Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



VĂN CHƯƠNG NAM BỘ

VÀ

CUỘC KHÁNG PHÁP 1945 - 1950







KẾT LUẬN:


Văn chương Nam Bộ góp phần vào công việc kháng chiến bằng nhiều cách thế. Ở chương nầy chúng tôi nhìn trên khía cạnh làm sao tăng gia khả năng giúp ích nước nhà ở mọi người công dân.

Muốn vậy nhà văn phải coi tác phẩm của mình như những lời kêu gọi, đánh thức người đọc, coi mình như kẻ sáng suốt chỉ dạy những ai chưa biết cách phục vụ quốc gia.

Do đó nhà văn kêu gọi mọi người lên đường, vạch rõ tại sao phải lên đường, tại sao không thể đứng bên lề cuộc tranh đấu. Người nghe sẽ thức tỉnh nhưng cũng có thể vì hoàn cảnh một số người không thể cầm súng được. Đối với những người nầy, tác phẩm của văn chương Nam Bộ vạch cho họ thấy hành vi hay nhất của họ là:

- hoặc góp công của vào cuộc cách mạng,

- hoặc dùng văn nghệ để cổ võ việc kháng chiến.

Đối với những người có thể đem sức mình góp cho cuộc chiến, văn chương Nam Bộ kêu gọi họ dứt khoát với những cản trở của gia đình, thân thuộc, chuẩn bị tinh thần để coi thường những khó khăn, nguy hiểm trên bước đường chiến đấu cũng như vẽ ra cho họ hình ảnh người hùng cách mạng để họ hướng về, cố gắng trở thành.

Với những mô tả như vậy số người chiến đâu hăng say sẽ gia tăng, những đau thương của dân tộc sẽ được hàn gắn. Văn chương Nam Bộ, vì vậy như một cánh tay phụ của công cuộc kháng chiến. Nói cách khác, thời này văn nghệ ở miền Nam đã góp phần hữu hiệu vào công cuộc chung của dân tộc.


***


PHẦN KẾT LUẬN


Với khoảng bẩy mươi tác phẩm quy về mục tiêu kháng Pháp, mổ xẻ vấn đề, trình bày đề tài dưới nhiều khía cạnh, văn chương Nam Bộ giúp chúng ta thông cảm và chứng kiến nỗi khổ của người dân Việt dưới ách thống trị của người Pháp. Nỗi khổ nầy như một cái lưới bao trùm tất cả người Việt, bất kể kẻ cộng tác với chế độ hay người dân thường lam lũ chân lấm tay bùn. Chúng ta cũng được biết người Việt bị xô vào trạng huống đó chính vì quyền lợi của những người Pháp và họ đang cố gằng duy trì tình trạng đó vì lòng tham vô bờ bến.

Ta cũng biết khi sáng tác, nhà văn Nam Bộ đã ý thức được việc mình làm, biết chắc những đứa con tinh thần của mình sẽ tạo được ảnh hưởng nơi quần chúng và chấp nhận những nguy hiểm có thể xảy đến. Bằng cớ là nhiều nhà văn đã bị bắt bớ: Sơn Khanh, Tam Ích; tù đày: Dương Tử Giang; truy nã: Bách Việt, Vũ Anh Khanh; ám sát: Đinh Xuân Tiếu, Nam Quốc Cang.

Tuy nhiên, như một hạt giống có sức sống mãnh liệt, lại được gieo vào vùng đất màu mỡ, văn chương Nam Bộ vẫn phát triển và lớn mạnh. Theo thời gian sự lớn mạnh nầy có thể đo bằng số lượng tác phẩm và ảnh hưởng của nó: số người lên đường kháng chiến đông đảo.

Ngày nay chúng ta khi đứng trên khía cạnh nghiên cứu văn học có thể không vừa lòng với ảnh hưởng chánh trị của nền văn chương nầy, mà đòi hỏi giá trị văn nghệ của những tác phẩm thời đó, chẳng hạn:

- Có được người đương thời, nhất là những người làm văn nghệ chào đón nồng hậu hay không?

- Có tạo được một trào lưu tư tưởng riêng biệt của giai đoạn nầy không?

