Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






PHẬT LÀ GÌ?

ĐỨC THÍCH CA ĐÃ LÀM GÌ ĐỂ THÀNH PHẬT?

THÀNH PHẬT CÓ PHẢI LÀ THÀNH

THẦN LINH HAY KHÔNG?




   T ừ khi Y Bát thất truyền thì chúng sinh không còn nơi để noi dấu nữa. Đạo Phật mạnh ai nấy giảng. Mọi người không còn phân biệt thế nào là Chánh Pháp, thế nào là Tà Pháp. Phật Tử tôn thờ Phật để cầu xin như một vị Thần Linh quyền phép vô biên. Sự tôn sùng đó thịnh hành đến nỗi khi các nhà Khảo Cổ đến Ấn Độ để nghiên cứu về nơi Đức Thích Ca đã sinh ra và truyền đạo, đã thốt lên câu cảm thán:”Trớ trêu thay, sau cái chết của Đức Phật, người đã giảng về sự vô ích của những nghi lễ thờ cúng và sự sùng bái cá nhân lại trở thành đối tượng được sùng bái nhiều nhất trong lịch sử!”. Gần 3.000 năm với biết bao nhiêu lớp người truyền Đạo, rồi hoặc do du nhập rồi ảnh hưởng phong tục, tập quán của địa phương, hoặc “Y Kinh giải nghĩa” làm cho Đạo Phật ngày càng xa rời tôn chỉ của Đạo Giải Thoát mà không hay biết, để rồi biến Đạo Phật từ Đạo Giải Thoát trở thành màu mè hình tướng như hiện nay. Phật Tử hết Cầu An, cầu làm ăn đắc tài, đắc lộc, gia đình hanh thông, lên chức, lên lương, hết bệnh, khỏi chết! Lúc gia đình có người chết lại Cầu Siêu! Chùa nào chùa nấy nghi ngút khói hương. Các Tu Sĩ trở thành trung gian để chuyển lời cầu xin của Phật Tử đến Chư Phật. Có phải mục đích của Đức Thích Ca mở ra Đạo Phật là để Cứu độ cho bá tánh? Có phải Ngài đào tạo Đệ Tử để hướng dẫn cho bá tánh tôn thờ Ngài?

Để hiểu những điều này có lẽ chúng ta buộc phải quay lại từ trăn trở của Thái Tử Sĩ Đạt Ta, để xem mục đích Xuất Gia của Ngài. Điều gì đã làm cho Ngài phải rời bỏ hoàng cung, bỏ luôn cả vợ đẹp con còn thơ để đi tìm? Ngài đã thấy gì? Tu hành như thế nào mà gọi là Đắc Đạo? Đã làm gì để gọi là Thành Phật? Phật có cứu độ được cho “Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới” hay không? Sự thật ra sao?

Bắt đầu câu chuyện về Đức Phật thì ai cũng biết là trong lần đầu tiên đi dạo ở ngoại thành, Sĩ Đạt Ta, là một Thái Tử sắp nối ngôi của cha là một vị Vua của một nước nhỏ ở Ấn Độ. Lúc đó Thái Tử đã có vợ và con trai - trông thấy cảnh người GIÀ, BỆNH, CHẾT, làm cho ngài động tâm nên sau nhiều đêm suy nghĩ, Ngài đã quyết tâm rời bỏ ngai vàng, vợ con, lẻn trốn ra khỏi thành, gia nhập vô đoàn thể Tu Sĩ để mong tìm lời giải đáp: là có cách nào để Thoát khỏi cảnh SINH, LÃO, BỆNH, TỬ đè nặng trên thân của con người hay không? Sáu năm tu với Sáu vị Thầy nổi tiếng, học đủ các phép thuật, thần thông, Ngài đã được hướng dẫn đủ các kiểu gọi là tu hành, kể cả khổ hạnh, lõa thể... nhưng kết quả đạt được không cho câu trả lời điều mình đã trăn trở, nên lần lượt Ngài từ bỏ họ. Cuối cùng, Ngài quyết định trải tòa cỏ, ngồi dưới cội cây Bồ Đề để Tư Duy, và phát nguyện sẽ không đứng dậy nếu không tìm ra câu trả lời.

