Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới








TU PHẬT THỜI NAY




Từ bao đời qua, mọi người đã quá quen thuộc với những Tu Sĩ mang trên người hình ảnh của Đức Phật ngày xưa: Đầu tròn, áo vuông, đi, đứng, ngồi, nằm theo Tứ Oai Nghi, sống thành đoàn thể, biệt lập, cửa kín, tường cao, trong những ngôi Chùa hoành tráng, với những tượng Phật được chạm, khắc, đúc bằng những chất liệu quý hoặc thếp vàng, trang hoàng lộng lẫy, đèn hoa sáng rực, lúc nào cũng khói hương nghi ngút. Bốn thời trong ngày của Tu Sĩ chỉ dành để Tham Thiền, Tụng Kinh, Niệm Phật, Học Pháp, Giảng Pháp để hoằng dương Phật Pháp. Họ không được tham gia việc đời. Trước khi xuất gia, dù có giỏi bao nhiêu, bằng cấp đời chuyên môn cao cỡ nào, khi Xuất Gia cũng đều phải dẹp bỏ hết. Họ cũng không phải kiếm sống, mà toàn bộ chi phí từ cái ăn đến cái mặc, chi phí sinh hoạt cho Chùa chiền đều do Phật Tử cúng dường.

Phật Tử được chia ra làm hai giới rõ rệt. Giới Tu Sĩ thì từ hình tướng cho tới cách sống đều theo khuôn mẫu từ xưa: phải rời bỏ nhà cửa, cha mẹ, quyến thuộc; không được có gia đình, để cống hiến toàn bộ cuộc đời cho Phật. Phật Tử thì sống ngoài đời bình thường, tự do kinh doanh, làm ăn, chỉ cần Quy Y với một vị Sư nào đó, rồi thỉnh thoảng đi tới Chùa, nghe Pháp và thành tâm cúng bái, cầu xin Phật Độ cho. Khi có việc thì mang vàng hương đến Chùa nhờ các Sư Tăng chứng giám lòng thành, gởi lên chư Phật để cầu xin được bớt rủi, thêm may, tai qua, nạn khỏi. Khi có người thân qua đời thì mời Sư đến tụng Kinh Vãng sanh để mong Phật rước về Tây Phương Cực Lạc. Tro cốt cũng mang gởi ở Chùa để cho vong linh người chết hàng ngày nghe Kinh, hy vọng sẽ nhờ đó họ sẽ hướng tâm về với Phật. Người muốn Cúng Dường Phật thì cũng nhờ những vị Sư chuyển cho. Ai có thì giờ thì đến Chùa lau dọn, quét tước, hay phụ giúp dọn, rửa, nấu nướng. gọi là “làm công quả” để “ăn mày phước báo”.

Có một Thượng Tọa rất có uy tín đã nói rằng “chỉ có Tu Sĩ độc thân thì mới tu hành thành đạo được. Cư Sĩ thì chỉ có thể trở thành chân nhân thôi”. Trong khi đó thì Đức Thích Ca Thọ Ký: “Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành”, vì “Tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh” không hề phân biệt Tu Sĩ hay Cư Sĩ. Chúng ta nghĩ sao về khẳng định này? Cư Sĩ có thể tu hành Giải Thoát, Thành Phật được hay không? Nếu cùng tu hành thì việc có gia đình và độc thân, kết quả khác nhau chỗ nào?

Lẽ ra Tu Phật là để kế tục con đường của Đức Thích Ca đã đi, là phải Thành Phật. Nhưng từ Ngài Huệ Năng là Tổ cuối cùng được Pháp Bảo Đàn Kinh ghi lại là người Thấy Tánh, Chứng Đắc, mãi cho tới về sau này không thấy nơi nào bàn đến việc tu hành để Thành Phật nữa.

