng sự cai trị ở An Nam và mỗi một lần mở rộng vùng cai trị (trên thực tế) được đánh dấu bằng các cuộc khởi nghĩa lớn của dân bản địa.


III – KHỞI NGHĨA DƯƠNG THANH


Trong bài Khảo cứu lại khởi nghĩa Dương Thanh của Phạm Lê Huy viết đại ý: Các cuốn sử như Cựu Đường thư, Tân Đường thư, Tư trị thông giám và Sách phủ nguyên qui đều ghi chép là Quế Trọng Võ đã giết Dương Thanh vào năm 820, chỉ duy có Đại Việt sử ký toàn thư là chép: Quế Trọng Võ đã không giết được Dương Thanh, không những thế năm 828 Dương Thanh còn đuổi Đô hộ Hàn Ước về Quảng Châu. Người đầu tiên phát hiện ra khác biệt này là Ngô Thì Sĩ, tuy nhiên Thì Sĩ không có câu trả lời! Về sau Trần Quốc Vượng và Keith Weller Taylor nhận thấy những ghi chép của Ngô Sĩ Liên là không có đủ cơ sở, vì thế mà 2 vị ấy theo thuyết Dương Thanh bị Quế Trọng Võ giết. Cuối cùng tác giả đưa ra những căn cứ: thứ nhất, ít nhất là về mặt thông tin thì Dương Thanh bị giết, thứ hai, ngoài những sách kể trên thì căn cứ vào mộ chí của Lý Tượng Cổ và Lý Hội Xương cũng như vào việc năm 825 Đô hộ Lý Nguyên Hỷ định rời phủ thành sang phía bắc sông Tô Lịch mà sử sách còn ghi thì, quân Đường tái chiếm phủ thành An Nam là có thật, thứ ba, liên quan tới việc hoạt động của Dương Thanh sau khi phủ thất thủ, thì Cựu-Tân Đường thư chép rằng năm 822 Hoàng Man Động liên kết với Hoàn Vương quốc đánh hạ Lục Châu giết Thứ sử Cát Duy, đồng thời cũng chép rằng năm 828 Đô hộ Hàn Ước bị đuổi về Quảng Châu nhưng chỉ ghi do quân An Nam làm loạn mà không nhắc tới Dương Thanh. Chính vì thế mà trong điều kiện tư liệu như vậy, tác giả tán thành quan điểm về những ghi chép của Cựu-Tân Đường thư, Tư trị thông giám và Sách phủ nguyên qui là đáng tin cậy hơn về mặt sử liệu.

Câu hỏi trước nhất mà chúng ta phải đặt ra ở đây là: Nếu như sử sách (Cựu Đường thư, Tân Đường thư, Tư trị thông giám) đã ghi chép rõ ràng như vậy rồi, thì hà cớ gì mà Ngô Sĩ Liên lại vẫn cứ kết luận Dương Thanh không bị Quế Trọng Võ giết? Trước hết, tất cả những tư liệu mà Ngô Sĩ Liên có được thì Quốc sử quán triều Nguyễn và chúng ta đều đã biết, Sĩ Liên không thể có hơn một tư liệu nào cả! Mà nếu có thì khả năng cao là Sĩ Liên sẽ giới thiệu cho chúng ta biết! Có khi nào Sĩ Liên lại thu thập những câu chuyện dân gian về Dương Thanh để làm tư liệu hay không? Nếu Sĩ Liên suy đoán thì có 3 cơ sở là gần nhất: Thứ nhất, là các sách sử như Cựu Đường thư, Tân Đường thư và Tư trị thông giám xác định sai về thời gian mà Dương Thanh bị giết; thứ hai, Cựu Đường thư chép: “Chém Thanh và con là Chí Trinh, tịch biên hết tài sản. Chí Liệt và Sĩ Giao thua trận, giữ đất Tạc Kê ở Trường Châu, sau bị truy đuổi phải đem quân lính dưới quyền ra hàng” và thứ ba, việc Hoàng Man Động (đồng minh của Dương Thanh) liên kết với Hoàn Vương tấn công An Nam năm 822 và quân lính tại An Nam làm loạn năm 828, tuy nhiên với những căn cứ này thì đúng như Trần Quốc Vượng và K W Taylor kết luận.

Mộ chí của Lý Tượng Cổ do Vương Trọng Chu soạn năm 821 chép: “Đất Việt có An Nam Đô hộ kiêm Ngự sử Trung thừa Lũng Tây Lý công, húy là Tượng Cổ, xuân thu (hưởng thọ) 53 tuổi. Ngày 19 tháng 8 mùa thu năm Nguyên Hòa 14 [819], gặp phải loạn của bộ tướng là Dương Trạm Thanh ở quân quận, công [tức Lý Tượng Cổ] và vợ là Vi Thị Kịp, 3 con trai và 2 con gái trong khoảnh khắc đều bị hại, chìm dưới bến sông sâu. Sau khi hết việc binh, di cốt đều bị hủy hoại hết”.

Mộ chí của Lý Hội Xương do nghĩa đệ là Lý Phùng soạn trước tháng 11 năm 821 chép: “Gặp phải vụ phản loạn của thổ tướng là Dương Trạm Thanh. Khi tên bắn đến nhà, bọn quân lại không ai dám tiến lên. Anh [tức Lý Hội Xương] trong lòng đã quyết, cứng cỏi xin lệnh, dẫn bọn tả đảm đánh nhau với giặc ở cửa, hăng hái xông lên trước, phía sau không có người tiếp ứng, liền bị hại dưới đao của giặc, lúc đó là ngày 19 tháng 8 năm Nguyên Hòa 14 (…) Trạm Thanh là giặc của quốc gia, em đây chưa thể báo thù được cho anh”.

Tư trị thông giám chép: “[Năm Nguyên Hòa 14 - 819] Mùa đông tháng 10, Dung quản [Kinh lược sứ] tấu An Nam tặc là Dương Thanh hạ Đô hộ phủ (An Nam đô hộ phủ trị tại Giao châu), giết Đô hộ Lý Tượng Cổ và vợ con, quan thuộc, bộ khúc hơn 1000 người. Tượng Cổ là anh của Đạo Cổ. Do tham lam, hà khắc nên để mất lòng người. Thanh nhiều đời làm tù trưởng người Man. Tượng Cổ gọi về làm nha tướng. Thanh u uất, bất đắc chí. Tượng Cổ sai Thanh dẫn 3 nghìn quân đánh Hoàng Động Man. Thanh nhân lòng người phẫn uất, dẫn quân ban đêm tập kích phủ thành, hạ thành”.

