Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Đền Mariamman Tại Quận 1 TP Hồ Chí Minh





Người Ấn Ở Thành Phố Hồ Chí Minh –

Quá Khứ và Hiện Tại









1- Người Ấn lai Việt – Kết quả của mối giao lưu văn hóa hai nước Việt Nam - Ấn Độ.


* Ấn Độ - Việt Nam có chung nguồn gốc Mã Lai :


Theo nhà nghiên cứu Bình Nguyên Lộc trong tác phẩm “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam”, (NXB Bách Bộc, Sài Gòn 1971) chủng tộc Mã Lai (Nam Dương), cuộc di cư đợt I và II của chủng Mã lai cách nay trên 10.000 năm đã hình thành nên dân tộc Việt Nam từ Hoa Bắc rồi Hoa Nam (thời đại Hùng Vương tồn tại trên 2.500 năm) và dân tộc Ấn Độ (có da trắng Aryan từ phía Bắc xâm nhập và đồng hóa với dân da đen Dravidien bản địa miền Nam). (Tập quán của tộc Việt cổ là đầu có búi tóc ở Nam Bộ và Chăm và sùng bài Linga-Yoni ở Bắc Bộ và Chăm ở Trung Bộ còn duy trì ở lễ hội và lễ cưới).


* Sự xâm nhập hay giao lưu văn hóa Ấn – Hoa vào Việt Nam : Trước và sau đầu công nguyên :


-Lịch sử Việt Nam tập 1, năm 1983 (từ thời kỳ nguyên thủy đến thế kỷ thứ X) chép về sự xuất hiện của người Ấn Độ, phương Tây và người thuộc các đế chế phong kiến phương Bắc ở Việt Nam rất sớm của thời kỳ dựng nước, như sau :

Bành trướng về chính trị và quân sự lại thúc đẩy thêm tầm quan trọng của thương mại. Với việc chiếm Nam Việt (của Triệu Đà Việt Vương), với Âu Lạc (của Thục Phán An Dương Vương), đế chế Hán mở cửa xuống Đông Nam Á và qua đây tới miền Ấn Độ Dương. Từ đầu công nguyên, nó sẽ bắt gặp sự phát triển hàng hải của những cư dân Ấn Độ - Ba Tư. Khảo cổ học đã tìm thấy trong những mộ Hán cổ ở Lưỡng Quảng, Hồ Nam, Việt Nam những sản phẩm du nhập từ hải ngoại như các loại ngọc, đồ thủy tinh (lưu ly), cây nhài (moli) từ đất Ấn, được đem trồng ở Giao Châu từ đầu công nuyên. Sử giả Ấn Độ sang triều đình Hán giữa các năm 89 và 105. Sử giả Gia-va qua Giao Châu tới triều đình Hán vào năm 132.” (trang 254).

-Ông Phan Lạc Tuyên, tác giả sách “Lịch sử bang giao Việt Nam – Đông Nam Á (trước công nguyên tới thế kỷ XIX) có viết :”Sự có mặt của đạo Phật vào Việt Nam và Đông Nam Á chắc chắn từ trước công nguyên hàng thế kỷ. Sự có mặt của những tăng lữ của Ấn Độ đã tới Việt Nam và Đông Nam Á bằng con đường Hồ tiêu và con đường Đồng cỏ. Trước khi tới Việt Nam họ đã đi qua nhiều nước ở ngoại vi. Tư liệu trong sách cổ nước ta “Lĩnh Nam trích quái” cho biết một sự kiện chứng tỏ sự có mặt của Phật giáo vào đời Hùng Vương thứ 3 (Triều đại 18 vua Hùng kể từ TCN 2879-258). Đó là câu chuyện công chúa Tiên Dung con gái vua Hùng thứ 3 lấy Chử Đồng Tử…” (trang 23). Theo tác giả đề tài, cả ông và tác giả “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” đều lầm lẫn Phật giáo với Ấn Độ giáo vào lúc mới du nhập vào nước ta ở phía Bắc. Chuyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử như đã giải thích ở trên thuộc Ấn Độ giáo chớ không phải Phật Giáo và không thể thời Hùng Vương thứ 3 mà có thể thứ 13 hay 18. Theo ông, người ta còn tìm thấy nhiều đồng tiền bằng đồng, bạc thời đại Maximin le Goth (235-237) ở Mỹ Tho, Alexandre le Grand hoặc thời đại Antomin de Pieux (138) ở Ba Vì, Thừa Thiên – Huế…

-Bà La Môn giáo sau trở thành Ấn Độ giáo (sự thờ cúng các vị thần linh) đã được các tăng lữ đi theo các thương thuyền từ Ấn Độ tới các vương quốc Đông Nam Á từ thời ấy và lần lượt về sau, nhất là ở Chân Lạp (di tích đền tháp Angkor, Bayon), Phù Nam (di tích đền cổ, linga khảo cổ ở Nam Cát Tiên, Hàng Gòn – Đồng Nai), Champa (đền tháp miền Trung và Tây Nguyên). Cả ba nơi này đều có nghi thức thờ cúng các vị thần thuộc Ấn Đô giáo từ thế kỷ thứ II – VIII sau CN.