Rạng sáng đêm thứ 49 thì Ngài tìm ra được câu trả lời gọi là Đắc Đạo. Việc Đắc Đạo được diễn tả bằng lời hân hoan tuyên bố của Ngài ngay lúc xả Thiền, đứng dậy: “Ta lang thang trong vòng luân hồi qua bao nhiêu kiếp. Tìm mãi mà không gặp Kẻ Làm Nhà. Hỡi Kẻ Làm Nhà, ta đã gặp được người rồi. Ngươi không được Làm Nhà nữa. Bao nhiêu cột kèo của ngươi đã gãy vụn cả rồi, rui mè của ngươi đã tan nát cả rồi. Trí ta đã đạt đến Vô Thượng Niết Bàn. Ta đã hoàn toàn Giải Thoát”.

Qua đó, chúng ta có thể gom lại:

l. Lý do Xuất Gia của Đức Thích Ca, là đi tìm NGUYÊN NHÂN SINH TỬ, KHỔ ĐAU CỦA KIẾP NGƯỜI.

2. Việc gọi là “Đắc Đạo” của Ngài là tìm được Thủ Phạm đã gây ra cảnh SINH LÃO BỆNH TỬ hủy hoại cái Thân con người cũng như cách thức để hóa giải - tức là tìm ra được câu trả lời cho thắc mắc mà Ngài đã bỏ hết tất cả để dồn mọi tâm lực tìm cho bằng được là CHIẾN THẮNG SINH TỬ, KHỔ ĐAU CỦA KIẾP NGƯỜI.

3. Sau đó, Ngài để hết cuộc đời còn lại để truyền bá con đường mình đã khám phá ra. CON ĐƯỜNG ĐÓ GỌI LÀ CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT hay còn gọi là ĐẠO PHẬT. ĐẠO có nghĩa là CON ĐƯỜNG, PHẬT có nghĩa là GIẢI THOÁT.

Sau khi Đắc Pháp, thấy rằng con người mãi quanh quẩn trong vòng Sinh Tử, Khổ đau, Đức Thích Ca rao giảng những gì Ngài đã Chứng để chỉ Con Đường Giải Khổ cho con người. Đầu tiên là 5 người trước kia cùng tu Khổ Hạnh với Ngài, nhưng khi thấy Ngài từ bỏ Khổ Hạnh, vì cho rằng “Tinh thần không thể minh mẫn trong một thể xác yếu đuối” thì họ cho rằng Ngài đã thối chí, không muốn tu hành nữa, nên rời xa Ngài. Đó là thời Pháp đầu tiên, sau này gọi là Chuyển Pháp Luân. Ngài đã thu phục được họ làm năm người Đệ Tử đầu tiên.

Để Diệt Khổ thì phải biết gốc của nó. Đó là lý do Đức Phật giảng TỨ DIỆU ĐẾ cho họ, và cũng là công thức chung cho những ai tu hành về sau, vì thật ra không phải ai phát tâm đi tu cũng vì thật sự thấy đời là Khổ. Và chính vì không có mục đích rõ ràng, nên cũng không biết phải làm gì? Làm như thế nào? Phải làm trong bao lâu? Trong khi Đức Phật có mục đích rõ ràng, nên Ngài thấy rõ ràng mọi diễn tiến của nỗi Khổ hoành hành trên cái Thân, nên tu hành là tìm cách tháo gỡ nó.

Đức Thích Ca cho rằng tất cả mọi Khổ đau Sinh, Lão, Bệnh, Tử đều ở nơi cái Thân con người. Vì thế, công việc tu hành không ngoài nơi đó. Do đó, người tu được dạy phải quán sát cho kỹ cái Thân.

Theo Ngài, Cái Thân của mỗi chúng ta là kết tụ của những gì chúng ta đã làm trong quá khứ, gọi chung là Nghiệp. Nghiệp này gồm cả Thiện và Ác, nên Cái Khổ là Quả của những thứ Ác Nghiệp đã gieo. Khi mang hiện tướng là nó xuất hiện để bắt phải Trả theo Luật Nhân Quả. Dù vậy, theo Phật, lỗi không phải do cái Thân, mà do cái linh hoạt ở trong Thân đã điều khiển nó. Ngài đặt cho nó cái tên là TÂM. Cái này cũng chính là Thủ Phạm mà Ngài đã tuyên bố lúc vừa Xả Thiền. Nó vô tướng, vô hình, vô ảnh, mà lại là thủ lĩnh, là chỉ huy. Cái Thân và Ngũ Căn (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Ý) chỉ hoạt động như con rối, là tay sai của nó. Nó sai đâu đánh đó, bảo gì làm nấy mà thôi. Vì thế, muốn hết Khổ thì không cần cầu xin ai, chỉ có một cách, là tìm cho ra cái Tâm đó, chuyển hóa nó để nó ngưng tạo Nghiệp mà thôi. Đó cũng là cách duy nhất để Chuyển Nghiệp. Ngoài ra không còn cách nào khác.