Như vậy sau vài ngày bao vây thì đến ngày 19 tháng 8 năm 819 Dương Thanh hạ được phủ thành, giết Lý Tượng Cổ, Lý Hộ Xương cùng gia quyến và thân sĩ, còn ngày 17 tháng 10 năm 819 là ngày mà triều đình nhận được bản tấu của Dung quản kinh lược sử gửi từ Quảng Châu (Tư trị thông giám chép là tấu; Cựu-Tân Đường thư chép là giết).

Cựu Đường thư chép: “Lệnh cho Thứ sử Đường Châu là Quế Trọng Võ làm Đô hộ, chiếu dụ xá tội cho Thanh, cho làm Thứ sử Quỳnh Châu. Trọng Võ đến biên giới, Thanh không cho vào. Thanh câu thúc thủ hạ, hình phạt nghiêm khắc, người dưới không biết nhờ vào đâu sống được. Trọng Võ sai người chiêu dụ bọn tù hảo, được mấy tháng, nối nhau qui phụ, được quân lính hơn 7 nghìn người, thu lại được thành, chém Thanh và con là Chí Trinh, tịch biên hết tài sản”.

Sách phủ nguyên qui chép: “Quế Trọng Võ làm An Nam Đô hộ. Tháng 6 năm Nguyên Hòa 15 (820), tấu:“Ngày 29 tháng 3, thu hồi An Nam, xử trí xong bọn tặc đảng Dương Thanh”. Ngày Giáp Tuất tháng 8, Trọng Võ gửi thủ cấp của tướng phản loạn Dương Thanh đến trạm dịch Trường Lạc, lệnh cho trung sứ ra đón”.

Một số vấn đề về phương pháp luận sử học và vấn đề thời điểm bùng nổ của khởi nghĩa Mai Thúc Loan của Phạm Lê Huy viết: “Nói tóm lại, cần nhận thức các cuộc nổi dậy - khởi nghĩa ở Việt Nam dưới thời thuộc Đường luôn là một quá trình, trong đó bao gồm nhiều sự kiện khác nhau gắn liền với những mốc thời điểm khác nhau. Các bộ chính sử Trung Quốc chỉ lựa chọn một, hoặc một vài dấu mốc trong quá trình đó để ghi chép. Hơn nữa, luôn có "độ trễ" nhất định giữa thời điểm xảy ra sự kiện trên thực tế và thời điểm chính quyền trung ương nhà Đường nhận được tin tức về sự kiện đó. Theo những phân tích của chúng tôi ở trên, khoảng thời gian - "độ trễ" để thông tin, sự vật di chuyển từ phủ thành An Nam đến Trường An (và ngược lại) sẽ dao động trong khoảng 57- 124 ±α ngày, tức là khoảng từ 2 - 4 tháng”.

Như vậy là sau khi nhận được bản tấu, nhà Đường cử Quế Trọng Võ làm An Nam đô hộ, lệnh cho Thanh làm Thứ sử Quỳnh Châu, nhưng Thanh giữ chặt biên ải bất tuân, Trọng Võ án binh chiêu dụ tù hào, Thanh câu thúc thủ hạ, hình phạt nghiêm khắc nên Trọng Võ phá được thành, chém Thanh và con trai vào tháng 3 năm 820, gửi bản tấu về triều đình vào tháng 6 năm 820 và gửi thủ cấp của Dương Thanh đến Trường Lạc vào tháng 8 năm 820.

Câu hỏi thứ hai của chúng ta ở đây là: Vì sao có sự khác nhau về thời gian trong việc gửi bản tấu và thủ cấp lên triều đình? Nếu chỉ đơn giản là gửi thủ cấp lên triều đình thì Quế Trọng Võ có thể gửi cùng với bản tấu, như vậy thì bản tấu lại càng được minh xác. Liệu có khi nào thủ cấp cần được bảo quản do đó việc vận chuyển sẽ phức tạp nên chậm trễ hơn tờ thư tấu? Hoặc sau khi nhận được bản tấu, triều đình không tin, nên lệnh cho Trọng Võ phải gửi đầu về kinh thành do đó mà có sự sai khác? Và có thể khi gửi bản tấu lên triều đình, sau đó một thời gian An Nam đô hộ mới gửi thủ cấp của Dương Thanh về bắc? Chúng ta vẫn chưa biết chính xác chuyện gì đã xảy ra dẫn đến sự sai khác về thời gian giữa việc triều đình nhận được bản tấu và thủ cấp đến Trường Lạc.

Giả thuyết về việc Trọng Võ bắt đầu gửi bản tấu và thủ cấp ở 2 thời điểm khác nhau do đó mà thời điểm triều đình nhận được cũng khác nhau, không phải là không có cơ sở. Như Cựu Đường thư cho biết, sau khi thất thủ con Dương Thanh là Chí Liệt và thân tín là Sĩ Giao chạy về giữ đất Tạc Khê ở Trường Châu, sau thì ra hàng. Vì thế mà không loại trừ trường hợp Thanh cũng rút về Tạc Khê, sau khi ra hàng mới bị giết.

Câu hỏi thứ ba của chúng ta là: Liệu rằng ở thời diểm nhận được thủ cấp, phía triều đình có thể xác nhận được đó đúng là thủ cấp của Dương Thanh hay không?

Giả thuyết rằng triều đình không tin bản tấu của Quế Trọng Võ không phải là không có cơ sở. Ngày 17 tháng 10 năm 819 triều đình nhận được bản tấu của Dung quản kinh lược sứ gửi từ Quảng Châu, ngày 21 tháng 10 năm 819 cử Thứ sử Đường Châu Quế Trọng Võ làm An Nam đô hộ, thế nhưng sau hơn 4 tháng, Võ không thu hồi được An Nam nên ngày 22 tháng 2 năm 820 nhà Đường bổ nhiệm Quế quản quan sát sứ Bùi Hành Lập làm An Nam đô hộ, bản quản Kinh lược sứ thay Quế Trọng Võ, biếm Võ làm An Châu thứ sử, thế nhưng Hành Lập qua đời ở trấn Hải Môn trên đường đi nhậm chức. Như vậy rõ ràng là triều đình phương bắc đã có thời điểm không còn tín nhiệm Quế Trọng Võ.