Câu hỏi đầu tiên ta thấy ngay lời giải đáp khi nhìn lại khoảng thời gian cực thịnh của văn chương Nam Bộ : năm 1945-1950. Với hai năm nầy hầu hết các tác phẩm quan trọng, có thể nói hầu hết tác phẩm văn chương Nam Bộ, được xuất hiện. Những năm đầu 1946-1947-1948 nhà văn còn mò mẫm để dò đường, một vài quyển mỏng đặt vấn đề tranh đấu, chống áp bức, phải tin tưởng vào sự thành công của cách mạng như:

- Con đường cứu nước của Thẩm Thệ Hà,

- Cây ná trắc của Vũ Anh Khanh,

- Vấn đề nông dân Việt Nam của Thiên Giang,

- Cuộc cách mạng Việt Nam thành công chăng và thành công bằng cách nào? của Tam Ích,

quá ít so với hàng loạt tiểu thuyết còn đi theo con đường cũ. Phải đợi đến hai năm 1949-1950 tác phẩm có tính cách ủng hộ công cuộc đấu tranh của dân tộc mới lấn áp được trào lưu văn học đi trước.

Sự ủng hộ nồng nhiệt của người đọc còn thấy qua những lần tái bản của một vài tác phẩm đáng chú ý như:

- Người yêu nước (1),

- Nga và Thuần (2),

- Thu Hương, Chị Tập (3).

và số lương phát hành nhiều, như trường hợp các tập truyện của Vũ Anh Khanh do nhà xuất bản Tiếng Chuông, mỗi lần in đến mười ngàn quyển. Những tác phẩm thời nầy vì nói đến những vấn đề cụ thể, trước mặt, xuất hiện vào lúc lòng dân còn đang say sưa với bầu không khí mới nên người đọc thường chuyền tay nhau bàn luận, phê bình. Nhiều người hãnh diện vì mình mua được, xem được những quyển bị chánh quyền thực dân cấm lưu trữ. Ngày nay văn chương Nam Bộ còn dư vang ở sự kiện có vài tác phẩm được tái bản (4), được đăng báo lại từng kỳ (5), được tiếp tục cho ấn hành (6) vì những năm trước bị cấm đoán...

Sự hăng hái của toàn thể dân chúng Việt Nam trong việc lên đường chống Pháp tuy phần nào do hoàn cảnh đặc biệt của nước nhà nhưng ta cũng phải công tâm nhận phần lớn do ảnh hưởng của những tác phẩm có tính chất kháng chiến xuất hiện trong những năm 1945-1950. Đứng trên bình diện văn học, văn chương Nam Bộ đã tạo được bản sắc riêng biệt cho giai đoạn xuất hiện, chỉ giai đoạn 1945-1950, ở miền Nam mới có phong trào văn chương tranh đấu bộc lộ công khai và toàn diện.

Trước đây khi người Pháp đặt chân vào miền Nam những năm 1862, 1867, nhà văn đã ủng hộ kháng chiến đã chưởi bới người Pháp và bọn cộng tác với thực dân, nhưng đó chỉ là những trường hợp lẻ tẻ, cá nhân, và ta không thể nói thế hệ văn học 1862 có tánh cách tranh đấu và chống Pháp được.

Chỉ có thế hệ 1945-1950 mới biểu thị được đầy đủ những gì bao hàm trong những hình dung từ đó, nhờ đề tài, số lượng tác phẩm, tính chất đồng nhất của những nhà văn, nhà thơ giai đoạn nầy cũng như sự ủng hộ của quần chúng độc giả.

Đi sâu vào kỹ thuật của những tác phẩm Nam Bộ 1945-1950 có thể ta không hài lòng một vài điều:

- Số nhà văn quá ít, chỉ một vài nhà văn lớn bao sân sáng tác nhiều và có khả năng kỹ thuật về văn từ cũng như kết cấu câu chuyện.

- Rất ít nhà thơ và có thể nói, quá ít thi phẩm xứng đáng (ngoài một vài trường hợp nhỏ) (7).


- Nhiều tác giả có kỹ thuật kém, câu truyện dài dòng giả tạo (Nguyễn Đạt Thịnh, Đặng Thị Thanh Phương. Quốc Ấn, Nguyễn Xuân Mỹ).

