Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh

Lý Thánh Tông Đổi Tên Nước Đại Việt




L ý Thánh Tông (1023- 1072) tên thật Lý Nhật Tôn, sinh tại Thăng Long, là vị vua thứ ba của nhà Lý, từ 1054- 1072.

Cũng như cha và ông, Lý Thánh Tông giỏi văn, võ. Nổi tiếng một minh quân đức độ. Tận tụy vì đất nước. Thương dân. Đối xử tốt với tù nhân.

Lý Thánh Tông đổi tên nước Đại Cồ Việt là Đại Việt. Xây Văn Miếu. Phá Tống (1060). Bình Chiêm (1069). Vua Chiêm Thành phải dâng đất ba châu cho Đại Việt.

Thái tử Lý Nhật Tôn được rèn luyện để làm vua

Lý Nhật Tôn là con trưởng của Lý Thái Tông, mẹ là Kim Thiên thái hậu Mai thị, sinh ngày 25- 2 năm Quý Hợi, (tức 30/ 3/1023) tại cung Long Đức, kinh thành Thăng Long. Năm 1028. Lý Nhật Tôn được vua cha Lý Thái Tông lập Hoàng thái tử.

Thái tử Nhật Tôn thông thái, xuất chúng, tinh luyện văn, sử, rành âm luật, giỏi võ nghệ. Tháng 8 năm 1033, được Lý Thái Tông phong Khai Hoàng Vương, cho ở cung Long Đức để học tập. Giống vua cha Lý Thái Tông, Lý Nhật Tôn sớm được tiếp xúc với dân chúng, hiểu được nỗi khổ của dân và thông thạo nhiều việc.

Năm 1037. 15 tuổi Thái tử Lý Nhật Tôn được Thái Tông phong Đại nguyên soái, cùng cha đi dẹp bạo loạn ở Lâm Tây (Lai Châu) lập công.

Năm 1039. Lý Thái Tông đi đánh Nùng Tồn Phúc. Thái tử Nhật Tôn 17 tuổi, được cử làm giám quốc, coi sóc kinh thành và việc triều chính.

Tháng 4 năm 1040. Lý Nhật Tôn được vua cha giao phụ trách việc xử các vụ kiện trong nước.

Tháng 10 năm 1042. Nhật Tôn được vua phong Đô thống Đại nguyên soái, đi đánh châu Văn (nay thuộc Lạng Sơn). Năm sau, Tháng 3 năm 1043. Nhật Tôn được cử làm Đô thống Đại nguyên soái, đi đánh châu Ái (nay thuộc Thanh Hoá).

Tháng Giêng, năm 1044. Lý Thái Tông đi đánh Chiêm Thành. Lý Nhật Tôn được giao làm Lưu thủ kinh sư.

Tháng 7 năm 1054. Thấy mình già yếu, Lý Thái Tông cho phép Thái tử Lý Nhật Tôn coi chầu, nghe chính sự. Hai tháng sau, vua cha băng hà. Lý Nhật Tôn nối ngôi, là vua Lý Thánh Tông, lấy niên hiệu Long Thụy Thái Bình (1054- 1072).


Trăm họ mến phục vua Lý Thánh Tông


Ngay sau khi lên ngôi, vua Thánh Tông đổi quốc hiệu Đại Việt. Lý Thánh Tông thương dân chân thật. Một năm trời rét đậm, Lý Thánh Tông bảo các quan hầu cận:

Trẫm ở trong cung ngự sưởi than thú, mặc áo hồ cừu mà còn rét thế này. Huống chi những tù phạm giam trong ngục, phải trói buộc, cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc; vả lại có người xét hỏi chưa xong, gian ngay chưa rõ, nhỡ rét quá mà chết thì thật là thương lắm.

Vua truyền lấy chăn chiếu cho tù nằm, mỗi ngày cho ăn hai bữa.