- Ở Việt Nam, Bà La Môn giáo du nhập vào Champa miền Trung và miền Bắc từ trước Công nguyên, sau đó mới có Ấn Độ giáo và các kiểu dáng mô hình đền tháp lần lượt ra đời.

- Đền tháp hay tháp thờ thần của dân tộc Chăm, Khmer (Chân Lạp) và tháp của Phật giáo ở Việt Nam đều có dạng biểu tượng núi Meru – có nguồn gốc từ dãy núi Himalaya – núi tuyết, được tin là nơi ngự trị của các linh thần theo Bà La môn giáo hay Ấn Độ giáo. Tháp ở các dạng đều giống biểu tượng của Linga – Siva).

-Các nhà khảo cổ trước 1945 và sau 1975 , cả người nước ngoài và trong nước đều xác nhận vương quốc Phù Nam có nền văn minh Óc Eo khá phát triển mà ngày nay người ta đã phát hiện nhiều cổ vật liên quan nằm rải rác trên vùng đất miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Đặc biệt, về Bà La Môn - Ấn Độ giáo, những di tích kiến trúc dạng đạo Hindu-Ấn Độ giáo ở Đồng Nai niên đại khá sớm. Kết cấu vật liệu xây dựng bằng gạch-gỗ, có khả năng là vết tích văn hóa Óc Eo mở đầu ở Nam Bộ trước khi có văn minh Ấn Độ - Trung Hoa hoạt động giao thương, trao đổi văn hóa giữa cư dân Thiên Trúc - Ấn Độ và cư dân Phù Nam vào khoảng thế kỷ thứ III-IV trước công nguyên. Lúc ấy cảng thị Cần Giờ là đầu cầu giao lưu kinh tế khu vực Đồng Nai. Các kiến trúc dạng đền thờ đạo Hindu - Ấn Độ giáo được đầu tiên du nhập vào đây (Lịch sử địa lý - văn hóa TP HCM 1981)


* Thời kỳ thuộc thực dân Pháp :


-Theo nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển, người “Chà” hay “Chà Và” có mặt ở Sài Gòn cổ từ những năm 1900 hay trước đó nữa.


2-Cuộc sống của người Ấn lai Việt trước và sau năm 1975


2.1 Trước năm 1975 (Còn cha mẹ) : Thực dân Pháp chiếm đóng Sài Gòn từ năm 1859 và tới năm 1900 thì xây dựng gần như hoàn thành bộ máy cai trị đồng thời các công trình trọng điểm về dinh thự, đường phố, cầu cống...như chợ Bến Thành, nhà hát thành phố, Bưu điện, hầu hết các đường được quy hoạch còn lại như ngày nay. Trong quá trình xây dựng thành phố, họ sử dụng phần lớn lao động tại chỗ và một ít lao động nước ngoài, trong đó có người Ấn Độ thuộc lớp nghèo khổ mà họ tuyển mộ từ các vùng thuộc miền Nam đặc biệt tiểu bang Tamil Nadu, dân gốc bản địa da đen Dravien. Theo một nguồn tài liệu khác, số người Ấn đến Đông Dương lối 3.000 người, riêng người Tamil Nadu lối 2.000. Số người này sinh sống quanh khu vực chợ Bến Thành lân cận ngôi đền Ấn giáo 45 Trương Định ngày nay. Ngoài dân lao động, còn số nhiều nhà kinh doanh, thương mại các ngành địa ốc, vải sợi và tín dụng. Họ tập trung quanh khu vực chợ Cũ (nay là chợ Tôn Thất Đạm) phường Bến Nghé. Họ xây dựng ba ngôi đền để làm nơi cầu nguyện ở số 66 Tôn Thất Thiệp, 98 Nam Kỳ khởi nghĩa và 45 Trương Định. Họ có tổ chức Hội Ấn kiều, trụ sở ở quanh ngã tư Hồ Tùng Mậu – Tôn Thất Thiệp và Huỳnh Thúc Kháng ngày nay. Các phố quanh khu vực này hầu hết đều là dân Ấn sinh hoạt khiến cho nơi đây trở thành khu Ấn kiều.

Cộng đồng này hoạt động rất tích cực, kinh doanh, dịch vụ phát triển được chính quyền Pháp rồi Việt thời chế độ cũ trọng vọng và tạo điều kiện, hơn hẳn các giới kinh doanh của người Việt, người Hoa và dân tộc khác. Chính trong thời gian này phát sinh các cuộc hôn nhân giữa người Ấn với người Việt, từ đó có khá đông con lai ra đời. Thời kỳ này những con lai còn đầy đủ cha mẹ nên cuộc sống của họ được chăm lo đầy đủ. Nhưng cho tới nay, người ta chỉ biết số con lai còn lại không nhiều sống lẫn lộn trong cộng đồng người Việt ở các khu phố, quận huyện đều thuộc lớp người lao động, nghèo khó.