- Đề tài khai thác một chủ đề nên dễ trùng ý, ít mới lạ khám phá (các truyện của Vũ Anh Khanh và ngay cả Lý Văn Sâm thường trùng ý).

Tuy nhiên, những khuyết điểm trên gần như chuyện đương nhiên của một thế hệ văn học vì bất cứ thời nào cũng có tác phẩm hay tác phẩm dở, tác phẩm dở sẽ theo thời gian bị đào thải. Ở đây chúng tôi chú trọng về mặt tư tưởng trong giới hạn của vấn đề những đóng góp của văn chương Nam Bộ vào cuộc kháng Pháp 1945-1950 nên nhiều khi vì trường hợp bắt buộc phải nhắc đến những tác phẩm có kỹ thuật kém, mà nếu đứng trên bình diện một nhà nghiên cứu lịch sử văn học chắc chắn chúng tôi sẽ không nhắc đến.

Tóm lại, nếu bỏ qua những khía cạnh kỹ thuật - phần ngoài phạm vi đề tài nầy, và cũng không cần thiết đối với giai đoạn 1945-1950 - những điều trình bày trong các tác phẩm của thế hệ văn học Nam Bộ góp phần lớn vào cuộc kháng chiến chống Pháp vừa qua, góp phần bằng cách vạch ra thâm ý của thực dân trong việc cai trị, trình bày cách cai trị dã man và kêu gọi người dân lên đường diệt trừ ách đô hộ của người Pháp. Và những nhà văn có công lớn có thể kể đến: Vũ Anh Khanh, Lý Văn Sâm, Thẩm Thệ Hà, Sơn Khanh, Dương Tử Giang, Phi Vân... những nhà văn làm bừng sáng nền văn nghệ Miền Nam vào những năm khó khăn nhất.


*

* *


Tiết 1: Những vấn đề đặt ra cho văn chương Nam Bộ.



Từ kết luận trên, hai vấn đề được đặt ra:

1) Về phương diện chánh trị, văn chương Nam Bộ cổ võ việc lật đổ công cuộc đô hộ của người Pháp ở Việt Nam, nhưng rồi sẽ dẫn chúng ta đi đến đâu? Nói rõ hơn, sau khi người Pháp không còn làm chủ nhân ông ở Việt Nam nữa, nước nhà sẽ đi theo đường lối nào, bộ mặt của nước Việt tương lai sẽ ra sao?


2) Trên bình diện văn học, phải chăng tất cả nhà văn đều hướng vào mục tiêu tạo ra một sức mạnh tinh thần cho người dân trong việc lên đường chống giặc? Có tác phẩm nào đi lệch con đường chung nầy chăng? Nói khác đi có tác phẩm nào đặt ra những vấn đề có hại cho cuộc tranh đấu lúc bấy giờ không?

Trong Tiết 1 nầy chúng tôi trả lời hai vấn đề quan trọng đã đặt ra đó và thử định giá trị của văn chương Nam Bộ đối với lịch sử dân tộc cũng như trong dòng văn học Việt Nam ở Tiết II.


A) Về phương diện chánh trị, văn chương Nam Bộ dân chúng ta về đâu?


Tổng quan, nhà văn thời nầy cũng chú ý đến xã hội tương lai của Việt Nam sau khi nước nhà được độc lập, nhưng họ không đi sâu vào xã hội đó. Họ đã mường tượng thấy hình ảnh sắp tạo thành, nhưng họ không chi tiết hoá trong tác phẩm của mình.

Nhìn lại hoàn cảnh lúc ấy, ta thấy ngay họ có lý do để lướt qua vấn đề trọng đại đó:

a) Trong thành:

Mặc dầu có một số người phụ trách công việc kiểm duyệt lơ là với nhiệm vụ nên các tác phẩm tranh đấu được xuất hiện dễ dàng nhưng dầu sao quyền quyết định tối hậu vẫn nằm trong tay người Pháp. Thế nên dầu muốn dầu không, tác phẩm nói đến xã hội tốt đẹp của tương lai sẽ bị cấm đoán.Vả lại một xã hội hoàn thiện lúc bấy giờ gần như hình ảnh độc quyền của người Cộng sản, văn gia nói đến một xã hội không giai cấp, không có sự kiện người bóc lột người sẽ gặp khó khăn trông việc ra mắt độc giả tác phẩm của mình vì cặp mắt thiển cận của người kiểm duyệt.