Động cơ tạo Nghiệp, theo Phật, là do Chấp cái Thân là Mình, từ đó tìm cách để cung phụng cho nó những thứ mà nó yêu thích. Mắt nhìn sinh ham muốn. Tai nghe sinh ghét, thương. Hành trình cuộc sống cứ quanh quẩn theo vòng Sinh-Lão-Bệnh-Tử, mà nếu không biết để Dừng lại, thì cứ mỗi kiếp lại tạo thêm Ác Nghiệp, để rồi tiếp tục vào đời với Nghiệp chồng chất, cứ cắm cúi trả, rồi tạo tiếp… Kiếp sống như vậy có gì là vui, nếu không nói là chồng chất Khổ?

Tuy nhiên, Đức Thích Ca cho rằng: Dù những cái Khổ, Tập, là những thói quen được lập đi lập lại, những vẫn có thể DIỆT được bằng Đạo Đế. Tức là bằng con đường hành trì theo cách thức Ngài đã chỉ lại, để tháo cái vòng đau khổ đã theo đuổi, hành hạ con người từ vô lượng kiếp. Ngài phân tích, thấy rằng cái Khổ được hình thành do 12 món chuyền níu với nhau, gọi là Thập Nhị Nhân Duyên.

Vòng này gồm: Vô Minh sinh Hành, Hành sinh Thức, Thức sinh Danh Sắc, Danh Sắc sinh Lục nhập. Lục nhập duyên Xúc. Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái. Ái duyên Thủ. Thủ duyên Hữu. Hữu duyên Sinh, Sinh duyên Lão, Bệnh, Tử, Ưu Bi, Khổ não. Tức là do VÔ MINH nên đã Làm mọi việc. Từ Làm sinh ra nhận biết. Từ đó danh sắc theo Sáu Cửa (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý) mà vào làm thành cảm Xúc. Khi có cảm xúc là đã Thọ nhận. Mà đã Thọ, đã ưa thích thì muốn giữ lấy, muốn có, nên lại tiếp tục theo vòng quay Sinh, Lão, Bệnh, Tử và ưu bi, khổ não. Muốn cắt dứt vòng này thì mấu chốt quan trọng là phải cắt đứt cái VÔ MINH.

VÔ MINH, theo Đạo Phật là do thiếu sáng suốt nên đã NHẬN LẦM. Cái không phải Ta mà cho rằng là Ta. Tức là theo Đạo Phật, cái THÂN này không phải là Mình. Nó chỉ là tổng hợp của các chất ĐẤT, NƯỚC, GIÓ, LỬA, gọi là TỨ ĐẠI mà nó mượn tạm một thời gian cho Nhân Quả thể hiện. Khi kết thúc Nhân Quả, nợ trả xong thì sẽ hoàn về cho Tứ Đại những gì đã vay mượn. Nhưng do thời gian trả nợ cũ lại vay thêm nợ mới, chính vì thế mà Vòng Luân Hồi không ngừng quay. Cho đến khi nào hết Vô Minh, không còn nhận cái Thân là Mình để ngưng tạo Nghiệp vì phục vụ cho nó, thì lúc đó mới kết thúc Sinh Tử, Khổ Đau. Hết Vô Minh gọi là Giác Ngộ. Cho nên Giác Ngộ không có gì huyền bí, linh thiêng, cao siêu hết.

Để Giác Ngộ, người tu được dạy phải Quán Sát, Tư Duy để thấy rõ cách thức vận hành của cái Tâm Mê, để chuyển Mê thành Giác. Chuyển Vô Minh thành Trí Huệ, hay Chuyển cái Tâm Mê trở về với cái Chân Tâm thanh tịnh buổi đầu thì mới chấm dứt Sinh Tử, Khổ đau.