2.2 Sau năm 1975 (Không còn cha mẹ) : Trước khi và sau khi Sài Gòn được giải phóng, hầu hết người Ấn Độ quay trở về nước hợp pháp theo con đường ngoại giao. Không có tài liệu nào ghi nhận trong số họ về nước có đem theo con lai hay không. Chỉ biết rằng, sau ngày 30/4/1975 lối 10 năm (1985), một số con lai này ùn ùn tập họp lại chiếm ngụ các ngôi đền Ấn giáo khi được phép hoạt động trở lại, khỏang năm 1985-1990 để đòi hỏi quyền lợi kể cà đòi làm chủ các ngôi đền nhưng không thành công vì họ không phải là một cộng đồng có tổ chức hợp pháp, hơn nữa lúc ấy, UBND quận 1 đã giao quyền quản lý đền cho một người Ấn còn lưu lại ở thành phố này. Sau đó, họ tự giải tán và trở về sinh sống ở các địa phương như những người Việt, người Hoa, người Khmer hay một số dân tộc ít người khác, chấp hành đăng ký thủ tục làm chứng minh nhân dân, hộ khẩu thường trú theo pháp luật Việt Nam. Cho tới nay thì hầu như số con lai này và gia đình (sinh con đẻ cái thuộc thế hệ cháu chắc) không còn bao nhiêu, lớp bỏ đi làm ăn nơi khác, lớp hòa nhập vào cộng đồng người Việt tại các khu phố nội, ngoại thành và ít được kể tới.


3- Vài Lời Kết luận :


Qua khảo sát thực tế cho thấy, số người Ấn lai hay con lai thuộc hai thế hệ : thời kỳ có cha có mẹ được chăm lo quyền lợi đầy đủ và không còn cha mẹ và số con lai trở thành thế hai thứ ba tiếp tục sinh con đẻ cháu. Thế hệ thứ nhất hầu như không còn nữa hoặc còn rất ít và trở thành ông bà già yếu, bệnh tật. Hiện nay là thế hệ thứ ba nên máu huyết con lai đã phai lạt đi nhiều. Đa số mang họ mẹ thì quên nguồn gốc. Còn số ít còn mang họ cha nên còn nhớ nguồn gốc nhưng cũng chỉ là nhớ tới một thời vang bóng mà thôi.

Vì không có cuộc điều tra xã hội học nào nên hiện nay chúng ta khó biết được tài nghệ và sự thành đạt của họ. Trong số những người là con hoặc cháu lai mà tác giả quen biết thì chỉ biết một hai người con lai thuộc thế hệ thứ nhất là thành đạt, như vợ chồng ông Maroday tuổi xấp xỉ 80 sinh sống ở Panama (Trung Mỹ) là nhà doanh nghiệp thành đạt, hàng năm đều trở về TP HCM để thăm lại bà con bên mẹ Việt ở Hóc Môn và bà vợ thì thăm bà con ở Trà Vinh và làm từ thiện xã hội. Ông Mouttaya hiện này là Trưởng ban quản trị đền thờ Ông Sri Thenday Yutthapani ở số 66 Tôn Thất Thiệp và còn người lai Ấn khác ở đền Subramaniam Swamy số 98 Nam Kỳ khởi nghĩa phường Bến Nghé nay đã qua đời, có hai con không thành đạt.

Số “cháu lai” khác ở rải rác các phường Bến Thành, Phạm Ngũ Lão, Bến Nghé đều khó khăn về đời sống. Số này có gắn bó với đền thờ Bà Mariamman như là cố giữ lấy lề khi tờ giấy lớn đã rách nát hoặc cũ kỹ nhưng không bao giờ thấy họ trang phục theo Ấn Độ và họ cũng không biết chữ Ấn. Nói chung, họ chỉ còn lại màu da ngâm đen để phân biệt người lai Ấn mà thôi, đôi khi không phân biệt được với dân tộc khác có nước da màu ngâm đen như Khmer, châu Phi, châu Mỹ, Chăm ...

Nếu tính từ năm (1885) người Ấn nhập cư Việt Nam hay Sài Gòn để làm ăn sinh sống tới nay (2017) được trên 130 năm thì con cháu lai của họ hầu như không còn tên tuổi nữa. Tất cả đều hòa nhập vào cộng đồng người Việt để cùng làm chủ đất nước của bên ngoại. Một cộng đồng người Ấn lai không còn danh xưng nữa nếu không nói là đã bị xóa sổ.



Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ SàiGòn ngày 17.01.2018 .


trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004