b) Ngoài bưng biền:

Những năm 1945-1950 trong vùng giải phóng không hẳn chỉ có một đảng chánh trị chi phối, lúc nầy ngoài những người thuộc đảng Cộng sản còn có cán bộ của các đảng khác như Tân Dân Chủ, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt... do đó mọi sự đề cập đến xã hội tương lai khi nước nhà độc lập, sẽ có tác dụng đối nghịch với công cuộc kháng chiến làm mất đi hiệu năng chiến đấu, vì dầu sao nói đến xã hội tương lai một cách tỉ mỉ sẽ không thể tránh được việc xác định chế độ, chánh thể và như vậy sẽ đụng đến lập trường chánh trị gây chia rẽ giữa những người cùng gốp sức vào một mục tiêu.

Do đó gần như nhà văn tránh né đề cập đến xã hội tương lai với đầy đủ chi tiết, họ chỉ đưa ra niềm tin: biến cải...chế độ xã hội hiện hữu (8) giải thoát nước nhà chống lại những áp bức, bất công giữa người và người (9).

Sự biến cải nầy chỉ thực hiện được khi người Việt thật sự làm chủ đất nước mình, có thể cải thiện xã hội về các phương diện mình mong muốn: Sở dĩ người Việt Nam muốn có một chánh phủ Việt Nam... vì dân Việt đã thấy trong những mục tiêu cấp thời ấy các phương tiện để cải thiện đời sống tất cả các tầng lớp trong xã hội (10).

Như vậy, nhà văn Nam Bộ tin tưởng công cuộc giải phóng sẽ đem đến những tốt đẹp cho dân Việt: lúc nước mình tự chủ... người dân sẽ hết khổ (11), dân tộc sẽ cởi bỏ cái di tích của một thời đen tối (12).

Niềm tin nầy ích lợi cho công cuộc giải phóng nhưng ngây thơ vì nước nhà tự chủ không hẳn những bất công sẽ được tiêu diệt, kinh nghiệm sau khi bọn thực dân ngoại quốc rút chân đi, bọn thực dân bản xứ hoành hành vẫn còn trước mắt. Nhưng nhà văn không muốn suy nghĩ về vấn đề xa xôi đó, họ còn công việc cấp thiết trước mặt phải lo; tương lai nước nhà, chánh thể của quốc gia chưa phải lúc để đề cập đến một cách cặn kẽ. Họ chỉ cần vạch ra vài nét tổng quát, phù hợp với ước vọng của tất cả mọi người để toàn dân đoàn kết và chiến đấu hăng say hơn thôi.


Nhưng xã hội tổng quát ấy như thế nào?

a) Trước nhất xã hội tương lai sẽ dựa trên nguyên tắc BÌNH ĐẲNG, mọi người đều ngang nhau không có tình trạng người bóc lột người. Chánh phủ của xã hội mới đứng về phía số đông quần chúng bằng cách: xoá bỏ những bất công ngang ngược của một số người, tẩy uế... một xã hội đầy nhơ nhớp, kéo....mức sống công bằng tương đối về cho mọi người. Không có người làm nhiều mà nghèo... cũng không có người làm ít hay không làm gì cả mà lại giàu... cũng không có kẻ lợi dụng quyền uy thế lực để ăn hiếp người yếu thế (13).


b) Xã hội mới chú trọng đến việc cải thiện xã hội bằng cách NÂNG CAO ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN. Trong xã hội nầy những cơ sở do người Pháp lập ra trước đây để phục vụ chế độ, để đàn áp dân Việt sẽ bị huỷ bỏ, mọi công tác của chánh phủ đều hướng về việc xây dựng một đời sống thoải mái cho dân chúng: Những nhà tù hạ xuống, những hội phước thiện lập ra, những nhà nuôi trẻ dựng lên, những đống rác dẹp đi, không kẻ ngủ đường, không một người nằm chợ, những sự tanh tởm nhơ nhớp được cào hốt không sót một mảy may (14).

Tóm lại, chế độ tương lai để ý đến người dân, thực hiện những công tác nhằm mục tiêu làm sao cho con người sống ra con người, làm sao cho mọi người con dân phải có một phần sung sướng tối thiểu về vật chất và tinh thần (15) .

