Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới








TU PHẬT THỜI NAY (2)




4. Về vấn đề Cư Sĩ có thành Phật được hay không? Đây là một câu hỏi lớn, cần phải hiểu lại cho đúng về nghĩa của PHẬT thì sẽ giải quyết được nhiều thứ, kể cả việc Tu Phật, Thờ Phật. Thật vậy, từ xưa đến nay hầu hết Phật Tử thấy Kinh viết Phật có thể “cứu độ cho Tam Thiên Đại thiên thế giới” thì đều cho rằng Phật là Thần Linh, nên đúc hình, tạc tượng để tôn thờ, cầu xin. Vì thế họ nghĩ rằng việc “Thành Phật” phải là cái gì đó lớn lao, ghê gớm, đòi hỏi phải độc thân, phải là bậc tu hành khả kính, người phàm không thể lên được địa vị đó. Nhưng nghĩa thật sự của PHẬT chỉ là Giải Thoát. Người giải thoát được cho mình hết phiền não, đau khổ thì gọi là thành Phật. Tả về Phật, Kinh viết: “Phật là vô tướng, do vô lượng công đức mà thành”, có nghĩa là người tu hành phải giải thoát từng việc, từng phần, cho đến khi giải thoát rốt ráo thì gọi là thành tựu con đường giải thoát hay Thành Phật. Cái kết quả Giải Thoát đó đâu có tướng, đâu có phép mầu để có thể phù hộ cho ai được. Trong Sáu Cửa Vào Động Thiếu Thất có người hỏi: “Hàng Áo Trắng (Bạch Y) dâm dục không trừ, bằng vào đâu mà thành Phật được?. Tổ Đạt Ma đã trả lời: “Tôi chỉ nói Thấy Tánh, chẳng nói dâm dục. Chỉ cần Thấy Tánh mới vỡ lẽ rằng từ vô thỉ dâm dục vẫn là không tịch, chẳng có gì phải giả dối dứt trừ, mà cũng chẳng mắc vào dục lạc”. Tổ giải thích thêm về Tánh: “Cái Tánh vốn thanh tịnh, dù ở trong sắc thân ngũ uẩn, nhưng ngũ uẩn không nhuốm dơ được nó. Bổn lai nó vốn tự có, không do ai ban, không xấu tốt, khổ vui, dài ngắn, mạnh yếu. Nhưng vì chấp có Sắc Thân này nên mới có nóng lạnh, đói khát, các chứng bệnh đủ thứ. Nếu chẳng chấp thì mặc tình đi đứng, được tự tại ngay giữa dòng sống chết, cùng với thánh nhân tự tại, vô ngại như nhau”.

Có lẽ cũng cần phải mở ngoặc ở đây để bàn thêm một chút về chữ DÂM. Dâm không nói riêng về Dâm Dục, mà nói về sự muốn không biết đủ về mọi vấn đề. Nhưng sở dĩ nhiều người không chấp nhận Cư Sĩ cũng có thể tu hành, thành Phật được vì họ hiểu lầm Phật là Thần Linh, nên họ nghĩ rằng muốn thành Thần Linh hay lên Thánh Vị thì phải là người thanh tịnh, không có vợ con, vì cho rằng người có gia đình thì phạm vào Giới Dâm, mất thanh tịnh. Họ quên rằng người độc thân hay có gia đình thì cũng đều có Phật Tánh, cũng đều có nhu cầu Thoát Khổ như nhau. Do đó, nếu tu hành thì vẫn có thể Giải Thoát như nhau không khác. Người có gia đình thì việc vợ chồng là Chánh Dâm, không có phạm Giới. Chỉ có Tà Dâm mới phạm Giới. Những gì pháp luật đời không cấm thì Đạo Phật cũng không cho đó là tội. Hơn nữa “Chư Phật Ba Đời không nhàm chán xác thân”. Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát đã phát thệ: “Ngày nào còn một chúng sinh chưa được độ. Con thề không ngồi vào ngôi Vô thượng Chánh Giác”. Chư Bồ Tát luôn luôn theo dõi chúng sinh để giáo hóa, không có rời bỏ chúng sinh để an hưởng Niết Bàn. Và cũng chính nhờ những người có vợ, có chồng, mà con người mới có điều kiện sinh sôi, Chư Phật mới có nơi để vào đời mà giáo hóa con người. Nếu tất cả đều diệt dục hết thì Chư Phật muốn nhập thế để giúp đời sẽ nhờ phương tiện nào? Cho nên việc có gia đình, sinh con, đẻ cháu không phải là vô ích mà lại rất cần cho xã hội, cho Chư Bồ Tát nhập thế giúp đời. Thử tưởng tượng một xã hội chỉ toàn những người già chờ theo ông bà, không có lớp kế thừa thì sẽ ra sao? Hơn nữa, người tu tại gia tự làm mọi nghề để sống mà tu tập. Giả sử họ có tu sai thì cũng không mang nợ của bá tánh. Người vô Chùa, hưởng dụng của bá tánh mà tu không thành công thì món nợ đó trả không biết bao giờ mới hết.