Nếu là người có chút ưu tư về Đạo Phật có lẽ chúng ta cũng không khỏi thắc mắc, không biết Đạo Phật hiện tại có còn giống Đạo Phật mà Đức Thích Ca và Chư Tổ giảng dạy hay không? Vì thời xưa chưa có chùa chiền, Phật và chư Đại Đệ Tử phải sống trong rừng hay những cội cây để tu học. Họ đi chân trần, khất thực để được cho gì ăn nấy, không đòi hỏi chay hay mặn. Mặc thì vải thô, hoại sắc, không tích trữ lương thực, của cải, tài sản. Bây giờ thì mọi thứ có vẻ khác xưa nhiều quá. Có lẽ chúng ta cần đặt lại vấn đề xem Đức Thích Ca bày ra Tu Phật để làm gì? Tu Phật phải làm những gì? Theo tôi, đó là một số câu hỏi mà người thật sự quan tâm đến Đạo Phật cần đặt ra nếu không muốn tu hành trong mơ hồ, không biết phải làm gì? Không biết sẽ về đâu? Bởi bao nhiêu thời qua, có biết bao lớp người đã Xuất Gia, đã tu hành cho đến cuối đời để rồi cuộc sống qua đi mà không nghe thấy có ai chứng đắc để truyền lại cho lớp sau. Như vậy liệu có phải là phí phạm một kiếp mà Phật dạy là “Nhân thân nan đắc” hay không?


Thật vậy. Nếu thật sự chúng ta đã can đảm dứt khoát rời bỏ cha mẹ, gia đình, chấp nhận bỏ đời để tu hành mà không biết là lẽ ra tu hành theo Đạo Phật là phải Thành Phật. Và nếu hiểu được như thế thì cũng phải tìm xem nếu muốn Thành Phật thì phải làm gì, làm trong bao lâu? Thế nào là Chứng Đắc? Nếu những điều đó mà ta còn chưa biết thì đi Xuất Gia để làm gì? Đó là lý do vì sao Chùa Chiền trở thành nơi Thờ Phật như hiện nay, bởi cứ “xưa bày, nay làm”. Người đi trước đã không Chứng Đắc thì lấy gì để truyền lại cho người sau? Đã vậy, nhiều nơi “đầu vào” cũng quá dễ dãi, không cần biết vì lý do gì mà họ Phát Tâm. Ai muốn tu thì Chùa đều nhận. Ở quê nhiều người do nghèo quá, đem con gởi vô Chùa để đỡ phải nuôi. Đứa trẻ ở Chùa được đào tạo lần hồi thành Sư. Một số chán đời, làm ăn thất bại cũng đi tu! Trước 75, nhiều người trốn quân dịch cũng vô Chùa tu! Những người đó làm gì có cái bức xúc về con đường tu hành? Cái họ cần chỉ cần một chỗ nương thân, có cơm ăn, không còn bị “bắt lính” là được rồi, cần gì biết cuối đường tu sẽ về đâu!? Thế rồi số người đó ở trong Chùa lâu năm, học thuộc một số bài, với thời gian cũng lên làm Thầy, đi giảng Đạo. Đâu cần biết gì nhiều. Chỉ cần thuộc một số nghi thức. Pháp thì đại khái cuộc đời là “Vô Thường, Khổ, rồi Phật Pháp nhiệm mầu, Quán Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn” để hướng dẫn cho bá tánh có việc thì cứ cầu xin Phật Độ cho. Phật Tử được nhồi nhét những niềm tin như thế, dần dà thì Đạo Phật trở thành Quyền Thừa, Nhị Thừa, đôi khi có vị còn pha trộn dị đoan, mê tín, xem ngày tốt, xấu, cúng sao giải hạn, đốt vàng mã… vào đó, Phật Tử làm sao phân biệt được?

Nhiều năm qua Chùa nào đủ điều kiện cũng đã cử Tu Sĩ đi học ở nước ngoài, nên hiện giờ Hòa Thượng có bằng Tiến Sĩ Phật Học cũng nhiều. Nhưng hình như những nơi cấp bằng thuộc hệ phái Tiểu Thừa, nên mới có sự phân biệt giữa Tu Sĩ Và Cư Sĩ như thế, trong khi việc tu Phật theo Đại Thừa được viết trong Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA thì: “Cõi nước chỗ nào nếu có người thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép, đúng như lời tu hành. Hoặc là chỗ có quyển Kinh, hoặc trong vườn, hoặc trong rừng, hoặc dưới cây, hoặc Tăng Phường, hoặc nhà Bạch Y, hoặc ở điện đường, hoặc núi hang đồng trống, trong đó đều nên dựng tháp cúng dường. Vì sao? Phải biết chỗ đó chính là đạo tràng, các Đức Phật ở đây mà đặng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, các Đức Phật ở đây mà chuyển pháp luân, các Đức Phật ở đây mà nhập Niết Bàn”. (Phẩm Như Lai Thần Lực). Chỗ nào “Đúng như lời tu hành”, thì chỗ đó chính là Đạo Tràng. Các Đức Phật ở đây mà Chuyển Pháp Luân. Các Đức Phật ở đây mà nhập Niết bàn. Kinh đâu có phân biệt chỗ ở, Tăng Phường hay Bạch Y?