Trong hiện tại (1945-1950), với cuộc sống không có ngày mai của người dân, với tình cảnh tù đày không thấy ngày về nhà văn không chấp nhận và họ hô hào tranh đấu. Nhưng phải tranh đấu để đạt mục tiêu đã vạch chớ không thể đến một sự dung hoà nửa chừng, không ích lợi với một vài quyền nho nhỏ của chánh quyền như: được quyền tham dự vào các công sở địa phương, định đoạt được một vài chuyện lặt vặt, như nhập cảng nguyên liệu, phân bưa phát vải, thâu vài món thuế, kiểm soát báo giới, trừ dư còn phải phục tùng người khác (16). Chấp nhận sự dung hoà đó, theo nhà văn thời nầy sự tranh đấu sẽ trở nên vô ích, người dân có ảo tưởng mình được sống trong một chế độ mới nhưng thật sự vẫn sống trong xã hội cũ với vài sự sửa đổi nho nhỏ, đâu vẫn hoàn đó.

Tóm lại, văn chương Nam Bộ, về phương diện chánh trị không đưa ra một mẫu chánh trị tương lai nào rõ ràng. Họ chỉ đề cao sự tranh đấu để cởi bỏ ách đô hộ của người Pháp và hé cho người đọc thấy một xã hội tương lai hoàn thiện hơn, một xã hội mà tất cả mọi chế độ đều cố gắng để hướng về. Nhưng hướng về bằng cách nào, vấn đề chánh nầy nhà văn Nam Bộ chưa kịp - hay không muốn - đề cập đến.

B) Phải chăng văn gia thời nầy đều cúng hướng về một chủ đề chung?

Các nhà văn Nam Bộ, như ta đã thấy, hầu hết đều hướng về mục tiêu làm sao cho người dân lên đường thực hiện việc đánh đuổi người Pháp để đem lại độc lập cho Việt Nam.

Nói như vậy không có nghĩa tất cả tác phẩm đều đi về đường lối đó. Lúc nào cũng có người đi ngược lại, hoặc vì vô tình, hoặc vì khác hệ tư tưởng, v.v...

Trước đây chúng tôi có nhắc đến những tác phẩm không liên quan gì đến tinh thần đấu tranh như các quyển Bé Đẩu, Nhốt Gió, Quả đấm thôi sơn. Chúng ta còn có thể kể thêm các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh (17), xa rời thực tế nước nhà, của Phú Đức (18), của Nguyễn Đạt Thịnh (19) chỉ chú ý đến việc lôi cuốn độc giả, bỏ khía cạnh tác dụng tranh đấu, của Hồ Văn Hảo, chỉ ghi nhận tiếng lòng nhưng bỏ qua tiếng nói của dân tộc...

Nhưng đi khác trào lưu chung của văn chương cũng không quan trọng lắm, sự tự do sáng tác lúc nào cũng cần thiết cho việc phát triển văn hoá. Có người chú trọng đến văn nghệ phục vụ cho quốc gia nhất thời, cũng có người quan niệm phục vụ cho thứ gì lâu dài hơn như tình cảm, văn hoá. Vì vậy mọi lời kết án những văn phẩm đi ngoài đường lối tranh đấu chúng tôi nghĩ là sai lạc và quá khích. Ngoài ra còn có tác phẩm ở trong đường lối tranh đấu nhưng đã đặt những vấn đề không có lợi cho công cuộc kháng chiến. Đây là những tác phẩm thuộc vào hệ tư tưởng khác: Suy tư chánh trị, triết lý... Chúng tôi muốn nói đến hai quyển Thu Hương và Chị Tập của Hồ Hữu Tường. Trong hai quyển nầy tác giả cho rằng trong cuộc kháng chiến, đến một lúc nào đó, vai trò của người chiến sĩ cách mạng sẽ bị vượt qua. Các nhân vật như Chi Tập, Thu Hương sẽ không còn cần thiết nữa, vai trò của Chị Tập sẽ bị thay thế bằng mẫu người như Cô Châu, vai trò của Thu Hương sẽ bị thay bằng những người chánh trị như Ông lùn, Ông cao (20)...