Chẳng cần phải độc thân, không được có gia đình mới tu hành được. Vấn đề quan trọng là THẤY TÁNH. Tổ Đạt Ma dạy: “Nếu Thấy Tánh, chiên đà la cũng thành Phật được”. : “Nếu thấy Tâm mình là Phật thì chẳng cần cắt tóc, cạo râu. Hàng Bạch y vẫn là Phật. Nếu không Thấy Tánh, cắt tóc, cạo râu vẫn là ngoại đạo”.

Thấy Tánh là sự Chứng Đắc của Đạo Phật mà Chư Vị Cổ Đức cho là: “Kiến Tánh khởi tu”, hay “Thấy Tánh thành Phật”. Thấy Tánh hay thấy được Bản Thể Tâm là thấy được cái TA THẬT của mình. Trước đây ta cứ tưởng cái Thân giả tạm nầy là Ta, bởi mọi cảm xúc nóng lạnh, đói no, vui buồn, thương ghét… đều dựa vào nó. Vào Đạo Phật, chúng ta được dạy rằng cái Thân này là giả tạm, do Tứ Đại kết hợp, đến lúc nào đó phải tan rã. Cái TA THẬT là cái Thường Hằng, Bất Sinh, Bất Diệt đang song hành với cái Ta Giả này. Nhưng giai đoạn đầu, dù được giải thích nhưng chúng ta không thể hiểu, không thể Thấy được. Qua một thời gian hành trì, Soi, Quán, Xả bỏ những thứ chấp nhất, tập giữ Giới, tập làm những Hạnh của Phật. Đến lúc đầy đủ công đức thì người tu sẽ nhận ra cái Bổn Thể Tâm của họ. Tất nhiên người đã nhận ra cái Ta Thật rồi thì không bao giờ giữ y nếp nghĩ, nếp sống cũ, mà mọi suy nghĩ, hành động cũng theo cái Ta mới gặp lại đó. Đã nói Thân này là giả, là không phải Ta, thì đâu có chìu theo mọi sở thích của nó để Tham, Sân, Si, giận hờn, yêu ghét, tích lũy của cải như trước nữa, mà cuộc sống từ đó cho đến hết kiếp là để thể hiện cái Chân, Thiện, Mỹ, nối tiếp con đường của Chư Vị Giác Ngộ, mồi ngọn Vô Tận Đăng để tất cả mọi người đều được Giải Thoát, được hạnh phúc, an vui. Đó mới là người thật sự Thấy Tánh.

Tại sao phải Thấy Tánh thì mới Thành Phật được? Tại vì người chưa biết được cái Ta Thật, thì còn bị lệ thuộc, bị cái Ta Giả nó khống chế. Gây tội, tạo Nghiệp cũng vì nó. Cho đến khi nào Thấy Tánh hay gặp được cái Ta Thật thì mới có thể bỏ giả, về Chân, lúc đó mới hết bị ràng buộc, mới Giải Thoát hay Thành Phật được.


5. Đạo Phật được mở ra là vì tất cả mọi người. Phật dạy: “Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành”, đâu có nói chỉ riêng Tu Sĩ hay chỉ những người độc thân mới có quyền Thành Phật? Nếu người nào thực hiện được Ý Nghĩa của những việc Cạo Tóc, Đắp Y, mặc Y hoại sắc như phần trước đã trình bày, và thực hiện đúng ý nghĩa của các việc sau thì người đó chính là đang tu hành:

- Xuất Gia là Ra khỏi Nhà Lửa Tam Giới, tức là rời bỏ Tham, Sân, Si.

- Xa lìa cha mẹ là rời bỏ Vô Minh và Tham Ái, vì hai thứ này từ bao đời sai khiến chúng ta như cha mẹ sai con.