Chúng ta sơ qua về tình hình nhà Đường thời điểm trước và sau cuộc khởi nghĩa Dương Thanh. Phía tây nam, năm 737 với sự hỗ trợ quân đội từ phía nhà Đường, Mông Bì La Các thống nhất lục chiếu thành lập ra vương quốc Nam Chiếu. Năm 750 Nam chiếu chống đối nhà Đường, năm 751 và 754 quân Đường tấn công Nam Chiếu nhưng thất bại. Các hoạt động quân sự của nhà Đường ở đây lắng xuống do sự kiện loạn An Sử năm 755 – 763. Trong khi đó Nam Chiếu lại phát triển và bành trướng rất nhanh, năm 764 Nam Chiếu thiết lập kinh đô thứ hai ở Vân Nam, giáp với địa giới của An Nam. Phía nam, vùng Quảng Tây, năm 756 động chủ Hoàng Càn Diệu xưng là Trung Việt vương, cùng với các động khác nổi lên chống lại nhà Đường. Năm 785 động chủ Hoàng Thiếu Khanh mang quân đánh Ung châu và chiếm 4 châu khác, con là Xương Miện chiếm thêm 13 châu. Năm 786 Hoàng Thiếu Độ khởi binh.

An Nam năm 791 Đỗ Anh Hàn khởi binh hạ phủ đô hộ, triều đình cử Triệu Xương làm Đô hộ, năm 794 Nam Chiếu đánh dẹp các bộ lạc người Man, uy hiếp An Nam, Triệu Xương hoà hoãn với Nam Chiếu nên vùng núi phía tây bắc tạm ổn. Năm 802 – 803 Bùi Thái thay Xương làm đô hộ, bị Hoàn Vương phía nam tấn công châu Ái, châu Hoan, phía bắc thì bị các Man Hoàng Động quấy nhiễu. Đến thời Trương Chu thông qua việc sử dụng các thủ lĩnh địa phương, đặc biệt là Đỗ Anh Sách mà An Nam yên. Năm 808 Hoàng Man Động phía bắc động binh, năm 809 Hoàn Vương phía nam động binh. Tôi cho rằng: việc Trương Chu phá được Hoàn Vương là dựa vào các thủ lĩnh địa phương trong đó không loại trừ gia thế của Dương Thanh ở Hoan Châu.

Tháng 8 năm 813 Bùi Hành Lập làm An Nam đô hộ, giống như Triệu Xương và Trương Chu, Hành Lập dùng các thủ lĩnh địa phương. Qua việc Bùi Hành Lập chém Phạm Đình Chi sau đó lại chọn người trong gia tộc họ Phạm để nối chức của Chi, cho thấy Lập là nhân vật vừa cứng rắn nhưng cũng rất khôn khéo. Xã hội Đại Đường phức tạp. Nam Chiếu ở phía tây, Hoàn Vương ở phía nam thế đang mạnh. Qua việc Hành Lập lệnh cho Đỗ Anh Sách chém phản loạn của Hoàn Vương là Lý Lạc Sơn cho thấy chính sách hoà hoãn hữu hảo của Lập. Nam Chiếu và Hoàn Vương là quốc gia bên ngoài nơi biên cảnh, nhưng Man Hoàng Động ở phía bắc An Nam vùng Quảng Tây lại nằm trong lãnh thổ, hơn nữa lại là vị trí trọng yếu giữa An Nam và triều đình, do đó mà Hành Lập có chính sách cứng rắn.

Năm 815 Liễu Tông Nguyên đến Liễu châu làm thứ sử, chính sách giảm bớt sự cai trị hà khắc của Tông Nguyên giúp vùng này tạm yên (năm 819 chết tại Liễu Châu). Khoảng cuối năm 817 Bùi Hành Lập được thuyên chuyển về Quảng Châu, nơi ông bàn tính với các quan chức trong vùng để xin lệnh tấn công Man Hoàng Động tuy nhiên Tiết độ sứ Quảng Châu lúc đó là Khổng Quỳ không đồng ý, dẫu vậy chiến dịch vẫn được triển khai và bị sa lầy ngay từ ban đầu. Kết quả là Man Hoàng Động giành quyền kiểm soát lãnh thổ đồng thời thường xuyên mở các cuộc tấn công.

Cựu Đường thư chép: “Lý Tượng Cổ từ chức Hành Châu thứ sử được phong làm An Nam đô hộ. Năm Nguyên Hoà 14 (819) Lý Tượng Cổ bị Dương Thanh giết, vợ con và bộ khúc không ai sống nổi. Dương Thanh mấy đời làm tù hào phương nam. Lý Tượng Cổ tham lam phóng túng, lòng người không theo. [Tượng Cổ] lại sợ thế lực của Thanh, đưa Thanh từ chức Hoan Châu thứ sử về làm nha môn tướng. [Dương Thanh] trong lòng u uất không vui. Không lâu sau giặc Hoàng gia ở Ung Quản làm phản, triều đình chiếu cho Tượng Cổ phát binh mấy đạo đánh dẹp. Tượng Cổ lệnh cho Dương Thanh dẫn 3000 quân đến. Thanh cũng con là Chí Liệt và người thân tín là Đỗ Sĩ Giao bày mưu làm phản, ban đêm tập kích An Nam, được mấy ngày thành bị hạ”

Năm 818 Hành Châu thứ sử Lý Tượng Cổ được bổ nhiệm chức An Nam đô hộ thay cho Bùi Hành Lập, lo sợ trước thế lực của tù hào Dương Thanh đang là Thứ sử Hoan Châu nên điều về làm nha môn tướng, vì thế mà Thanh trong lòng u uất không vui. Bấy giờ, những hoạt động quân sự của Hành Lập không hiệu quả, để mất kiểm soát vùng lãnh thổ vào tay Man Hoàng Động, lại phải chịu các cuộc tấn công. Chính vì thế mà triều đình lệnh cho Tượng Cổ tấn công Man Hoàng Động. Tượng Cổ lệnh cho Thanh dẫn 3000 quân đến. Dương Thanh đang bị Tượng Cổ kiểm soát, trong lòng u uất, đang muốn thoát ra. Nay nhân việc đánh Man Hoàng Động bàn với con và thân tín, liên kết với Man Hoàng Động, tấn công đô hộ phủ. Kết quả là đúng như kế hoạch.