Một hôm, Lý Thánh Tông ngự ở điện Thiên Khánh xét án, Động Thiên công chúa đứng hầu bên cạnh. Thánh Tông chỉ vào công chúá, bảo các quan:

Lòng trẫm yêu dân cũng như yêu con trẫm vậy, hiềm

vì trăm họ ngu dại, làm càn phải tội, trẫm lấy làm thương lắm. Từ rày về sau tội gì cũng giảm nhẹ bớt đi.

Vua Lý Thánh Tông nhân từ, trăm họ mến phục. Thời ông cai trị ít có giặc cướp. Thánh Tông sùng đạo Phật, xây nhiều chùa tháp, đúc chuông đồng lớn. Song ông chú trọng mở mang Nho học.

Năm 1070. Lý Thánh Tông lập Văn Miếu, dựng tượng Khổng Tử, Chu Công, Tứ phối, vẽ tượng 72 vị tiên hiền, bốn mùa cũng tế. Sự học sản sinh được nhiều người hiền tài giúp nước, phò vua.

Nhà Tống sợ Lý Thánh Tông, vua Chiêm dâng đất

Ổn định tình hình trong nước, Lý Thánh Tông mở rộng cương thổ, xây dựng nước Đại Việt hùng cường, hiển hách.

Binh pháp thời Lý Thánh Tông cao cường. Nhà Tống cũng phải học cách tổ chức, phiên chế quân đội Đại Việt. Lý Thánh Tông đặt quân hiệu và chia ra làm tả hữu tiền hậu 4 bộ, hợp lại là 100 đội có lính kỵ và lính bắn đá. Còn những phiên binh thì lập thành đội riêng.

Tháng 3- 1059. Lý Thánh Tông mang quân sang Khâm châu nước Tống, diễu võ dương oai. Quân Tống phải nể sợ.

Năm 1060. Lý Thánh Tông lại sai tướng Thân Thiệu Thái, trấn thủ Lạng châu, đánh quân Tống can thiệp ở biên giới, bắt được chỉ huy sứ Dương Bảo Tài, tướng nhà Tống.

Tháng 7- 1060. Quân Tống mấy lần phản công nhưng thất bại. Nhà Tống phái Thị lang bộ Lại Dư Tĩnh sang điều đình. Phía Đại Việt, Thánh Tông cử Phí Gia Hậu đi hoà đàm. Đối đãi với sứ Tống rất hậu. Nhưng quyết không trả tù binh Dương Bảo Tài.

Chiến tranh Việt- Chiêm 1069. Vua Lý Thánh Tông dẫn quân cùng Đại tướng Lý Thường Kiệt chinh phạt Chiêm Thành.

Vua Chế Củ bị bắt, xin dâng đất ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính cho Đại Việt. Lý Thánh Tông lấy ba châu ấy, nay là các huyện Quảng Ninh, Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hoá, Lệ Thuỷ tỉnh Quảng Bình và huyện Bến Hải tỉnh Quảng Trị.

Tháng Giêng, ngày Canh Dần, năm Nhâm Tý (tức 1 tháng 2- 1072), Lý Thánh Tông băng hà ở điện Hội Tiên, trị vì 17 năm, hưởng thọ 49 tuổi, an táng ở Thọ Lăng.

Thánh Tông mất, Thái tử Càn Đức, 7 tuổi thay, là vua Lý Nhân Tông.

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhận định về Lý Thánh Tông:

Vua khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về thu phục người xa, đặt khoa bác sĩ, hậu lễ dưỡng liêm, sửa sang việc văn, phòng bị việc võ, trong nước yên tĩnh, xứng đáng là bậc vua tốt. Song nhọc sức dân xây tháp Báo Thiên, phí của dân làm cung Dâm Đàm đó là chỗ kém."


Quốc hiệu Đại Việt hiển hách


Các nhà nghiên cứu khẳng định. Lý Thánh Tông là người kế tục xứng đáng cha và ông trong việc phát triển cơ nghiệp nhà Lý. Lý Thánh Tông mở đầu Quốc hiệu Đại Việt hiển hách.