- Xa rời quyến thuộc ngu si, hay “Độ cho Bảy Đời quyến thuộc”: Đó là Ba Nghiệp của Thân và Bốn Nghiệp của Khẩu. Vì những Nghiệp này mới là quyến thuộc theo ta từ kiếp này đến kiếp khác. Còn quyến thuộc bên ngoài thì khi bỏ cái thân mạnh ai nấy đi theo nghiệp riêng của mình, không thể theo nhau được.

- Cất Chùa là biến Đất Tâm đầy phiền não trở thành Thanh Tịnh Địa.

- Dùng những Hạnh Phật để đúc, tạc Tượng Phật của chính mình, không phải Đúc bằng những vật liệu trần gian, vì Phật là vô Tướng, được hình thành bởi những công đức.

- Hành để có 32 Tướng Tốt cho Phật của mình.


6. Về nơi chốn để tu hành thì từ xưa, mọi người quan niệm rằng phải “Ly Thế Gian” theo nghĩa văn tự thì mới tu được. Trong khi đó, Lục Tổ dạy: “Phật Pháp tại thế gian. Bất ly thế gian giác. Ly thế mịch Bồ Đề. Cáp như cầm thố giác”. Có nghĩa là “Giải Thoát phải tìm ở ngay tại thế gian”, bởi vì ở trong thế gian mới có va chạm, tiếp xúc với các pháp thuận, nghịch, phải đối phó với cơm áo, gạo tiền, được mất, hơn thua… diễn ra hàng ngày. Đó là môi trường để cọ xát, rèn luyện. Vô Chùa, núp sau cánh cửa Chùa, không phải kinh doanh, làm ăn, không đụng chạm, tiếp xúc với người đời, mọi thứ đã có người cung phụng thì đâu có gặp pháp nào để vướng mắc mà cần Giải Thoát? Do đó Lục Tổ cho là “Rời trần gian mà tìm Giải Thoát giống như đi tìm sừng thỏ”! Vì vô Chùa đâu có gì ràng buộc mà cần Giải Thoát? Cái gọi là “Thế Gian” mà người tu cần Ly, đó là Tham, Sân, Si, Thương, Ghét, là những tính Ác, những tính xấu xa, độc ác, ti tiện, gọi chung là Chúng Sinh, đã đeo bám mỗi người từ vô lượng kiếp đến nay. Chỉ cần “Diệt Độ” những chúng sinh đó, thì sẽ được Giải Thoát tức Thành Phật.

Muốn tu hành thì Lục Tổ dạy: “Chư Thiện Tri Thức, muốn tu hành thì ở nhà tu cũng đặng, chẳng cần ở Chùa. Ở nhà mà thường tu hành thì cũng như người Đông Phương có lòng lành. Ở Chùa mà chẳng tu hành thì cũng như người Đông Phương có lòng dữ. Nếu lòng trong sạch thì Tánh mình tức là Tây Phương vậy”. Kinh VIÊN GIÁC có Kệ: “Nếu người đoạn Thương, Ghét. Cùng với Tham, Sân, Si. Chẳng cần tu gì khác. Cũng đều được Thành Phật”. Đâu có phân biệt đối tượng, nơi chốn, cũng đâu phải làm điều gì lớn lao không thể làm nổi?

Và chúng ta nghĩ sao khi Phật dạy là “Nhân thân nan đắc”. Số người chết rồi được trở lại làm người như chút đất dính trên đầu móng tay so với đất trên trái đất”, thì cơ hội được làm người khó khăn biết bao? Vậy mà chỉ vì nghe Đạo Phật nói rằng đời là Vô Thường rồi cả một kiếp sống không làm gì, chỉ dành để tụng kinh, Niệm Phật chờ chết về Tây Phương Cực Lạc, trong khi hàng ngày vẫn hưởng dụng thành quả lao động của biết bao nhiêu thành phần trong xã hội? Hơn nữa, Phật có dặn dò người tu đền TỨ ÂN, tức là phải giúp đỡ, nuôi dưỡng ông bà, cha mẹ để báo hiếu. Cống hiến cho xã hội. Đóng góp công sức để đền ơn chúng sinh đã cung cấp cho mình mọi phương tiện để tồn tại, thì chúng ta không thực hiện điều đó trong khi vẫn còn trẻ, sức khỏe còn dồi dào, trí óc còn minh mẫn, lẽ ra có thể làm được nhiều việc tốt đẹp cho đời, lại biến mình thành gánh nặng của xã hội, chỉ nhân danh tu hành. Nếu là người có ý thức Nhân Quả ắt sẽ suy nghĩ lại, bởi vì mỗi người tự làm, tự chịu, Phật không có chịu thế cho ai được.