Câu hỏi thứ tư của chúng ta ở đây là: Đỗ Anh Sách có vai trò gì trong cuộc binh biến này không? Tôi cho rằng Đỗ Anh Sách nói riêng và gia tộc họ Đỗ nói chung, là thế lực nhất ở vùng Giao Châu, Anh Sách từng giữ những chức vụ quan trọng dưới quyền các quan đô hộ từ thời Triệu Xương tới thời Bùi Hành Lập, nhưng cũng như sự biến năm 803, không thấy sự xuất hiện của Đỗ Anh Sách. Có khi nào khi bị thuyên chuyển qua Quảng Châu, Hành Lập đã dẫn Sách theo? Hay là Lý Tượng Cổ đã không còn dùng Sách nữa, nếu vậy thì có thể Sách đã quay về Trường Châu. Hoặc có thể Sách đã chết? Cũng có khi án binh bất động. Thanh chỉ có 3000 quân, nên khi vây phủ thành phải mất vài ngày mới hạ được, như thế thì quân giữ phủ thành cũng không nhiều. Người được nhắc đến trong việc chống lại quân phản loạn là Lý Hội Xương chứ không phải Đỗ Anh Sách (trong khi triều đình biết về Sách). Như vậy là Sách đã không được đề cập đến trong binh biến năm 819.

Có thể khi được nhậm chức An Nam đô hộ, Lý Tượng Cổ đã không còn trọng dụng những thủ lĩnh người Man từng phục vụ dưới thời các đô hộ tiền nhiệm, thay vào đó Cổ sử dụng người Hán như Lý Hội Xương. Trường hợp của Dương Thanh, Tượng Cổ gọi về làm nha tướng với mục đích kiềm toả. Thanh vốn người Hoan Châu, lại mới về Giao Châu một thời gian ngắn, nên rất khó có thể ảnh hưởng được với quân lính ở phủ thành. Ngay như việc vây thành mấy ngày mới hạ được, cho thấy Thanh không có nội ứng, quân lính giữ phủ vẫn trung thành với đô hộ. Những quân lính này ít có khả năng là quân do Tượng Cổ mang từ phương bắc đến, khả năng cao là quân bản phủ, do Lý Hội Xương tiếp quản đứng đầu. Với việc chống lại đội quân 3000 người của Dương Thanh được vài ngày thì đội quân của Lý Hội Xương cũng không phải là ít, thật khó để biết nó là bao nhiêu! Theo Phạm Lê Huy thì biên chế binh lính được nhà Đường đặt tại phủ thành An Nam thường chỉ khoảng 4200 người. Nếu vậy thì khả năng đội quân của Lý Hội Xương khoảng 1000 người (Các sách Cựu Đường thư, Tư trị thông giám cho biết, sau khi hạ được thành phủ, Dương Thanh giết hơn 1000 người gồm vợ con, quan thuộc, bộ khúc của Tượng Cổ, tuy nhiên đây chỉ là con số bị giết, trên thực tế số quân của Tượng Cổ là bao nhiêu?).

Năm 819 Quế Trọng Võ nhậm chức An Nam đô hộ, Dương Thanh đóng cửa biên ải không cho vào, triều đình chiếu dụ Thanh nhưng không được, Võ án binh, chiêu dụ tù hào, trong khi Thanh lại dùng các hình phạt hà khắc đối với các tù hào đi theo, do vậy mà chỉ sau vài tháng, các tù hào nối nhau quy hàng Võ, số lượng lên tới 7000 người, do vậy mà công hạ được thành. Khi Thanh dẫn quân đi đánh Man Hoàng Động mới chỉ có 3000 quân lĩnh, vậy mà khi Võ đến, chiêu dụ được tới 7000 quân, số lượng quân lính tăng thêm này từ đâu mà có? Phạm Lê Huy cho rằng: 7000 tù hào ra hàng Trọng Võ chính là những người đã từng hưởng ứng và đi theo Dương Thanh sau cuộc nổi dậy thành công năm 819. Tôi cho rằng không hoàn toàn là như vậy. Thanh dù có hạ được phủ thành nhưng trên thực tế quân lính trong tay cũng chỉ có 3000 người, so với các tù hào ở các châu xung quanh thì cũng không phải là vượt trội hoàn toàn, thêm nữa bản thân Thanh không phải là người Giao Châu, mà là người từ vùng khác (Hoan Châu) đến. Vì thế mà chuyện Thanh dùng binh ép buộc các tù hào ở các châu khác phục tùng là khó xảy ra, có thể khi Thanh hạ được thành phủ, giết được Đô hộ có chính sách cứng rắn với các tù hào nên họ hưởng ứng. Việc họ ra qui hàng Võ tới 7000 người, vượt qua cả số lượng binh lính của Thanh, cho thấy các tù hào này cũng tương đối độc lập với Thanh. Khi hạ được phủ thành, có các tù hào đến hưởng ứng (một dạng liên kết quân sự) quân địch thì đang án binh bên ngoài biên ải, vậy thì Thanh có nên áp dụng các hình phạt hà khắc đối với thủ hạ hay không? Rõ ràng một chính sách hà khắc là không phù hợp trong trường hợp này. Thêm đó, nếu như sau khi đã hạ được thành rồi, thì sự hưởng ứng của các tù hào được hiểu là như thế nào? Với số binh lính thân cận của mình (3000 người) Thanh hạ và làm chủ được phủ thành rồi, thì các tù hào kéo về phủ thành làm gì? Thông thường thì các tù hào làm trưởng một vùng và cho người của mình đóng ở các vùng ấy, tuy nhiên vẫn quy thuận phủ thành. Nay các tù hào dẫn người về phủ thành, thì giải thích ra sao đây? Có khi nào, thấy Trọng Võ tới đánh nên Thanh đã gửi nhờ sự hỗ trợ của các tù hào khắp nơi, nếu đúng thì việc Thanh dùng hình phạt hà khắc lại càng không phù hợp.