Hồ Hữu Tường đã đặt vấn đề trúng cách; những người làm cách mạng ở thời gian mở màn bằng các công tác nho nhỏ, có tính cách cục bộ như Chị Tập, như Thu Hương sẽ phải nhường chỗ cho người khác có kiến thức rộng rãi hơn, có tài năng vượt bực hơn, khi khí thế cách mạng đã mạnh, cuộc tranh đấu đã đến giai đoạn toàn bộ quốc gia. Nhưng đặt vấn đề như Hồ Hữu Tường quá sớm nếu ta để ý tác phẩm xuất hiện vào năm 1949, là năm công cuộc kháng chiến đã đến mức mãnh liệt...Vấn đề đặt ra quá sớm và đứng trên bình diện triết lý về số phận bạc bẽo của người cách mạng vào năm 1949 không ích lợi, trái lại còn làm giảm tiềm năng chiến đấu của dân tộc. Bộ Gái nước Nam làm gì? của Hồ Hữu Tường đứng về phương diện tác dụng, theo chúng tôi không ích lợi lắm đối với công cuộc giả thực vừa qua (21).



*

* *


Tiết 2 : Vai trò của văn chương Nam Bộ.


Văn chương Nam Bộ chỉ trong vài năm đã sản xuất được một số lượng phong phú. Ngoài các truyện ngắn, thơ đăng rải rác trên báo chí, tập san, chúng ta có khoảng bảy mươi tác phẩm in thành sách.

Về phẩm, tuy có người cho rằng nhà văn thời này chưa đi sát quần chúng, chưa có những mô tả như quần chúng, còn vương mắc những điều giả tạo, sáo rổng (21) nhưng đã đề cập đến hầu hết các vấn đề liên quan đến công cuộc giải phóng dân tộc. Ở mặt văn chương, nếu không quá khích để chê trách một cách giáo điều như người viết lời tựa của tạp chí Thế Giới vừa dẫn ra, ta phải công nhận rằng giai đoạn nầy có những tác phẩm rất khá như Người yêu nước (Thẩm Thệ Hà), Nửa bồ xương khô, Chiến sĩ hành (Vũ Anh Khanh), Tranh đấu (Dương Tử Giang), Ngoài mưa lạnh, Nắng bên kia làng ( Lý Văn Sâm), Tàn binh (Sơn Khanh)... những quyển nầy ngoài phương diện tư tưởng, văn chương súc tích, kết cấu hợp lý...

Một thế hệ văn học không đầy năm năm trong vòng kiềm toả của thực dân, trong hoàn cảnh chiến tranh, sản xuất được nhiều tác phẩm trội là điều đáng hãnh diện, càng đáng hãnh diện hơn khi ta đối chiếu với nền văn chương Pháp ở vùng bị Đức chiếm đóng. Thời nầy ở đây sáng tác - trừ thi ca - đã xuống dốc một cách tàn tệ, văn nghệ dường như bỏ hoang cho bọn bồi bút (23) .

Về mặt tư tưởng, đề tài của văn chương Nam Bộ tuy không mới, chỉ nhắc lại một lập trường dân tộc trong mọi cuộc thử thách lịch sử (24) nhưng đã góp thật nhiều cho quốc gia. Đó là tiếng nói phẫn uất, gào thét của lớp người bị áp bức, đó là tiếng thúc giục lên đường xoá tan những bất công... Thời nầy những tính chất lãng mạn của văn chương với những lời khóc gió than trăng gần như không còn vết tích chi(25). Văn chương bước chân ra ngoài đời để làm sứ mạng lịch sử, để đóng một vai trò tích cực.

Từ trước văn nghệ Miền Nam đã mang sắc thái đặc biệt với trường hợp Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt nhưng rồi một thời gian dài sau đó tính chất thời thế, tranh đấu bị mất đi, với những học giả như Huỳnh Tịnh Của, như Pétrus Ký,

với những người mô tả đời sống đồng ruộng bình thường như Hồ Biểu Chánh với người than khóc cho nỗi sầu khổ của mình như Đông Hồ...Nhưng tính chất đấu tranh bị che lấp, vẫn không mất hẳn, truyền thống đấu tranh có dịp sẽ vươn lên.