Để chấm dứt cái Nghiệp tất nhiên phải làm ngược lại những gì đã làm sai trước kia. Nếu trước kia ta chỉ vì lợi mà làm, bất chấp gây thiệt hại đến người khác, thì kể từ lúc biết Đạo phải thay đổi. Việc thay đổi phải được thực hiện bằng Tám Con Đường Chân Chánh gọi là BÁT CHÁNH ĐẠO, gồm: CHÁNH KIẾN, CHÁNH TƯ DUY, CHÁNH NGỮ, CHÁNH NGHIỆP, CHÁNH MẠNG, CHÁNH NIỆM, CHÁNH ĐỊNH, CHÁNH TINH TẤN mà ta có thể phân ra thành ba nhóm:

. Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Niệm, Chánh Định thuộc về Ý.

. Chánh Ngữ thuộc về KHẨU.

. Chánh Mạng, Chánh Nghiệp thuộc về THÂN.

Hành theo Bát Chánh Đạo là để từ cái suy nghĩ cho tới nói năng, làm nghề nghiệp sinh sống, nuôi thân đều phải chân chánh. Kèm theo là Lục Độ, Vạn Hạnh để hướng mọi suy nghĩ, hành động đến Thiện Pháp. Tất cả những gì cần hành trì trong Đạo Phật chỉ nhằm mục đích tháo gỡ những thứ đã vướng mắc nơi THÂN, KHẨU và Ý của con người để được Giải Thoát. Tất cả chỉ có thế. Ngoài ra, Quả vị, Chư Bồ Tát, Phật, Nước Phật v.v... chỉ là phương tiện để dẫn dụ cho người tu đừng thối chí mà thôi.

Qua Phát Tâm, hành trì và Chứng Đắc của Đức Thích Ca, ta thấy việc tu hành chỉ là để chấm dứt nỗi Khổ Sinh, Lão, Bệnh, Tử hành hạ cái Thân để được an vui trong cuộc sống. Hành trì này gồm có 3 giai đoạn:

1. Phải thấy đời là Khổ, muốn Thoát khổ.

2. Phải trực tiếp hành trì để được Giải Thoát (gồm Giới Định Huệ - Văn Tư Tu - Bát Chánh Đạo - Độ Sinh). Phải thấy Chúng Sinh để Độ thì mới có kết quả Giải Thoát được.

(Xin nói thêm về Độ Sinh. Độ Sinh không phải là đi giảng pháp độ cho mọi người, mà cứu độ Chúng Sinh, tức những tư tưởng xấu, những ganh, ghét, hờn giận, gian dối, bất lương của chính nơi tâm người cứu độ. Phải “Độ tận” những chúng sinh đó thì mới gọi là Giải Thoát hay Thành Phật. “Độ”, không phải là tiêu diệt mọi tư tưởng để cái Tâm trở thành không ngơ, không còn biết xấu tốt, lợi hại, mà chỉ chuyển hóa nó từ Xấu sang Tốt, từ Động sang Tịnh, từ Ngu Si sang Trí Huệ mà thôi. Đó là ý nghĩa câu Kinh: “Ta đã diệt độ vô lượng vô số chúng sinh, nhưng thật ra không có chúng sinh nào bị diệt độ cả”).

3. Kết quả cuối cùng là hết Khổ. Được Giải Thoát hay còn gọi là Thành Phật. Thành Phật chỉ là đạt được sự thanh tịnh, an lạc ngay tại kiếp sống, gọi là Hữu Dư y Niết Bàn. Không phải là thành Thần Linh, có phép màu cứu độ cho người khác.

Sở dĩ phải dài dòng, tóm tắt cái Phát Tâm của Đức Thích Ca, công việc mà Ngài đã hành trì để Chứng Đắc, để chúng ta thấy rằng: Mục đích tu hành chỉ để cởi bỏ những ràng buộc với các tướng hữu vi để được Giải Thoát. Vì thế, không chỉ Phật Thích Ca, Chư Tổ quá khứ đạt được, mà tất cả mọi người thời này và bao nhiêu thời sau nữa cùng hành bao nhiêu việc đó thì cũng đạt được. Kết quả cũng giống nhau. Do đó, gọi là có “Tam Thế Phật”. Tức Quá Khứ đã có người Thành Phật. Hiện Tại cũng có người Thành Phật. Vị Lai cũng có người Thành Phật, không phải như người hiểu sai cho đó là Phật A Di Đà, Thích Ca và Di Lặc. Lẽ nào Phật Thích Ca đã nhập diệt cách đây gần 3.000 năm mà vẫn là Phật hiện đời được?