Tôi giả thuyết rằng: Khi Cổ đến An Nam nhận chức, đã không dùng các thủ lĩnh bản địa, thay vào đó để người Hán là Lý Hội Xương tiếp quản quân lính trong thành, việc này đã ảnh hưởng không nhỏ tới mối quan hệ giữa chính quyền đô hộ và các tù hào, trong các tù hào thì nhận thấy Dương Thanh là khó kiểm soát nhất vì trước hết là ở xa, sau cùng là Hoàn Vương đang rất mạnh ở phương nam, nếu 2 thế lực này liên kết tấn công Giao Châu thì khó mà chống nổi, vì vậy Cổ đã điều chuyển Thanh về làm nha tướng ở Giao Châu. Khi Bùi Hành Lập tấn công Man Hoàng Động từ phía đông đã không hiệu quả, triều đình muốn Tượng Cổ điều binh tấn công Man Hoàng Động từ phía nam. Thay vì cử Xương dẫn quân đánh Man Hoàng Động, Cổ lại cử Thanh đi, theo kế này, một mặt làm Man Hoàng Động bị tổn thất, mặt khác làm Thanh cũng bị tổn thất, nhưng mọi sự không như Cổ tính, thay vì tấn công Man Hoàng Động, Thanh lại liên kết tấn công phủ đô hộ. Quân của Thanh tới 3000 chủ yếu là những người theo Thanh khi còn làm Thứ sử Hoan Châu, do không quá chênh lệch với quân của Xương đang trấn phủ thành, nên việc tập kích vào ban đêm đã không đem lại nhiều hiệu quả (Thanh lựa chọn thời điểm tập kích vào ban đêm, cũng phần nào cho thấy, quân đội của Thanh không vượt trội quá nhiều so với quân giữ thành của Hội Xương) tin phủ thành bị bao vây lan truyền, các tù hào quanh Giao Châu biết tin, liền mang quân hỗ trợ Thanh, trong đó có họ Đỗ ở Trường Châu, khi quân hưởng ứng ngày càng nhiều, ít nhất là lên tới hơn 7000 người, thì phủ thành bị hạ. Chiếm được An Nam, Thanh sắp đặt, dùng các hình phạt hà khắc đối với những thủ hạ, nên bị phản.

Đỗ Anh Sách làm quan dưới thời Triệu Xương năm 791 đến thời Bùi Hành Lập năm 817, vậy cũng đến 25 năm, có lẽ khi cuộc nổi dậy của Dương Thanh diễn ra thì Anh Sách cũng đã già. Từ thời Triệu Xương, họ Đỗ ở Phong Châu, Trường Châu, Quận Châu, Đường Lâm rất lớn mạnh, những cái tên có thể kể ra như: Đỗ Anh Hàn (Đường Lâm); Đỗ Anh Sách (Trường Châu?); Đỗ Hoài Bích (Quận Châu) và bây giờ có thêm nhân vật thân tín của Dương Thanh là Đỗ Sĩ Giao ở Trường Châu. Vì là thân tín nên Sĩ Giao có lẽ đã đi theo Thanh từ lâu, nhưng chính xác là từ thời Thanh còn làm Thứ sử Hoan Châu hay là khi làm nha tướng ở phủ thành. Khi Võ hạ được thành, con của Thanh là Chí Liệt và Sĩ Giao rút về Tạc Khê ở Trường Châu cố thủ, điều này cho thấy Sĩ Giao có thể là người vùng Trường Châu và có cơ sở ở đất Tạc Khê, cũng không loại trừ Sĩ Giao có quan hệ họ hàng với Đỗ Anh Sách.

Sau khi tái chiếm phủ thành, gia tộc của Lý Tượng Cổ và Lý Hội Xương có tới An Nam để tìm xương cốt, tuy nhiên không tìm thấy. Do đó mà 2 gia tộc đã chôn áo mũ của Tượng Cổ và Hội Xương ở thành Lạc Dương vào ngày 9 tháng 11 năm 821. Bài mộ chí của Lý Hội Xương do nghĩa đệ Lý Phùng soạn xong trước lễ tổ chức mai táng ngày 9 tháng 11 năm 821 và nhiều khả năng là soạn sau ngày gia tộc tìm kiếm xương cốt (nghĩa là sau khi Trọng Võ tái chiếm phủ thành, tạm bình An Nam).

Câu hỏi thứ năm của chúng ta ở đây là: Vì sao nghĩa đệ của Xương là Phùng lại viết trong bài mộ chí là “Trạm Thanh là giặc của quốc gia, em đây chưa thể báo thù được cho anh”? Có khi nào là bài mộ chí được viết trước khi Trọng Võ tái chiếm phủ thành? Hay phải hiểu câu ấy là Trạm Thanh là giặc của quốc gia, em không thể trực tiếp báo thú cho anh? Hoặc phải hiểu Trạm Thanh là giặc lớn, Trọng Võ đã tái chiếm được phủ thành nhưng không giết được Trạm Thanh nên vẫn chưa báo thù được cho anh? Phải hiểu câu này như thế nào đây cho đúng với những gì Lý Phùng muốn truyền đạt? Trong Khảo cứu lại khởi nghĩa Dương Thanh của Phạm Lê Huy có viết đại ý: Qua mộ chí của Lý Tượng Cổ có câu ‘sau khi hết việc binh, di cốt đều bị huỷ hoại hết’ và mộ chí của Lý Hội Xương có câu ‘lệnh vua đánh dẹp đã xong’ cho thấy chiến sự tại An Nam đã kết thúc, vậy thì khả năng cao là 2 bài mộ chí được viết sau thời điểm ngày 29 tháng 3 năm 820.

Ngô Sĩ Liên có lẽ đã căn cứ vào Cựu Đường thư chép về việc con của Dương Thanh là Chí Liệt và thân tín Sĩ Giao rút về giữ đất Tạc Kê ở Trường Châu mà phỏng đoán rằng: Chí Liệt và Sĩ Giao có thể thoát được thì sao Dương Thanh không thoát được chứ? Có thể từ đây mà tác giả của Đại Việt sử ký toàn thư cho rằng Thanh chưa chết! Chúng ta thấy rằng sau khi thất bại ở phủ thành Chí Liệt và Sĩ Giao lại chọn rút về Trường Châu chứ không phải đất tổ Hoan Châu mà đời đời họ Dương ở đây thịnh. Nếu như quân 3000 mà Thanh đem đi đánh Man Hoàng Động là của Tượng Cổ thì binh lính thân tín của họ Dương vẫn nằm ở Hoan Châu, như vậy thì cơ sở Hoan Châu của họ Dương vẫn rất mạnh và còn nguyên, vậy thì Chí Liệt phải rút về đó mới đúng, trong khi lại rút về Trường Châu. Trừ khi là quân lính 3000 mà Thanh mang theo là người Hoan Châu, nên khi thất bại ở phủ thành, cơ sở Hoan Châu chỉ còn là vùng đất trống, không binh lính, do vậy Chí Liệt mới rút về Trường Châu, nơi ít nhất là còn cơ sở của gia tộc họ Đỗ. Cựu Đường thư có viết truyện Chí Liệt bị truy đuổi nên về sau ra hàng, chúng ta cũng không biết thời điểm Chí Liệt ra hàng là bao giờ và có bị giết?