Bản thân tôi, tuy không Xuất Gia, nhưng vì tò mò mà đã quyết tâm tìm hiểu Đạo Phật xem có gì mà được bao nhiêu thời ngưỡng mộ. Phải nói rằng tôi rất là may mắn khi gặp được người Thầy. Ông khuyên những người theo nghe ông giảng đừng bao giờ tin ông mà nên đọc Kinh để tìm hiểu và thực hành những lời Phật dạy trong đó. Tôi đã bỏ ra hàng mấy chục năm miệt mài tìm hiểu. Cuối cùng khám phá ra một số điều quan trọng như sau:


1. Trước hết là thấy được ý nghĩa của bộ sắc phục mà những Tu Sĩ khoác lên người. Không chỉ đơn thuần là những gì ta trông thấy qua hình tướng, mà mỗi hình tướng nói lên việc mà người mang cần thực hiện trong cuộc sống:

- Cạo tóc không đơn thuần là cạo sạch cái đầu. Mà có nghĩa là “Cạo sạch phiền não”. Đầu tròn tượng trưng cho sự tròn trịa, ngay ngắn, không xiên xẹo từ ý nghĩ cho đến hành động.

- Áo Vuông tượng trưng cho sự cư xử vuông tròn, trên, dưới, trong ngoài đều ngay thẳng.

- Y hoại sắc tượng trưng cho Thân, Tâm không nhiễm trần.

Như vậy, người mang hình tướng tu sĩ được nhắc nhở là luôn luôn phải giữ từ bên ngoài cho đến nội tâm, một sự thanh tịnh, nhẹ nhàng, tròn trịa, ngay ngắn, không vướng bận trần cảnh. Điều đó cũng cho thấy là: Nếu người nào ý thức để thực hiện đúng các ý nghĩa của những hình ảnh tượng trưng đó thì việc khoác nó lên người không cần thiết nữa. Mặt khác, nếu hình tướng đầy đủ mà không tu hành nghiêm chỉnh thì chẳng có giá trị gì hết. Phật Ngôn có câu: “Nếu chiếc Y Ca Sa có oai lực giải trừ Tham, Sân, Si thì cha mẹ hoặc người thân của đứa bé chỉ cần khoác lên người khi đứa bé mới ra đời là đã được toại nguyện”. Người đời cũng nói: “Chiếc áo không làm nên thầy tu”, vì họ cũng biết rằng không phải ai vận chiếc áo vào cũng là Tu Sĩ, và cũng có nghĩa là nếu ai đó tự tu sửa thì chẳng cần sắc phục cũng đã là Tu Sĩ.


2. Nhiều người xem việc Tu Sĩ phải tập trung, không được có gia đình, không được làm ăn, thí chủ có trách nhiệm cung dưỡng cho họ mọi thứ để họ được yên tâm mà tu hành là làm theo lời Phật dạy. Vì thời xưa chính Phật cho Tu Sĩ là “Ruộng phước của bá tánh. Cúng dường cho họ sẽ được phước báo vô lượng”, nên người muốn để dành phước báo thì cứ thế mà thực hiện, không có gì phải thay đổi. Nhưng với tôi, sau khi nghiên cứu kỹ về những việc mà người tu phải học, phải hành, đạt được, thì tôi thấy rằng điều đó chỉ đúng vào thời Phật mới khai mở Đạo mà thôi.