Sự nghiệp của Lý Thánh Tông có ba điểm nhấn lớn trong lịch sử Việt Nam. Nước Đại Việt hùng cường. Xây dựng Văn Miếu. Mở đất ba châu phía Nam.

Nhà Lý tới thời Lý Thánh Tông trị vì, ổn định, vững chắc. Lý Thánh Tông để lại cho thái tử Càn Đức, đất nước Đại Việt cường thịnh, thái bình.

Lý Thánh Tông thấu hiểu nỗi khổ đau của dân, yêu thương dân, là vì suốt thời còn là thái tử, Lý Nhật Tông được vua cha Lý Thái Tông cho sống ở cung Long Đức 27 năm, ở ngoại thành, hòa mình với cuộc sống dân gian.

Sau này, khi đã ở ngôi vua, Lý Thánh Tông vẫn thân thiết, về phủ Thiên Đức vui hội hè, lễ Phật, xem trồng lúa, gặt hái, đánh cá và nghỉ ngơi, tu dưỡng hòa mình với cuộc sống của người dân thôn dã.

Lý Thánh Tông ghi nhiều dấu ấn trong lịch sử văn hóa Việt Nam.

Trong lĩnh vực Phật giáo, Lý Thánh Tông sáng lập phái Phật giáo Thảo Đường với tư tưởng, phát triển ý thức dân tộc. Độc lập, tự cường, chống lại sự xâm lăng văn hóa và bờ cõi, từ giặc Tống.

Lý luận về đạo Phật của Lý Thánh Tông giúp người dân hiểu rõ triết lý dùng ý chí tự cường, để thắng số mệnh.

Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành năm 1069

Theo Wikipedia. Chiến tranh Việt- Chiêm 1069 là cuộc chiến do vua Lý Thánh Tông của Đại Việt phát động năm 1069 nhằm đánh vương quốc Chiêm Thành ở phương Nam, do người Chiêm từ chối thần phục nhà Lý.

Từ khi Đại Việt giành được độc lập (thế kỷ X) việc đánh Chiêm Thành thường được các vua Lý tiến hành, mỗi khi Chiêm Thành bỏ việc tiến cống, hoặc quấy nhiễu các vùng biên giới trên bộ và ven biển Đại Việt.

Năm 1044. Lý Thái Tông đánh Chiêm Thành, phá quốc đô Phật Thệ, giết chúa Sạ Đẩu với lý do Chiêm Thành bỏ thông hiếu.

Sang thời Lý Thánh Tông. Năm 1065- 1069. Chiêm Thành bỏ cống. Vua Thánh Tông đem quân đánh Chiêm. Một vài sử gia cho rằng cuộc đánh Chiêm này, do Chiêm Thành luôn chống đối Đại Việt và lén lút thần phục nhà Tống.

Vua Chiêm Chế Củ, muốn dựa vào nhà Tống để chặn bước tiến của Đại Việt, xin thần phục và được vua Tống Thần Tông giúp đỡ, cho ngựa trắng và cho phép họ mua lúa ở Quảng Châu. Chiêm Thành không tiếp tục cống nạp cho Đại Việt. Mọi hành động của Chiêm Thành bị người Việt cho là khiêu khích họ.


Chiến thuyền Lý Thường Kiệt đánh Chiêm Thành


Năm 1068. Vua Lý Thánh Tông sửa soạn thêm chiến thuyền. Việc giao thông từ thành Phật Thệ tới Đại Việt bằng đường núi, theo lời sứ Chiêm tâu với vua Tống, phải mất 40 ngày. Vua nhà Tiền Lê trước đây có đào tân cảng và sửa chữa đường, nhưng dùng thủy đạo dễ dàng chuyển quân hơn.

Năm 1069. Lý Thánh Tông mang 200 chiếc thuyền, đánh Chiêm Thành. Đại tướng Lý Thường Kiệt đi tiên phong. Lý Thường Hiến em Lý Thường Kiệt giữ chức Tán kỵ Võ úy.

Triều đình Đại Việt, Lý Thánh Tông giao cho Nguyên phi Ỷ Lan và Thái sư Lý Đạo Thành trông coi việc nước.