Cựu Đường thư chép: “Trường Khánh năm thứ 2 (năm 822) (…) tháng giêng (…) ất mùi, Thứ sử Quỳ Châu Vương Thừa Biện làm An Nam đô hộ, bản quản kinh lược chiêu thảo sứ (…) tháng 6 (…) An Nam phó sứ Thôi Kết làm Ung Quản kinh lược sứ (…) tháng 9 (…) đinh tị, Thứ sử Vạn Châu Lý Nguyên Hỷ làm An Nam đô hộ (…) tháng 11 (…) tân mùi, tiền An Nam đô hộ Quế Trọng Võ làm Ung Quản kinh lược sứ (…). Trường Khánh năm thứ 4 (năm 824) (…) tháng 11 (…) An Nam đô hộ Lý Nguyên Hỷ tấu: Giặc Hoàng gia hợp Hoàn Vương quốc hãm Lục Châu, giết Thứ sử Cát Duy (…). Bảo Lịch năm thứ 1 (năm 825) (…) tháng 4 (…) An Nam Lý Nguyên Hỷ tấu: Dời phủ đô hộ về phía bắc sông ô. Đại Hoà năm thứ 1 (năm 827) (…) Kiền Châu thứ sử Hàn Ước làm An Nam đô hộ. Đại Hoà năm thứ 2 (năm 828) (…) tháng 9 (…) An Nam quân loạn, đuổi Đô hộ Hàn Ước. Đại Hoà năm thứ 5 (năm 831) (…) tháng 10 (…) tiền Miên Châu Thứ sử Trịnh Xước làm An Nam đô hộ (…). Đại Hoà năm thứ 7 (năm 833) (…) tháng 5 (…) tiền Thứ sử Cung Châu Lưu Mân làm An Nam đô hộ (…). Đại Hoà năm thứ 8 (năm 834) (…) tháng 12 (…) Đệ Châu Thứ sử Hàn Uy làm An Nam đô hộ (…). Đại Hoà năm thứ 9 (năm 835) (…) tháng 1 (…) tiền Đệ Châu thứ sử Điền Tảo làm An Nam đô hộ (…). Khai Thành năm thứ 1 (năm 836) (…) tháng 9 (…) Nhiêu Châu thứ sử Mã Thực làm An Nam đô hộ”.

Tân Đường thư chép: “Trường Khánh năm thứ 4 (năm 824) (…) tháng 8 (…) Hoàng Man Động tấn công An Nam (…). Đại Hoà năm thứ 2 (năm 828) (…) tháng 9 (…) An Nam quân loạn, đuổi Đô hộ Hàn Ước”.

Quân loạn An Nam dẹp yên vào tháng 3 năm 820, đến tháng 1 năm 822 Thứ sử Quỳ Châu Vương Thừa Biện làm An Nam đô hộ, tháng 9 năm 822 Thứ sử Vạn Châu Lý Nguyên Hỷ làm An Nam đô hộ thay cho Biện, đến tháng 11 năm 822 Quế Trọng Võ làm Ung Quản kinh lược sứ. Sau 2 năm làm Đô hộ, tháng 8 năm 824 Man Hoàng Động tấn công An Nam, tháng 11 năm 824 Nguyên Hỷ tấu Man Hoàng Động liên kết với Hoàn Vương tấn công Lục Châu giết Thứ sử tên Cát Duy, cho thấy Man Hoàng Động rất mạnh, liên kết này có lẽ là việc cùng phối hợp tấn công ở cả phía nam và phía bắc An Nam vào khoảng thời gian gần nhau. Sau cuộc tấn công của Man Hoàng Động và Hoàn Vương, tháng 4 năm 825 Nguyên Hỷ tấu cho rời phủ đô hộ về phía bắc sông Tô Lịch. Đại Việt sử ký toàn thư và sau này là Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép là do Hỷ thấy dòng nước chảy ngược nên sợ có quân phản loạn vì thế mà dời phủ. Tôi cho rằng việc rời phủ này có nguyên nhân từ tình hình phức tạp tại An Nam sau sự kiện Man Hoàng Động tấn công vào năm trước, đây có thể là cuộc di dời chiến thuật của Hỷ nhưng cũng có thể là dưới sức ép của địch mà Hỷ buộc phải dời phủ thành. Khoảng đầu năm 827 Hàn Ước làm Đô hộ An Nam, tuy nhiên Ước gặp phải sự chống đối của Thứ sử Phong Châu Vương Thăng Triều (An Nam chí lược – Lê Tắc), dẫu dẹp yên được Thăng Triều nhưng sau đó không lâu tháng 9 năm 828, Hàn Ước bị quân phủ đuổi khỏi An Nam. Khoảng 3 năm sau vào tháng 10 năm 831 nhà Đường cử Trịnh Xước sang làm An Nam đô hộ phủ. Sau đó liên tiếp các năm 833 Lưu Mân, 834 Hàn Uy, 835 Điền Tảo sang làm An Nam đô hộ, tuy nhiên những vị này chỉ làm quan trên danh nghĩa, cho đến khi Mã Thực sang làm Đô hộ năm 836, nhà Đường mới quản lại An Nam. Vậy là, dù Quế Trọng Võ có tái chiếm được phủ thành vào năm 820 nhưng những tàn quân của Dương Thanh vẫn còn, phía bắc Man Hoàng Động, phía tây bắc Nam Chiếu, phía Nam Hoàn Vương thế đang rất mạnh, Lý Nguyên Hỷ tiếp nhận An Nam vào năm 822 trong tình hình không phải quá yên ổn, bị cả Man Hoàng Động và Hoàn Vương tấn công, các tù hào bất tuân. Hàn Ước nhậm chức Đô hộ tại An Nam tình hình cũng không khá hơn, các tù hào đã chống đối ra mặt (Vương Thăng Triều có lẽ đã ly khai chính quyền đô hộ tại An Nam từ thời Dương Thanh chiếm phủ thành, vị trí Phong Châu giáp với cả Man Hoàng Động và Nam Chiếu, nên việc Vương Thăng Triều ly khai và tấn công chính quyền đô hộ cũng là điều hiểu được, không loại trừ có yếu tố Man Hoàng Động và Nam Chiếu trong sự kiện Phong Châu Thứ sử làm phản) bị quan quân trong phủ đuổi khỏi An Nam. Nhà Đường sau đó không có hoạt động nào để giành lại An Nam (thực ra là 3 năm ngay sau khi Hàn Ước bị đuổi, còn các năm tiếp theo, những cố gắng của nhà Đường không đem lại chuyển biến tích cực nào) phủ thành nằm dưới sự kiểm soát của quân nổi loạn, cho đến năm 836 khi Mã Thực được cử sang làm Đô hộ.