Lý do theo tôi, là vì thời Phật mới khai Đạo chữ viết chưa có. Chưa thể ghi lại những lời Phật thuyết. Các Đại Đệ Tử lúc đó chỉ mới vài mươi người, lại là lực lượng nồng cốt, có nhiệm vụ học thuộc những gì Phật giảng tương lai phổ biến. Vì thế nên cần tập trung, không được có gia đình, không được kinh doanh, làm ăn để không bị phân tâm, mà toàn tâm toàn ý ghi nhớ lời Phật dạy. Do đó mà cần thí chủ cung cấp mọi thứ để họ yên tâm mà tu học, nên Phật phải phương tiện nói rằng “cúng dường cho người tu thì phước báo vô lượng”.

Nhưng thời này đã khác. Trải qua gần 3.000 năm. Những gì Phật giảng đã được ghi lại thành Kinh sách, người sau tiếp nối giảng luận thành “Thiên Kinh vạn quyển”, muốn tham khảo thì ở đâu cũng có, cần gì phải học thuộc lòng nữa? Mọi thứ trước kia còn khó hiểu, còn cho là mật nghĩa, nhưng về sau Chư Tổ đã khai sáng, người tu nếu thấy hợp ý với mình thì chỉ cần áp dụng, đâu cần phải Tư Duy, Quán Tưởng gì nữa mà phải có người chu cấp để rảnh rang mới tu được? Hơn nữa, ai cũng biết là “Ông tu, ông đắc, bà tu, bà đắc” đâu có ai tu thế giùm cho ai được. Vì thế, người hiểu lẽ Nhân Quả không bao giờ dám lạm dụng của bá tánh để mình được nhàn thân, nhân danh tu hành. Vì đó là món nợ phải trả, không trước thì sau. Đó là lý do mà Mã Tổ Bách Trượng dù cai quản cả một Thiền Viện nhưng hàng ngày vẫn cuốc đất trồng rau như mọi Tăng sinh khác. Đệ tử thương thầy, dấu cuốc đi thì Ngài không ăn, nên có câu “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”. Tổ Quy Sơn cũng có tích Con Trâu Dưới Núi để nhắc nhở người tu. Kinh VỊ TẰNG HỮU THUYẾT NHÂN DUYÊN còn nhắc mạnh hơn: “Thà cắt thịt mình dùng để nuôi miệng, không dùng tâm tà thọ của cúng thí. Khó lắm, khó lắm. Cẩn thận, cẩn thận”.

Tôi hoàn toàn không có ý mạo phạm những bậc chân tu. Chính nhờ có các vị mà Chùa Chiền được giữ gìn, Kinh sách được dịch ra tiếng Việt để mọi người có thể nghiên cứu, tu học. Các vị xứng đáng được tôn trọng, cúng dường của mọi người, vì một đời tu hành, hy sinh cho Đạo Pháp. Tôi chỉ muốn đề cập đến những kẻ cơ hội, không thật tâm tu hành mà cũng đã gia nhập vô đoàn thể Tu Sĩ. Chính những người này đã truyền bá nhiều điều sai lạc kéo theo nhiều thế hệ hiểu sai về Đạo Phật.

Nếu như ngày xưa, người đi Xuất Gia nghĩ rằng mình tu hành là sẽ cứu độ cho bá tánh, nên thấy bá tánh có bổn phận cúng dường cho mình tu hành. Nhưng càng hiểu Đạo thì càng thấy rằng mình tu chỉ có mình nhờ, nhiều lắm là nhắc nhở cho người hữu duyên đừng làm ác để khỏi gây Nghiệp, thì có gì đâu mà phải chờ thí chủ cung dưỡng cho thì mới tu được? Hơn nữa, Phật dạy người tu phải đền TỨ ÂN. Người bỏ đời, vô Chùa tu học là mới đền được có ÂN PHẬT. Còn ÂN PHỤ MẪU, ÂN CHÚNG SINH, ÂN ĐẤT NƯỚC thì sẽ đền cách nào? Phật đâu có phải là Thần Linh để ta cầu xin cứu độ, ban ân cho đất nước được hòa bình, thịnh vượng, mọi người được bình an, thoát khỏi tai ách để trả ân cho ba đối tượng còn lại? Cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa đều cho rằng Phật không phải là Thần Linh, chỉ là người bình thường như mọi người, nhờ tu tập Thiền Định, đoạn trừ tận gốc Tham, Sân, Si mà đạt thành Chánh Quả, được Giải Thoát. Không có Thừa nào cho Phật là Thần Linh. Vậy mà không hiểu tại sao Chùa nào cũng sớm tối hết Cầu An, lại Cầu Siêu? Phật đã không phải là Thần Linh thì ai chứng giám để ban ơn, giáng phúc cho? Lời Phật dạy: “Ai nương sắc để thấy ta. Dùng âm thanh để cầu ta. Kẻ đó hành tà đạo. Không thể thấy Như Lai”, và: “Phàm Sở hữu tướng giai thị hư vọng”. Có vẻ như nhiều Tu Sĩ tụng hàng ngày nhưng không thấy đó lời Phật cảnh báo thì phải?!