7. Mọi người cứ tưởng rằng Như Lai là Phật Tổ Như Lai, có toàn quyền thưởng phạt nên đã tạc tượng để thờ! Nhưng Kinh Viên Giác viết: “Đây là phương tiện đầu tiên tu hành của hành giả tức là Ba Pháp Quán (CHỈ, QUÁN và CHỈ QUÁN SONG TU). Nếu chúng sanh tinh tấn siêng tu Ba pháp Quán này được hoàn toàn tức là Như Lai xuất hiện ở thế gian vậy”. (Mục 9 Chương Viên Giác). Qua đó, chúng ta được gián tiếp giải thích là Như Lai chỉ là người tu hành bình thường, nhờ Chỉ, Quán và Chỉ Quán Song Tu mà hiểu rõ về Các Pháp để có được cái Thấy các pháp đều NHƯ. Nhờ vậy mà đến, đi, đều không động tâm với các Pháp nên gọi là Như Lai.


8. Một hiểu lầm cũng cần thay đổi đó là Nhân Quả. Người hiểu lý Nhân Quả thì không cầu xin, mà tự gây Nhân Thiện để có Quả Lành. Thay vì Cầu An thì Nhẫn Nhục, hiền hòa, không gây hấn, trái lại phải tôn trọng mọi người. Không vi phạm, không hại người khác, thì người khác cũng đâu có làm khó dễ ta? Thay vì CẦU SIÊU thì hãy sống cuộc sống tốt đẹp theo Bát Chánh Đạo. Hiếu thuận với ông bà cha mẹ. Không tham lam, không hại người, không lừa dối người, thì chắc chắn khi qua đời sẽ siêu thăng về cõi tốt đẹp. Ngược lại, cả đời sống gian tham, hại người, làm toàn việc ác. Lúc qua đời thì Thầy nào tụng để đưa về Tây Phương Cực Lạc được? Phật đã không phải là Thần Linh thì làm sao rước? Giả sử Phật có là Thần Linh đi nữa thì chẳng lẽ Thầy Tu còn cao hơn Phật, có quyền ra lệnh cho Phật và Thánh chúng đổi Quả xấu thành tốt cho vong linh được? Cho nên những việc đó là Mê Tín, không phải là của Đạo Phật, cần phải bài trừ, và người khuyến khích Cầu An, Cầu Siêu không khác nào gián tiếp cổ xúy cho mọi người tha hồ ở ác vì đã có Phật bảo kê, sống thế nào mặc kệ, lúc chết có Thầy tụng là sẽ siêu thăng về Tây Phương Cực Lạc!


9. Cúng dường và Bố Thí: Nhiều người ngay cả làm phước cũng tính toán để thế nào phước báo trả lại càng nhiều càng tốt. Nghe nói “cúng dường cho người tu, cho Chùa thì phước báo vô lượng”, nên Chùa cần bao nhiêu là cũng sẵn sàng bỏ ra không tiếc, trong khi đó, với người nghèo thì dửng dưng, hoặc bỏn xẻn. Năm vừa qua báo chí đưa tin một số trường hợp vì bế tắc mà tự vẫn, như một giáo viên ngoại ngữ người Đức ở An Giang đã treo cổ chết. Khi mọi người phát hiện thì trong túi ông chỉ còn có 20.000đ! Có người phụ nữ ôm con nhảy xuống sông cũng vì bế tắc trong cuộc sống. Cách đây vài năm cũng có một phụ nữ, con thi đậu Cao Đẳng mà không có tiền đóng tiền học cho con, vay tiền nhà nước cũng không được nên tự tử, để lại thơ trối lại, mong dùng tiền phúng điếu để đóng học phí cho con. Còn xót xa nào hơn! Tất cả vì họ tuyệt vọng mà không có bàn tay nào chìa ra để cứu vớt! Mọi người đánh giá sai về cúng Dường, Bố Thí. Kinh Duy Ma Cật viết: “Nếu người thí chủ dùng tâm bình đẳng thí cho một người ăn xin rất hèn hạ, xem cũng như tướng phước điền của Như Lai, không phân biệt, lòng bình đẳng, không cầu quả báo. Đó gọi là đầy đủ pháp thí vậy”. Nếu Bố Thí mà tính toán thì đâu còn là Bố Thí nữa! Họ quên rằng “Tất cả chúng sanh là Phật sẽ thành”. Bố thí cho người nghèo là Bố Thí cho “Phật vị lai”, phước báo cũng đâu có mất. Ông bà ta cũng nói: “Dẫu xây chín bậc phù đồ. Không bằng làm phúc cứu cho một người”. Vậy mà phù đồ ngày càng hoành tráng. Người khổ lại không được cứu đúng lúc, để đến lúc xảy ra hậu quả nặng nề mọi người chung quanh mới thấy ân hận là đã quá vô tâm! Giữa xây cầu cho dân có phương tiện đi lại làm ăn và xây Chùa tốn kém để Thờ Tượng Phật, trong khi Phật không phù hộ được cho ai, chỉ là hiểu lầm Phật là Thần Linh, thì cái nào có ích cho con người hơn? Mong rằng người muốn tích lũy phước báo cũng thay đổi cách suy nghĩ để người tuyệt vọng bỏ đi suy nghĩ tiêu cực vì biết rằng còn có người đưa tay giúp đỡ, không ai nỡ bỏ rơi mình.