Nhiều thời qua, Phật Tử do thiếu kiểm chứng, nên đã tin rằng Phật “Quyền phép vô biên, có thể cứu độ cho Tam Thiên Đại Thiên Thế giới”, - không biết rằng Tam Thiên Đại Thiên Thế giới đó là Phật nói về Ba loại Chúng Sinh Tham, Sân, Si trong mỗi người. Phật của mỗi người phải “Cứu Độ”cho hết - nên cứ quay ra cầu xin Phật ngoài ban ơn, giáng phúc! Nhưng nếu có đọc Kinh Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên ta sẽ thấy có đề cập đến vấn đề này: Khi Phật giảng pháp thì La Vân lơ đãng không nghe, cho rằng bây giờ còn nhỏ, chờ lớn khôn mới nghe pháp được. Phật bảo: “Muôn vật Vô Thường, thân người cũng khó giữ được. Vậy ngươi có thể giữ được mạng cho đến lớn không?”. La Vân trả lời: “Dạ thưa Đức Thế Tôn. La Vân con đây không thể giữ được, nhưng Phật há chẳng giữ giùm mạng con ư?”. Phật bảo: “Nầy La Vân! Ta còn không giữ được cho ta huống là giữ giùm cho ngươi”. Và rõ ràng, Phật cũng đã nhập diệt, đã trà tỳ. Ngài đã không tự cứu, cũng không cứu cho con, lẽ nào cứu cho ta được? Đó cũng là bài học cho người tin rằng Phật quyền phép vô biên rồi cầu xin Phật và ngồi chờ cứu độ!

Mục đích của Đạo Phật được nói rõ trong Phật Ngôn: “Nếu không có cái Sanh, Già, Bệnh, Chết, thì Như Lai cũng chẳng giáng trần để làm gì, và Phật Pháp cũng không có cơ hội rải tủa ánh sáng siêu việt trên khắp thế gian”. Phật Pháp chỉ là Pháp chỉ là Pháp Giải Thoát. Giải Thoát khỏi Khổ. Đức Thích Ca chỉ có thể “Độ” cho mọi người bằng Giáo Pháp, ai muốn hết Khổ thì phải tự mình hành theo để đạt kết quả, Phật không thể làm giùm hay ban cho ai. Nếu Phật “Độ” được cho người khác thì Đạo Phật biến thành Đạo “Độ Tha”, không còn là Tự Độ nữa.

32 Tướng Tốt và 80 Vẻ Đẹp của Phật là phương tiện để dẫn dụ con người cư xử tốt với nhau: Con cháu với ông bà, cha mẹ. Trò đối với Thầy. Giữ Giới. Ba Nghiệp thanh tịnh. Không nói lưỡi đôi chiều. Giảng hòa những cuộc tranh chấp. Cúng dường cha mẹ, Sư trưởng và những bậc có đức v.v... Mỗi việc làm thành một Tướng, là phương tiện mà Phật dùng để người tu theo đó mà hoàn thành cho mình, để cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Vì thế Kinh gọi là “Tướng mà Vô Tướng”. Là tượng trưng cho kết quả đã làm. Không phải để dùng vật liệu quý đúc hay tạc ra để thờ!

Tóm lại, qua những gì đúc kết về con đường tu Phật của Đức Thích Ca thì chúng ta biết rằng kết quả tu hành không phải để trở thành Thần Linh. Do vậy, Phật không thể phù hộ, độ trì hay đưa ai về Niết Bàn, Phật Quốc mà mọi việc tùy thuộc vào Nhân Quả, vì Đạo Phật còn được gọi là Đạo Nhân Quả.