Câu hỏi thứ sáu của chúng ta ở đây là: Với tình hình An Nam từ thời Lý Tượng Cổ đến thời Hàn Ước, nếu như Dương Thanh rút về giữ Tạc Khê (Trường Châu) thì liệu rằng quân Đường có thể diệt được tàn dư này không? Như đã thấy nhà Đường hầu như chỉ có thể kiểm soát được Giao Châu, còn các châu lân cận thì do các tù hào chiếm giữ, đến khi mất cả An Nam, nhà Đường cũng không có hoạt động gì để lấy lại, như thế để biết cai trị của triều đình phương bắc ở An Nam thời điểm từ Đô hộ Lý Tượng Cổ đến Đô hộ Hàn Ước là rất yếu. Nếu như Dương Thanh không chết, rút về giữ đất Tạc Khê, thì liệu rằng: Dương Thanh có liên quan tới vụ quân loạn năm 828 hay không? Việc rút về giữ đất Tạc Khê có lẽ là chủ ý của Đỗ Sĩ Giao, thân tín của Dương Thanh, Sĩ Giao có lẽ là tù hào đất Tạc Khê, với căn cứ này, Dương Thanh có cơ sở để tồn tại lập nghiệp. Sĩ Giao cùng họ Đỗ với một nhân vật rất có uy tín (có thể xem là cùng thời) tên Anh Sách, người này cũng có thể xuất thân từ Trường Châu, do vậy khả năng cao là Sĩ Giao có mối quan hệ nào đó với Anh Sách, có thể là mối quan hệ họ hàng (thế hệ trước thế hệ sau). Trong khi thời gian còn làm những chức vụ quan trọng trong phủ, Anh Sách có mối quan hệ với các tù hào địa phương và quan quân trong phủ thành, do vậy không loại trừ, việc quan quân trong phủ thành nổi loạn năm 828 đuổi Đô hộ Hàn Ước là có sự góp mặt của Dương Thanh và họ Đỗ ở Trường Châu. Thời điểm diễn ra sự kiện quân loạn là sau khi Hàn Ước phải đối đầu (và chắc chắn bị tổn thất) với Thứ sử Phong Châu Vương Thăng Triều - một thời điểm hợp lý (trước đây Thanh cũng đã từng lựa chọn thời điểm tấn công phủ thành là vào ban đêm).

Sách Cựu Đường thư do Lưu Hu soạn vào khoảng thời gian từ năm 941 – 945, Sách phủ nguyên qui do Vương Khâm Nhược, Dương Ức soạn từ năm 1005 – 1013, Tân Đường thư của Âu Dương Tu soạn từ năm 1044 – 1054, sách Tư trị thông giám của Tư Mã Quang soạn hoàn thành vào năm 1084. Sách Cựu Đường thư chép rằng: Tháng 6 năm 820 Quế Trọng Võ tấu giết được đầu đảng của giặc là Dương Thanh, thu phục được An Nam; tháng 8 năm 820 An Nam đô hộ là Quế Trọng Võ chém đầu phản tướng Dương Thanh dâng lên triều đình, thu hồi An Nam phủ. Sách phủ nguyên qui chép rằng: Tháng 6 năm 820, tấu: “Ngày 29 tháng 3, thu hồi An Nam, xử trí xong bọn tặc đảng Dương Thanh”. Tháng 8, Trọng Võ gửi thủ cấp của tướng phản loạn Dương Thanh đến trạm dịch Trường Lạc, lệnh cho trung sứ ra đón. Tân Đương thư chép rằng: Tháng 3 năm 820 giết Dương Thanh.

Chúng ta thấy rằng ghi chép gần nhất với sự kiện là sách Cựu Đường thư, tuy nhiên sách này cũng cách sự kiện tới 120 năm, các sách khác thì cách sự kiện tới 180 đến 200 năm. Sách gần nhất là Cựu Đường thư cũng chỉ ghi chép là: Tháng 6 năm 820 nhận bản tấu là đã giết được Dương Thanh, còn chính xác là Dương Thanh bị giết ngày tháng nào thì không thấy đề cập, đến tháng 8 cùng năm thì nhận được thủ cấp, cũng rất khó để xác định xem những gì viết trong bản tấu có đúng không và thủ cấp có đúng của Dương Thanh không? Sách phủ nguyên qui thì ghi rõ ràng hơn là trong bản tấu (tháng 6 năm 820) có viết rằng: xử trí xong tặc đảng Dương Thanh vào tháng 3 năm 820, tuy nhiên chỉ là ‘xử trí xong’ – không biết ‘xử trí xong’ này có bao gồm việc ‘giết’ không? Hay chỉ là thu hồi An Nam và đánh bại Dương Thanh? Tân Đường thư thì viết rõ hơn: tháng 3 năm 820 giết Dương Thanh. Tuy nhiên Âu Dương Tu sinh vào thời điểm Sách phủ nguyên qui được soạn và đi học khi sách này được in ấn, do vậy mà chúng ta có thể đặt giả thuyết rằng: khi viết Dương Thanh bị giết vào tháng 3 năm 820 trong Tân Đương thư không loại trừ khả năng, Âu Dương Tu tham khảo Sách phủ nguyên qui. Mà Sách phủ nguyên qui là sách đầu tiên viết về mốc thời điểm ngày 29 tháng 3 năm 820, nhưng lại chép dựa trên một bản tấu và cũng chỉ viết là ‘xử trí xong tặc đảng Dương Thanh’. Như vậy thì dù có nhiều sách chép về sự kiện này đi chăng nữa thì suy tới cùng vẫn chỉ dừng lại ở việc: Dương Thanh bị giết vào ngày 29 tháng 3 năm 820 là dựa vào bản tấu (của Quế Trọng Võ) gửi triều đình. Vì sao Âu Dương Tu không chép là ‘xử trí xong’ mà lại chép là ‘giết’? Có thể là do Tu tham khảo Cựu Đường thư nên viết vậy! Vậy thì sao Vương Khâm Nhược và Dương Úc lại không viết là ‘giết tặc đảng Dương Thanh’ mà lại chép là ‘xử trí xong tặc đảng Dương Thanh’? Có 2 lý do, thứ nhất từ ‘xử trí xong’ trong Sách phủ nguyên qui đã bao hàm việc ‘giết’ và thứ hai là tác giả muốn giữ nguyên văn của bản tấu. Trong trường hợp thứ nhất thì hoàn toàn có cơ sở vì Vương Khâm Nhược và Dương Úc hoàn toàn biết chuyện Quế Trọng Võ gửi thủ cấp của Dương Thanh về triều đình vào tháng 8 năm 820 trong Cựu Đường thư. Trong trường hợp thứ hai, nếu đúng thì tại thời điểm triều định nhận được bản tấu, Võ vẫn chưa giết được Thanh, nên chỉ viết là ‘xử trí xong’ (nghĩa là đánh bại và thu hồi An Nam, mà chưa giết được Dương Thanh), sau đó khi tàn quân của Thanh ra hàng, lúc này Võ mới giết được Thanh và gửi đầu về triều đình, do vậy mà thời gian giữa việc gửi bản tấu và thủ cấp mới có sự khác nhau. Nếu vậy thì hiểu sao về việc ghi chép của Lưu Hu trong Cựu Đường thư đây, nếu như nguyên văn bản tấu của Quế Trọng Võ chỉ là ‘xử trí xong’? Có thể là khi soạn sách sử, do biết rằng: Dương Thanh đã bị giết (thông qua việc gửi thủ cấp về phương bắc) nên Lưu Hu đã sửa câu văn trong bản tấu của Quế Trọng Võ từ ‘xử trí xong’ sang ‘giết’. Nếu vậy thì, câu chuyện trong bản tấu liên quan mật thiết tới sự kiện ‘gửi thủ cấp của tặc đảng Dương Thanh về triều đình’. Vậy thì lại liên quan tới câu hỏi thứ ba: Liệu rằng triều đình phương bắc có thể nhận biết được thủ cấp của Dương Thanh hay không?