Kết Luận.


Đạo Phật phân ra hai Thừa: Đại Thừa và Phật Giáo Nguyên Thủy hay Tiểu Thừa. Mỗi bên có cách hiểu, cách hành, kết quả khác nhau. Đại Thừa thì cho rằng tất cả mọi người không phân biệt Tu Sĩ, Cư Sĩ, hay Phật Tử. Nếu “đúng như pháp tu hành” thì đều thành Phật. Phật Giáo Nguyên Thủy thì người tu phải Ly Gia, Cắt Ái, phải tập trung ở trong Chùa, phải đầy đủ hình tướng, không được có gia đình mới có thể tu hành, đắc quả. Quả vị cao nhất của Phật Giáo Nguyên Thủy là A La Hán. Người đắc A La Hán thấy các Pháp đều Không. Cái mâu thuẫn bên Phật Giáo Nguyên Thủy cho rằng “Các Pháp đều là Không”, thì lẽ ra không có Phật, không có ta, không cả mọi người. Vậy mà lại cất Chùa, dựng Tượng hoành tráng, tập họp Phật Tử để thờ ai? Rõ ràng là nói KHÔNG, mà hành CÓ!

Giữa hai Thừa, Phật Tử có quyền chọn lựa để tu học đều có ích, vì ít ra cũng được dạy Thập Thiện. Dù vậy, không phải tất cả Tu Sĩ bên nào cũng đều thật tâm tu hành, hoặc có thể thông hiểu Phật Pháp để giảng dạy đúng Chánh Pháp. Hơn nữa, Đức Thích Ca cũng bắt đầu như tất cả chúng ta, thì ai cũng có thể làm được như Ngài. Vì vậy, người khuyến khích xây dựng Chùa Chiền để thờ Phật càng chứng tỏ họ là người chưa hiểu đúng về Phật. Kinh dạy: “Phật là vô tướng, do vô lượng công đức mà thành”. Mỗi việc làm Tốt tượng trưng cho một Tướng của Phật thì việc tạc tượng để thờ lại càng không đúng với Chánh Pháp vì “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Tổ Đạt Ma và Tổ Huệ Năng cũng dạy rằng muốn tu Phật thì không cần bỏ nhà vô Chùa. Cũng chẳng cần sống độc thân. Người nào chịu sửa tính xấu, cải Ác hành Thiện, đi trong Bát Chánh Đạo, thì người đó đã là Tu sĩ, cần gì phải đắp Y, cạo tóc cho nghiêm trọng? Quả vị trong kinh có đề cập đến - nhưng nói rằng đó chỉ là “Hóa thành dụ” để cho người lười mỏi nghỉ ngơi rồi đi tiếp, sợ họ tu lâu năm mà không thấy có kết quả gì sẽ thối tâm - Vì thế, Quả vị chỉ là phương tiện để cho những người bỏ được cái Tham của cải trần gian, nhưng lại tham Chứng Đắc, muốn thành Thánh, Thành Phật! Tây Phương, Đông Phương chỉ để dẫn dụ con người vì ham về đó mà bớt tham đắm của cải thế gian để bớt cảnh tranh giành, chém giết nhau, mọi người được sống yên vui mà thôi.