Gần đây một người nghiên cứu về văn nghệ Miền Nam đã xác nhận:

Năm 1945, văn nghệ Miền Nam mới được vươn lên theo đà sống dậy của toàn dân...Từ đó trở đi, văn nghệ Miền Nam mới dần đi vào mọi mặt thực tế xã hội, hoà mình với mọi sức sống của toàn dân về các bộ môn... luôn luôn văn nghệ Miền Nam vẫn giữ được tính chất dân tộc (26) . Văn chương Nam Bộ do đó góp phần lớn vào công cuộc giải phóng cũng như đóng vai trò trọng yếu trong văn chương tranh đấu, kháng Pháp của Việt Nam nói riêng và lịch sử văn học Việt Nam nói chung.

Vậy chúng tôi nghĩ mọi sự khảo sát tường tận về nền văn chương nầy đều cần thiết và công bằng. Cần thiết vì chúng ta hiểu rõ ràng về văn chương cách mạng, văn chương chống Pháp. Công bằng vì trước đây những nhà văn học sử chỉ khảo cứu những khuynh hướng khác của văn chương, vô tình bỏ qua văn chương tranh đấu. Nếu có khảo sát chăng chỉ để ý đến những nhà văn xa xôi cuối thế kỷ 19 hay đầu thế kỷ 20 và ngại ngùng khi để ý đến các tác giả khoảng 1949-1950.

Tình trạng bỏ ngõ đó có thể góp phần tạo nên sự mai một của một nền văn chương quá gần với chúng ta và chúng ta, hơn ai hết, sẽ gánh lấy trách nhiệm đó. Mặt khác, sự lơ là nầy sẽ tạo tình trạng cho những cuộc nghiên cứu có tính cách phe nhóm, lập trường kéo theo những xác định sai lệch phục vụ cho những định kiến xấu.

Chọn đề tài nầy chúng tôi muốn gây lên tiếng vang để những người còn e dè bước chân vào khu rừng hoang dã khám phá thêm những cái hay tiềm ẩn mà lâu nay chúng ta chưa nhìn thấy hầu đặt đúng giá trị của nền văn chương tranh đấu của Việt Nam nói chung, của Miền Nam nói riêng.

Trước đây ông Hồ Hữu Tường đã nhận xét: Khi ta đi sâu vào sự nghiên cứu văn chương Việt Nam, ta sẽ thấy rằng văn chương Việt Nam được phồn thịnh trong mấy hồi dân tộc trỗi dậy. Mà nay dân tộc Việt Nam trỗi dậy một lần nữa. Đó không phải là một cái lý cho ta hy vọng sao? (27) để nói lên niềm tin của ông vào sự phong phú của văn chương tranh đấu của Việt Nam trong thời kỳ kháng Pháp. Chúng tôi không có đủ thời giờ để khảo sát tất cả nền văn chương nầy nên chỉ giới hạn một phần nhỏ vào một đề tài nhỏ. Tuy nhiên chúng tôi cũng hy vọng đã trình bày được sự phong phú của nền văn chương Nam Bộ trong khía cạnh khảo sát.

Trong một bài báo vào năm 1947 Phạm Huy Thông có viết: Tháng 9 năm 1945 bừng khai trong văn chương một cuộc nẩy nở rỡ ràng, rung động, một luồng sinh lực mạnh, khiến dân tộc, giờ nầy đây, coi được ấy là một trong những cớ chính để tin tưởng ở tiền đồ mình (28). Cho đến ngày nay có thể có người đã mất đi lòng tin tưởng nơi tiền đồ của dân tộc, nhưng ai cũng nhận rằng những cớ chính để những người của giai đoạn 1945-1950 tin tưởng ở sự thành công của dân tộc Việt Nam là văn chương đã hỗ trợ tích cực cho công cuộc giải phóng và hỗ trợ với một nghệ thuật tinh tế. Khảo sát sự hỗ trợ nầy là đề tài của quyển sách đang ở trong tay quý vị./.



(1) In lại lần II trong năm xuất bản:1949.

(2) Lần I in trong tủ sách Bạn Trẻ với tựa Cỏ mọn hoa hèn - Nam Việt - Saigon-1949. Lần II do nhà xuất bản Phạm Văn Sơn- Saigon-1950 với tựa Nga và Thuần.