Bảy ngày sau khi rời khỏi Thăng Long. Các đạo quân Việt đã có mặt ở Nghệ An. Ba ngày sau tới phía Nam núi Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh), vào hải phận Chiêm Thành.

Năm ngày sau. Lý Thường Kiệt tới cửa Nhật Lệ là nơi tập trung của thủy quân Chiêm Thành. Tại Nhật Lệ, một nhóm nhỏ thủy quân Chiêm xông ra chặn quân Việt. Hoảng Kiệt, tướng của quân Lý, đánh lui quân Chiêm, rồi tiến về phía Nam không bị ngăn trở. Mục đích của quân Đại Việt là tiến thẳng tới thành Phật Thệ. Phá kinh đô. Bắt quốc vương.

Bốn ngày sau nữa, tới cửa Tư Dung nay gọi là Tư Hiền. Là cửa sông vào các phá và sông thuộc Quy Nhơn ngày nay. Quân Lý mất ba ngày nữa, tất cả là 26 ngày từ Thăng Long đến đấy.

Thành Phật Thệ nước Chiêm Thành. Ba phía Tây-Nam- Bắc có núi che chở, phía Đông giáp biển. Thủy quân của nhà Lý đổ bộ ở đây. Tướng Chiêm là Bố Bì Đà La dàn trận trên bờ sông Tu Mao chặn đánh. Quân Lý xông lên. Giết Bố Bì Đà La và nhiều binh sĩ.

Lý Thường Kiệt vượt sông Tu Mao. Phải qua hai con sông nữa, mới tới kinh đô Chiêm Thành.

Đang đêm, nghe tin quân của mình bại trận ở Tu Mao. Vua Chế Củ mang vợ con chạy trốn. Đêm ấy, quan quân nhà Lý tràn vào thành Phật Thệ, đến bến Đồng La, dân ở thành Phật Thệ phải xin hàng.

Vua Thánh Tông đánh Chiêm Thành, không hạ nổi, đem quân trở về. Về đến nửa đường, đến châu Cư Liên, vua nghe nhân dân khen bà Nguyên phi Ỷ Lan ở nhà, kiên cường trị nước, an dân.

Vua Thánh Tông nổi lòng tự trọng của đấng mày râu, quay trở lại, đánh Chiêm.

Vua đem quân trở lại, đánh bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ (Rudravarman III). Lý Thánh Tông về triều, đổi niên hiệu là Thần Vũ.


Bắt vua Chế Củ dẫn về Thăng Long


Lý Thường Kiệt đem quân theo phía Nam. Tháng 4. Quân Lý tiến đến biên giới Chân Lạp. Qua các vùng Phan Rang, Phan Thiết ngày nay.

Cuộc đuổi bắt vua Chế Củ mất một tháng. Tháng 4. Lý Thường Kiệt bắt được vua Chế Củ ở biên giới Chân Lạp. Vua Chiêm vốn có cựu thù với nước Chân Lạp, nên hết đường chạy. Phải ra hàng. Chế Củ bị Lý Thường Kiệt cầm tù.

Tháng 5. Lý Thánh Tông ngự tiệc cùng quần thần ở cung điện của vua Chiêm. Trước khi về nước Đại Việt. Lý Thánh Tông sai đếm tất cả nhà của dân ở trong và ngoài thành Phật Thệ, gồm hơn 2.660 căn, đều thiêu rụi sạch.

Ngày 17 tháng 7 năm Tân Dậu, đạo quân Nam chinh về tới Thăng Long. Vua Lý Thánh Tông lên bộ ngự trên xe, quân thần cưỡi ngựa theo sau.

Vua Chiêm mặc áo vải trắng, đầu đội mũ làm bằng cây gai, tay bị trói sau lưng do 5 người lính Võ đô dắt. Quyến thuộc đi sau cũng bị trói.

Vua Chế Củ xin dâng ba châu Bố Chính, Ma Linh và Địa Lý (vùng từ dãy Hoành Sơn đến dãy Bạch Mã tương ứng với Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế ngày nay) để chuộc tội. Chế Củ được tha về Chiêm Thành.