Thật vậy. Nhân Quả là những gì Đức Thích Ca quan sát thấy mọi việc lành dữ đã làm thì không mất, mà sẽ quay lại với người đã làm, nên Ngài cảnh báo, để con người ngưng tạo Ác Nghiệp, chỉ nên làm điều Thiện. Bát Chánh Đạo và Giới cũng là rào cản và định hướng cho người chưa hiểu rõ không còn tạo Nghiệp nơi Thân, Khẩu và Ý. Và Độ Sinh chính là thanh lọc tư tưởng để nó không còn nhiễm trần, được thanh tịnh, an lạc. Những việc đó cũng là thước đo để xác định là chúng ta có Nhị Thừa, có Mê Tín hay không? Bởi đã tin Nhân Quả thì không thể tin rằng cứ cúng kiến, lễ bái cho nhiều thì Phật, Thần Linh sẽ phù hộ cho ta, mà phải bằng những việc làm cụ thể: Bỏ Ác, hành Thiện; Xoay Tâm Tà trở về với Tâm Chánh, gọi đó là “CẦU MÀ KHÔNG CẦU”, tức là muốn được thế nào thì cứ thực hiện bằng hành động, kết quả sớm hay muộn tự nhiên sẽ đến. Một điều nữa là khi ta phạm sai lầm thì người chịu cái Quả trả lại là chính ta. Ta đã bôi bẩn, đã làm ô uế Phật của chính mình, thì phải quay vào mà Sám Hối với Bản Thể Tâm để không tái phạm nữa, không cớ gì phải đi Sám Hối với Phật Thích Ca. Ngài đâu có gánh tội thế hay tha thứ cho ta được? Tôi tin rằng khi hiểu rõ Lý Nhân Quả là chúng ta sẽ không còn mê tín, Thần Quyền nữa, mà lấy lại sự Tự Tin, để Tự Độ, tự hành trì để Giải Thoát đúng theo tinh thần của Đạo Phật chân chính.

Phật là kết quả Giải Thoát, cái Giải Thoát đó chỉ có giá trị đối với bản thân người làm, không giúp được cho người khác. Nó như một kỹ năng mà người muốn có phải tự luyện tập. Và ta nghĩ sao khi thấy người khác hay, giỏi, mà không học, không làm theo mà chỉ theo bái lạy, thờ phụng, cầu xin, hoặc ngưỡng mộ, kính phục? Bao đời nay, nhiều người cứ tưởng rằng xây Chùa cho hoành tráng, đúc tượng cho to, kêu gọi thêm nhiều người Quy y theo Phật là tôn vinh Phật. Không ngờ Ngài chỉ mong muốn chúng ta làm theo lời Ngài dạy hơn là những điều vô bổ đó như lời Kệ trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa:

Xá Lợi Phất nên biết

Ta muốn tất cả chúng

Bằng như ta không khác”

Bằng như Phật” là phải Thành Phật. Nhưng nhiều thế hệ qua, mọi người cứ tưởng thành Phật là thành Thần Linh nên không dám nghĩ đến, cho đó là Tăng Thượng Mạn, không biết rằng Thành Phật chỉ là thành tựu Công việc tự Giải Thoát mà thôi. Phật đã không phải là Thần Linh thì chúng ta làm trung gian hương khói chuyển lời cầu xin về đâu? Ai sẽ chứng giám?

Con thì phải nối nghiệp cha. Con của Phật thì phải Thành Phật. Chúng ta tôn kính Phật vì Ngài đã đưa ra Giáo Pháp để chúng ta học theo mà được Thoát Khổ, nhưng không việc gì phải lạy Phật của Đức Thích Ca hay của ai khác. Vì mỗi người đều có khả năng để Thành Phật. Chính vì vậy mà Tổ Đạt Ma dạy: “Đừng mang Phật ra mà lạy Phật”!


Có lẽ đã đến lúc mọi người nên xem lại những gì bản thân mình đang làm có đúng là Chánh Đạo hay không? Kết quả về đâu? Nếu thấy không đúng thì nên điều chỉnh lại. Bởi vô lý hết sức khi tự cho rằng mình là Đệ Tử của Phật, mà Phật dạy một đàng, mình hành một nẻo. Phật dạy Nhất Thừa, Phật Thừa, Chánh Đạo, mình hành theo Nhị Thừa, Quyền Thừa, Tà Đạo, mà vẫn xưng là Đệ Tử của Phật, thì oan cho Đạo Phật biết bao nhiêu! Tôi tin rằng nếu chúng ta không đối chiếu lại với Chính Kinh, để đi quá xa, còn dắt theo nhiều người từ thế hệ này sang thế hệ khác, thì hậu quả rõ ràng là chẳng những chính ta phải gánh chịu, mà còn trở thành “Những con trùng trong thân Sư Tử ăn thịt Sư Tử”. Tội đó e rằng không phải nhỏ, chỉ người không biết gì về Nhân Quả mới dám làm vậy.


Tháng 11/2017



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 11.12.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004