Cuộc đời đâu có làm gì mà ta chê là ô trược? Chỉ tự con người làm xáo trộn cuộc đời rồi chê chán. Hoặc nghe nói thế gian là trần tục đã vội bỏ đời, vô Chùa, cho rằng mình đã Thoát Tục! Nhưng nói rằng thoát tục mà từ tương chao, rau đậu, cơm áo, tọa cụ, chi phí, thậm chí cả Chùa chiền toàn là phẩm vật của trần tục, người tu vẫn phải dùng hàng ngày để duy trì cuộc sống. Vậy thì thoát tục chỗ nào?

Mặc con người sống tốt hay xấu, yêu hay ghét… Cuộc đời lúc nào cũng như người mẹ vĩ đại với tấm lòng rộng mở. Vẫn vô tư cung cấp cho con người mọi thứ. Nào là trái đất với biển rộng bao la. Núi non hùng vĩ. Rừng xanh bạt ngàn. Thác ngàn uốn lượn. Hoa cỏ xanh tươi bốn mùa khoe sắc. Trái cây ngon ngọt quanh năm. Thức ăn dồi dào, lúc nào cũng sẵn. Chỉ cần con người đừng tham lam rồi tàn phá thiên nhiên, tàn sát lẫn nhau, mà biết yêu thương, san sẻ với nhau, cùng nhau giữ gìn và tôn tạo trái đất, và yêu thương, giúp đỡ nhau để cõi đời vốn đã đẹp lại càng đẹp thêm, thì cảnh trần có khác gì cảnh Tiên hay Niết Bàn? Niết Bàn chỉ có nghĩa là “Ra khỏi rừng phiền não”. Ai cũng có Niết Bàn của mình, cần gì vọng về Niết Bàn của Phật nào khác?

Kinh Duy Ma Cật dạy: “Tâm nhơ nên chúng sanh nhơ”. Thật vậy, thay vì chế tạo bom đạn để tiêu diệt nhau thì sao không nghiên cứu để chế ngự bệnh hoạn, tiện nghi để mọi người dùng? Thay vì vơ vét để bản thân, gia đình thụ hưởng một cách xa hoa thì nghĩ tới nhiều người còn đang khó khăn mà san sẻ. Thay vì giành giật nhau từng tấc đất để gây họa chiến tranh, làm dân tình điêu linh, thống khổ thì nhường nhịn nhau, bởi biết cuộc sống Vô Thường, có giành được mai kia chết cũng không mang theo được. Đó là ta chuyển cái Tâm từ tội lỗi sang thanh tịnh. Chính vì vậy mà có Đạo Phật xuất hiện để nhắc nhở con người ý thức điều đó.

Dù Giáo Pháp của Đạo Phật dùng đủ thứ phương tiện nhưng chỉ nhằm mục đích “cứu Khổ” cho con người ở tại kiếp sống mà thôi. Không phải đề thành Phật, thành Thánh gì hết. Đạo Phật cũng không phải là một Tôn Giáo để dạy Thờ Phật, mà là một giáo trình dạy con người cách sống để được hạnh phúc, an vui trong kiếp sống tạm trăm năm. Dù vậy, việc tu hành không phải vô ích, vì hiện đời được an vui. Không gây Nghiệp nên qua kiếp khác cũng không phải đọa. Đó là mục đích, là những gì mà Đạo Phật muốn “cứu độ” cho con người. Bao giờ con người hiểu biết để tu sửa bản thân, không còn Tham Sân Si, tranh giành với nhau để khắp nơi không còn cảnh Khổ hành hạ. Mọi người biết yêu thương, tôn trọng, giúp đỡ nhau, tất cả đều được an vui trong cuộc sống, cái tâm được nhẹ nhàng, thanh tịnh, gọi là Hữu Dư Y Niết Bàn. Hết kiếp lại được về nơi tốt đẹp. Có tái sinh thì cũng sẽ được hưởng phúc Nhân Thiên hoặc lên các cảnh giới tốt đẹp hơn thì Đạo Phật mới hoàn thành sứ mạng của mình. Do đó, không cần thay cảnh đổi tướng, cũng chẳng cần giữ hàng mấy trăm Giới. Người nào chịu quay vô tu sửa Thân, Tâm. Cải Ác, Hành Thiện, thì người đó đã là TU SĨ rồi vậy.


Tháng 12/2017



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 03.02.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004