Vua Lý Thánh Tông và Thiền phái Thảo Đường


Theo Wikipedia. Thảo Đường là một Thiền sư nước Tàu, không rõ thân thế. Là Quốc sư dưới triều vua Lý Thánh Tông. Là người sáng lập thiền phái Thảo Đường trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Năm 1069. Vua Lý Thánh Tông đem quân chinh phạt Chiêm Thành. Theo sách An Nam chí lược của Lê Tắc, trong số những tù nhân bắt được trong chiến cuộc ấy, có một Thiền sư người Tàu. Nhưng chẳng ai biết ông là Thiền sư.

Khi về tới kinh đô Thăng Long, Vua Lý Thánh Tông chia số tù nhân bắt được cho các quan để làm người phục dịch. Tình cờ Thiền sư được chia cho một người tăng lục, chuyên coi việc tăng sự tại triều.

Một hôm, trong lúc viên tăng lục đi vắng, vị sư nô bộc, lật xem thử những bản ngữ lục Thiền học chép tay, để trên bàn của chủ. Thấy trong bản chép có nhiều chỗ sai quá, Thiền sư cầm bút sửa chữa.

Khi vị tăng lục về, khám phá ra, rất ngạc nhiên, tâu lên vua. Vua Lý Thánh Tông cho vời tên nô bộc kỳ lạ ấy lên hỏi, thì biết đó là Thiền sư Thảo Ðường ở nước Tàu, nhân đi qua Chiêm Thành truyền giáo mà bị bắt.

Dùng tù binh Thiền sư, lập Thiền phái Thảo Ðường

Vua Lý Thánh Tông thấy Thiền sư Thảo Đường là người "có đức hạnh, lại tinh thông Phật điển, bèn bái làm thầy" và phong làm Quốc sư (1069) mời đến trụ trì tại chùa Khai Quốc (chùa Trấn Quốc ngày nay) tại kinh thành Thăng Long.

Thiền học của Quốc sư Thảo Đường có những nét mới lạ, so với hai Thiền phái đương thời là Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông, Vua cho phép thành lập một Thiền phái mới, lấy tên là Thiền phái Thảo Ðường.

Theo tư liệu nghiên cứu, Thiền sư Thảo Đường là đệ tử của thiền sư Trùng Hiển (980-1052, thuộc về thế hệ thứ ba của Thiền phái Vân Môn, sau được vua Tống ban hiệu là Minh Giác đại sư ở núi Tuyết Đậu (Chiết Giang, nước Tàu). Vân Môn và Tuyết Ðậu (hiệu Minh Giác đại sư) đều là Thiền sư bác học và có khuynh hướng Văn học.

Cả hai người đều nhằm tới hoằng dương Thiền học trong giới trí thức, đưa giới Nho gia đến gần với đạo Phật và trở nên Phật tử. Đặc điểm này đã ảnh hưởng nhiều tới Phật giáo đời Trần ở Việt Nam.

Theo sách Thiền sư Việt Nam, đến 50 tuổi, Thiền sư Thảo Đường có chút bệnh, ngồi kiết già mà tịch.


Thiền phái Thảo Đường


Chùa Trấn Quốc, nơi trụ trì của Thiền sư Thảo Đường.

Thiền phái Thảo Đường do Thiền sư Thảo Đường sáng lập truyền thừa được 5 đời, từ 1069- 1205. Nhưng vì có quá ít tài liệu, nên người đời sau gần như không biết nhiều về tư tưởng của phái Thiền này.

Sách Thiền Uyển Tập Anh ghi tên tuổi 19 người thuộc phái Thảo Đường, nhưng không ghi lại tiểu sử, niên đại và các bài truyền thừa của mỗi vị. Tất cả được phân làm sáu thế hệ.