Mục đích của Đạo Phật chỉ là cứu cho con người Thoát Khổ được viết rõ trong Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA: “Ta thấy các chúng sanh bị những sự Sanh, Già, Bệnh, Chết, lo buồn khổ não nó đốt cháy, cũng vì năm món dục tài lợi mà bị các điều thống khổ. Lại vì tham mê đeo đuổi tìm cầu nên hiện đời thọ các điều khổ, đời sau thọ khổ Địa Ngục, Súc Sanh, Ngạ Quỷ. Nếu sanh lên trời và ở trong loài người thì nghèo cùng khốn khổ, bị khổ về người thương xa lìa, kẻ oán ghét lại gặp gỡ. Các món khổ như vậy mà chúng sanh chìm trong đó vui vẻ dạo chơi, chẳng hay chẳng biết chẳng kinh chẳng sợ, cũng chẳng sanh lòng nhàm, không cầu Giải Thoát; ở trong Nhà Lửa Tam Giới này đông tây rảo chạy, dầu bị khổ nhiều vẫn chẳng lấy làm lo”. Vì vậy, việc tu hành chỉ là theo hướng dẫn của Đạo Phật để được Thoát Khổ mà thôi.


Chỉ có vậy, nhưng nhiều người đã quan trọng hóa, làm cho việc tu hành thêm rườm rà, có vẻ khó khăn, trong khi đó, “TU” chỉ có nghĩa là SỬA, là tháo gỡ những vướng mắc, đam mê với các tướng hữu vi, để được Giải Thoát, thì hoàn cảnh nào? tuổi nào? trình độ nào? ở đâu? Nam hay Nữ, Già hay Trẻ mà không Sửa được? Tại sao cứ phải vô Chùa mới tu được? Ngược lại, chính vì ở trong Chùa và thọ nhận sự cúng dường dễ dãi của nhiều người đã tạo điều kiện cho những kẻ lười nhác, ngại khó. Họ thấy rằng chỉ cần hy sinh cái đầu, chịu khó mặc Y, giữ một số Giới để che mắt mọi người, thì chẳng những không phải khó nhọc kiếm sống mà còn được ăn trên, ngồi trước, được bao nhiêu người kính trọng. Đương nhiên những thành phần đó làm sao giữ Giới, tu hành nghiêm túc. Vì thế, không những bản thân họ phá Giới, làm những điều tệ hại, mà còn làm ảnh hưởng xấu đến các bậc tu hành nghiêm chỉnh khác.