(3) Thu Hương và Chị Tập xuất hiện lần I trên nhật báo Ánh Sáng tháng 6/1948 dưới tựa Gái nước Nam làm gì? Ký: Ly Duệ. Lần II do nhà xuất bản Sống Chung - Saigon- in thành sách - 1949. Lần III do nhà Đông Phong - Paris-1953.

(4) Kòn Trô của Lý Văn Sâm tái bản do nhà xuất bản Hoa Tiên - Saigon-1968.

(5) Nhật báo Điện Tín 1970 cho đăng lại Nửa bồ xương khô, Cây ná trắc, Tranh đấu, - Nguyệt san Tình Thương, Sàigòn, 1964 in lại tác phẩm Nuôi sẹo của Triều Sơn...

(6) Tác phẩm Nước Độc của Sơn Khanh - Nam Cường - Saigon-1971.

(7) Một Tha La, một Chiến sĩ hành của Vũ Anh Khanh, một Chiến Sĩ Triều Trần một Bản Hành Quân của Trương Phụ của Đằng Phương không làm cho thi đàn được để ý bằng văn đàn.

(8) Thiên Giang - Vấn đề nông dân Việt Nam - Sđd, trang 41.

(9) Lý Văn Sâm - Sau dẫy Trường Sơn - Sđd, trang 95.

(10) Bùi Đức Tịnh - Giải pháp trong vấn đề Việt Nam - Nhật báo Thần Chung số đề ngày 6/6/1949.

(11) Lý Văn Sâm - Sau dẫy Trường Sơn- - Sđd, trang 22.

(12) Hồ Hữu Tường - Chị Tập - Sđd, trang 78.

(13) Vũ Anh Khanh - Nửa bồ xương khô II - Sđd, trang 253-254.

(14) Vũ Anh Khanh - Nửa bồ xương khô II - Sđd, trang 61.

(15) Sơn Khanh - Tàn binh - Sđd, trang 102.

(16) Nguyễn Khắc Oanh - Thử tìm cách giải quyết vấn đề Việt Nam - Sông Hương số 9, tháng 12/1949.

(17) Về trường hợp Hồ Biểu Chánh chúng ta không thể trách cứ vì ông đi con đường đã vạch trước đó khá lâu, con đường này không thay đổi theo hoàn cảnh xã hội, chánh trị của người Việt Nam.

(18)Nguyệt Hồng trên đường xương máu - Nhật báo Saigon Mới- 1948-1949.

(19)Cửa thiền bên khói lửa - Một chiến sĩ - người chiến binh bạc mệnh- Tân Việt - Saigon-.1949.

(20) Xem Văn chương tranh đấu miền Nam - Nguyễn Văn Sâm - Kỷ Nguyên -Saigon-1969, trang 388-394.

(21) Vấn đề nầy xin xem thêm: Tam Ích - Văn nghệ và phê bình - (bài Thu Hương) - Nam Việt - Saigon-1949, trang 63-73.

(22) Xem tạp chí Thế Giới - Saigon-1949, số 1 ra ngày 22 tháng 10/1949 - Lời tựa.

(23) Theo H.Simon - Histoire de la littérature française - Armand Colin - Paris-1959, trang 148.

(24) Lê Công Tâm - Thực chất của văn thơ ái quốc - Giáo dục phổ thông- Saigon-số 95 ngày 15-7-1960.

(25) Vân Lâu - Những kẻ hy sinh - Sđd, trang 139.

(26) Thái Bạch - Mấy nét về văn nghệ Miền Nam - Tạp chí Giáo dục phổ thông - số 70 ngày 1-10-1960.

(27) Hồ Hữu Tường- Lịch sử văn chương Việt Nam - Lê Lợi- Paris-1949, trang 39.

(28) Phạm Huy Thông - Văn chương Việt Nam - Việt Báo số 4 ngày 11-6-1949 dịch từ bản Pháp văn đăng trong La voix d'Outre-mer tháng 12-1947 ( bài nầy đã được dịch ra nhiều thứ tiếng Anh: tạp chí Asian horizon (London) tháng 1/1948; Ba Lan: tạp chí Kuzniça (Warszawa) tháng 11-1948).




. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HoaKỳ ngày 26.11. 2017.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN VĂN SÂM TRONG VIỆT VĂN MỚI

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004