Thiền sư Thảo Ðường đã giảng các tập Tuyết Đậu ngữ lục mang vẻ đẹp thơ của thầy (tức thiền sư Tuyết Đậu) tại chùa Khai Quốc. Khuynh hướng Thiền học trí thức và thi ca đã từ đó ảnh hưởng đến hai Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông.

Sau này Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử của đời Trần còn tiếp tục chịu ảnh hưởng này.

Thiền phái Thảo Đường chỉ truyền đến năm 1205 thì dứt. Lý giải điều này, sách Việt Nam Phật giáo sử luận (Tập 1) nhận xét:

...Vì khuynh hướng thiên trọng trí thức và văn chương

của thiền phái Thảo Ðường, nên thiền phái này đã không cắm rễ được trong quần chúng mà chỉ ảnh hưởng đến một số trí thức có khuynh hướng văn học.

Trong số 19 người thuộc thiền phái Thảo Ðường được ghi chép ở sách Thiền Uyển Tập Anh, ta thấy chỉ có 10 vị là người xuất gia: Thảo Ðường, Thiệu Minh, Phạm Âm, Ðỗ Ðô, Trương Tam Tạng, Chân Huyền, Hải Tịnh, Bát Nhã, Không Lộ và Ðịnh Giác (tức Giác Hải, đồng thời cũng thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông).

Ta thấy có tới 9 vị là cư sĩ, mà phần nhiều là vua với quan: Lý Thánh Tông, Lý Anh Tông và Lý Cao Tông (đều là vua), Ngô Ích là quan tham chính, Ðỗ Vũ là quan thái phó, Nguyễn Thức là quan quản giáp... Vì những lý do trên, thiền phái Thảo Ðường đã không đủ sức tạo nên một truyền thống sinh hoạt tăng viện độc lập có thể lưu truyền về sau. Ảnh hưởng của thiền phái này chỉ đáng kể về mặt học tập...

Đất, rừng, biển miền Trung hùng thiêng hồn Đại Việt

Đêm Hồ Gươm. Tháng 7- 2016. Người Nấu Sử Sôi Kinh, bên Hồ Gươm, bỗng nhận được sức mạnh Tâm linh Đại Việt. Khi phát hiện ra đất rừng, biển miền Trung các huyện Quảng Ninh, Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hoá, Lệ Thuỷ tỉnh Quảng Bình và huyện Bến Hải tỉnh Quảng Trị ngày nay là đất Địa linh nhân kiệt, hùng thiêng hồn nước Đại Việt. Đất Biển miền Trung bừng bừng sức mạnh chiến thắng của vua Lý Thánh Tông và Lý Thường Kiệt, làm cho nước Tống nể sợ và nước Chiêm Thành dâng đất.

Cầu hồn thiêng vua Lý Thánh Tông, tướng quân Lý Thường Kiệt và thủy binh Đại Việt hùng cường, hiển linh giúp con cháu cứu biển và người bốn tỉnh miền Trung: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế đang bị hủy diệt bằng hóa chất.


Hồn Đại Việt Quyền Linh


Đêm Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh /Con tìm về triều Lý hiển hách, anh minh/ Bỗng sáng bừng sức mạnh Tâm linh Đại Việt.


Vua Lý Thánh Tông phá Tống, bình Chiêm/ Lý Thường Kiệt cùng đoàn quân xung trận/ Kéo quân sang nước Tàu, chặn Tống xâm lăng/ Vào Chiêm Thành bắt Chế Củ về Thăng Long/ Dùng tù Thiền sư Tàu, lập Thiền Thảo Đường/ Tù Chiêm Thành dâng hoa tay xây Thăng Long…


Vua Chiêm dâng đất ba châu cho Đại Việt/ Nay là đất, biển, rừng bốn tỉnh miền Trung/ Dân Việt- Chiêm hòa máu xương vui sống/ Cộng sinh cùng biển, thuyền đầy cá tôm/

Cớ gì bè lũ Formosa rắp tâm hủy diệt?

Hồn Đại Việt trùng phùng soi sáng/ 90 triệu dân Việt đứng dậy cứu môi sinh.”


(Còn tiếp…)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 03.02.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004