Những người vô Chùa để lợi dụng của Chùa thời nào cũng có. Ngay lần Kết Tập đầu tiên, Tăng Đoàn đã phải loại ra đến 60.000 Sư giả. Thời Phật Giáo cực thịnh, nước ta cũng đã tổ chức những cuộc sát hạch để loại những kẻ cơ hội gia nhập Tăng Đoàn chỉ nhắm mục đích cầu Danh, cầu Lợi. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, trước khi nhập diệt, có ngoại đạo Subhadda đã hỏi Phật làm cách nào để phân biệt giữa những người giảng đạo, ai mới là người có Chánh Pháp? Đức Thích Ca đã trả lời là GIỚI và BÁT CHÁNH ĐẠO. Ngài nói rằng Giáo Pháp nào có đủ hai điều đó thì mới có Tứ Quả Thánh. Rõ ràng, những kẻ lợi dụng, trà trộn vào hàng ngũ Tu Sĩ thì không thể nào giữ đúng Giới Và Bát Chánh Đạo được. Bởi nếu có Chánh Tư Duy thì họ đã Không Vọng Ngữ. Không Chứng Đắc mà dám ngồi tòa giảng pháp cho bá tánh. Và đã Vọng Ngữ, Vọng Hành thì làm sao có Chánh Mạng, Chánh Nghiệp? Những phần tử đó làm gì có Tinh Tấn để học hỏi rồi hướng dẫn lại cho bá tánh? Vì thế, nên chăng mỗi người tự tu, tự độ sẽ tránh được trường hợp những kẻ lợi dụng Đạo cũng khoác ác tu hành làm hại Phật Pháp. Thái Lan là một nước mà đạo Phật được xem là quốc giáo. Vậy mà mấy năm gần đây báo chí đưa tin một số bê bối rung động Phật Giáo ở Thái Lan: Sư sử dụng ma túy, biển thủ tiền công đức, lạm dụng tình dục, tham nhũng, rửa tiền. Sư xài hàng hiệu, có cả mấy chục xe hơi đắt tiền. Sư nữ cũng ngự xe con đắt giá. Trụ Trì Chùa Triệu Phật Vàng lớn nhất Thái Lan cũng bị Cảnh sát truy nã vì dính líu tới việc biển thủ công quỹ của một Ngân Hàng. Hàn Quốc thì chỉ có mấy vị Sư mà đánh bạc thua một đêm cả mười mấy tỷ Won! Đó là những trường hợp bị phát hiện nên báo chí mới đăng tin. Những việc chưa phát hiện thì có Nhân Quả biết mà thôi. Tất nhiên, những người đã dám lợi dụng cửa Chùa thì có biết Nhân Quả là gì để mà sợ báo ứng?


3. Nói về GIỚI. Nếu xét cho kỹ thì chỉ là bờ ngăn giữ cho những người đi trong đó không rơi vào Ác Đạo. Suy cho cùng Giới cũng chỉ nhằm mục đích làm cho người giữ “Ít muốn, biết đủ”. “Điều nào mình không muốn mọi người làm cho mình thì cũng đừng làm với mọi người” mà thôi. Vì thế, theo tôi, chỉ cần giữ Năm Giới chính và Bát Chánh Đạo là đủ. Bởi đọc cho kỹ, ta thấy nếu là người tu hành nghiêm chỉnh thì họ sẽ thấy chỉ cần phạm một Giới thôi, thí dụ như vi phạm vào Chánh Mạng, Chánh Nghiệp là phạm luôn Giới Vọng Ngữ rồi. Cũng đâu cần phải giữ quá nhiều Giới để quay đâu cũng bị đụng Giới, làm cho cuộc sống lúc nào cũng nơm nớp, bất an, trong khi tu hành là chỉ để Thoát Khổ, Thoát Sinh Tử? Ta tu cho mình chớ đâu phải tu cho Phật mà không cưỡng nổi ham muốn để phạm Giới rồi Sám Hối với Phật? Phật đâu có chịu Nhân Quả thay ta, và đâu có quyền thứ lỗi cho ta được?


Kinh Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên viết: “Nói tóm lại là ta bắt giữ cấm Giới chính vì người ngu si không huệ phương tiện, chớ chẳng phải là hạng người trí huệ biết rõ thời nghi vậy”. Thật vậy. Người tu hành chân chính không đợi ai phải giám sát, phải cử tội, vì biết rằng nếu Phá Giới thì cũng như chính mình tự tay đục lủng thuyền, làm sao sang Bờ Sinh Tử? Lục Tổ dạy: “Lòng bình đẳng đâu cần Giữ Giới”. Bởi nếu người có đạo đức bình thường thôi thì cũng đã rõ việc nào không nên làm để tự giữ, cần gì phải sợ Phật phạt tội hay sợ bạn đồng tu chê cười mà phải giữ Giới? Cho nên, với những người thật tâm tu hành thì tự họ ý thức, không cần phải dùng Giới như một điều luật, phải cấm điều nọ điều kia. Trái lại, người vào Chùa với mục đích khác thì dù có trao cho họ bao nhiêu Giới đi nữa thì họ cũng chỉ giữ vì sợ mọi người đánh giá mà thôi. Không thấy đó là điều đương nhiên phải làm để “Giữ Giới mà Thoát Giới”. Như vậy việc Giữ Giới đâu có lợi ích gì cho họ?


Tháng 12/2017


(còn tiếp)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 17.01.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004