Câu hỏi thứ bảy của chúng ta ở đây là: Liệu rằng Quế Trọng Võ có thể tấu báo sai với triều đình phương bắc không? Như chúng ta biết sau khi nhậm chức An Nam đô hộ, Quế Trọng Võ án binh, sau 4 tháng không có kết quả gì, liền bị triều đình biếm làm An Châu thứ sử, dùng tiền An Nam đô hộ Bùi Hành Lập thay thế chức vụ của ông, vậy mà chỉ sau hơn 1 tháng kể từ ngày có chiếu lệnh của triều đình (ngày 22 tháng 2 năm 820) Trọng Võ đã hạ được phủ thành vào ngày 29 tháng 3 năm 820. Tuy rằng Hành Lập không thể nhậm chức An Nam đô hộ lần thứ 2 do bị chết tại trấn Hải Môn, nhưng qua việc triều đình phương bắc lựa chọn Lập để thay Võ, cho thấy sự kỳ vọng của triều đình vào kinh nghiệm và mối quan hệ của vị tiền An Nam đô hộ này, gợi ý chúng ta: Việc các tù hào mở cửa thành ra hàng là do hình phạt hà khắc của Dương Thanh, cùng với chính sách chiêu dụ của Trọng Võ hay là do uy tín của Bùi Hành Lập? Khi triều đình cử Trọng Võ làm An Nam đô hộ là đã kỳ vọng một trận chiến thu hồi đất cũ, nhưng sau lại cử Hành Lập, cho thấy triều đình biết tình hình ở An Nam và đã thay chiến thuật từ xung đột vũ trang sang chiêu dụ, do vậy thành quả của việc các tù hào ra hàng không biết là do công của Trọng Võ hay uy tín và mối quan hệ của Hành Lập hay cả hai?


Kết luận:


Với những tài liệu như hiện có tôi đặt giả thuyết rằng năm 819 Lý Tượng Cổ nhậm chức An Nam đô hộ thay Bùi Hành Lập, Tượng Cổ không sử dụng các tù hào mà sử dụng người phương bắc, hơn thế nữa lại có chính sách kiềm toả các thủ lĩnh người bản địa, trong đó có Thứ sử Dương Châu là Dương Thanh bị gọi về làm nha tướng. Trong hoàn cảnh các thế lực bên ngoài biên cảnh đang lớn mạnh, nhân sự kiện buộc phải đi dẹp giặc Man Hoàng Động phía bắc, Thanh đã liên kết lại với giặc, quay mũi giáo, làm phản, tân công phủ thành, tin này nhanh chóng lan rộng, các tù hào ở khắp nơi tới hưởng ứng, cùng Thanh tấn công và hạ phủ thành. Nhận được tin, triều đình cử Quế Trọng Võ làm An Nam đô hộ, với kỳ vọng một trận chiến giành lại đất cũ, thế nhưng không hiệu quả, do vậy triều đình thay chiến lược, cử Hành Lập làm An Nam đô hộ, muốn dựa vào kinh nghiệm và các mối quan hệ mà tiền Đô hộ An Nam này thiết lập được để chiêu dụ các tù hào. Kết quả là Lập chết khi đang trên đường đến nhậm chức, các tù hào mở cửa thành ra hàng, Dương Thanh và tàn quân rút chạy về giữ đất Tạc Khê (Trường Châu). Chiếm được phủ thành, nhưng chỉ kiểm soát được Giao Châu, An Nam đô hộ Quế Trọng Võ gửi tấu về triều đình vào tháng 6 năm 820 là ‘giết được đầu đảng tặc Dương Thanh và thu hồi An nam’ và gửi thủ cấp giả của Dương Thanh về triều đình vào tháng 8 năm 820. Năm 822 Lý Nguyên Hỉ làm An Nam đô hộ, năm 824 Man Hoàng Động và Hoàn Vương tấn công An Nam, năm 825 Hỉ rời phủ thành về phía bắc sông Tô Lịch, năm 827 Hàn Ước làm An Nam đô hộ, bị Thứ sử Phong Châu là Vương Thăng Triều chống đối, năm 828 Ước bị quân trong phủ (phối hợp với Dương Thanh) đuổi khỏi An Nam. Nhà Đường mất kiểm soát An Nam hoàn toàn cho tới năm 836 khi Mã Thực được làm Đô hộ.


... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển ngày 25.02.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004