Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






DẤU ẤN CỦA ĐẠO PHẬT




   T rải qua gần 3.000 năm, từ cái nôi Ấn Độ, Đạo Phật đã được các nhà truyền giáo mang đi khắp nơi trên thế giới. Thành tựu là đến nay, mọi giới dù tin hay không tin Đạo Phật, ngay cả những người nhiều hoài nghi nhất là những bậc trí thức cũng không thể phủ nhận những lý thuyết của Đạo Phật được gọi là Chân Lý, như: “Sinh, Lão, Bệnh, Tử”. “Thành, Trụ, Hoại, Không” hay “Gieo Nhân nào thì gặt Quả đó”, dù đó là sự nhận định về những gì hữu tướng của Đức Thích Ca - một người của thời xa xưa cách đây đến mấy ngàn năm - nhưng tính chính xác không bị đảo lộn, vì vạn vật không thể có con đường nào khác để đi ngoài lộ trình này. Qua thời gian và qua sự truyền đạo của rất nhiều thế hệ, nói về Phật, đa số Phật Tử đều cho rằng: Đó là Phật Tổ Như Lai, quyền phép vô biên, “cứu độ Tam thiên Đại thiên Thế giới”. Dưới quyền Ngài là Chư Bồ Tát, lúc nào cũng “tầm thinh cứu nạn”. Đức tính của Phật thì Đại Từ, Đại Bi, Đại Hỉ, Đại Xả v.v…

Bề nổi của Đạo Phật được ghi nhận bằng sự thành công nổi bật như ngoài số Phật Tử toàn cầu ngày càng gia tăng, còn phải được kể bằng các Chùa lộng lẫy, hoành tráng ở nhiều nước trên thế giới mà dù cho bậc vua chúa mọi thời giàu sang cỡ nào cũng không thể xây được những dinh cơ to lớn, đẹp đẽ, giá trị hơn! Campuchia thì có Angko Wat, Chùa Vàng, Chùa Bạc. Thái Lan có Chùa Phật Vàng tên Wat Traimit hay còn gọi là Chùa Trái Mít, có tượng Phật đúc bằng vàng khối, cao 3m, nặng 5,5 tấn! Chùa Wat Pra Dhammakaya thì thờ 1 triệu tượng Phật vàng - 300 nghìn tượng đồng, 700 nghìn bức tượng khác trong khuôn viên rộng 4km. Đền Taj Maha của Ấn Độ được một vị vua đương thời rất giàu, xây rất nhiều năm, cũng chỉ bằng đá cẩm thạch trắng và đá bán quý, trong khi Miến Điện chưa phải là nước giàu có, phồn thịnh, nhưng Chùa thì mái được đúc bằng cả mấy mươi tấn vàng. Hàng trăm quần thể Chùa chung quanh cũng dát vàng, tượng Phật cũng bằng vàng, cẩn ngọc, kim cương lên, sáng rực cả một vùng trời, và ngôi Chùa Đá có cục đá dát vàng nằm cheo leo trên đỉnh núi không bị rớt, mà đến thời này cả hai vẫn là công trình giá trị, và độc đáo của Đạo Phật so với cả thế giới mà ai cũng mơ ước được một lần chiêm ngưỡng tận mắt!

Nơi nào Đạo Phật đặt chân tới thì Chùa Chiền mọc lên ồ ạt. Nhiều nước tuy không xây được bằng vàng hay dát vàng, nhưng về mặt hoành tráng, kiến trúc cầu kỳ, nổi bật thì không thắng cảnh thiên nhiên hay do con người xây dựng của quốc gia nào có thể sánh nổi. Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Hàn Quốc, ngay cả Việt Nam ta gần đây cũng đều có những Chùa Chiền đồ sộ được liệt vào hàng lớn nhất Đông Nam Á.

Trung Quốc cũng có hàng chục Tượng Phật to lớn nổi tiếng, như:

- Tượng Phật ở Núi Nghiêu, Hà Nam, có tên là Trung Nguyên Đại Phật, cao 208m, Thân cao 108m, bệ đỡ cao 80m.

- Linh Sơn Đại Phật phía Nam núi Mã Sơn tỉnh Giang Tô, cao 88m. Thân 79m, đài sen 9m.

- Tượng Phật Bà Quan Âm nghìn tay, nghìn mắt ở Hồ Nam bằng đồng mạ vàng, cao 99m.

- Tam Á Quan Âm cao 108m. Bảo tọa Hoa Sen cao 10m với 4 tầng.

- Lạc Sơn Đại Phật là tượng đá lớn nhất thế giới cao 77m nằm trong núi Lãng Vân.

Việt Nam ta cũng có tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông cao 12,6m trên đỉnh núi Yên Tử được đúc bằng đồng nguyên khối đạt kỷ lục Châu Á.

Nhưng nổi bật nhất là 2 tượng Phật cao 55m và 37m ở Afganistan, được tạc thẳng vào núi sa thạch, chiếm cả quả núi từ kỷ thứ 6, năm 2011 đã bị Phiến Quân Hồi Giáo cực đoan dùng mọi cách để phá hủy cho bằng được mà về sau Unesco định khôi phục, nhưng không thể kham nổi vì mức tốn kém.

Thời đại ngày ngày nay, mọi thứ đã có máy móc, phương tiện hỗ trợ mà còn không sửa chữa nổi, thì thời xa xưa, để tạc được 2 tượng Phật vĩ đại như thế tốn biết bao nhiêu là công sức, tiền bạc!

Chúng ta không thể phủ nhận những tấm lòng mến mộ Phật đã chung nhau để làm thành những công trình đồ sộ để đời. Hình ảnh Phật được tôn vinh đến mức tối đa. Nhưng liệu những công trình như thế đã phù hợp với Chánh Pháp. Có làm cho thêm nhiều người Phát Tâm? Có phát huy được Đạo Pháp? Với cái nhìn của người thời này chúng ta sẽ nhận ra được điều gì? Học hỏi được gì trong đó?

Thật sự, nếu chỉ nhìn một cách phiến diện thì chúng ta sẽ thấy rằng Đạo Phật thời đó được phát huy một cách rực rỡ nhất, huy hoàng nhất với những dấu ấn để lại hoành tráng như thế, mà cho dù thời này con người có giàu lên hơn, phương tiện tối tân hơn, nhưng muốn thực hiện được như thế e rằng không dễ chút nào. Nhưng cũng có một câu hỏi được đặt ra: Phải chăng điều đó đáp ứng được mục đích của Đạo Phật do Đức Thích Ca đề ra? Ngài có muốn được vinh danh bằng những hình ảnh chạm khắc vào núi, hay được đúc bằng vàng khối, càng to càng tốt, tốn kém bao nhiêu cũng không sao, vì Ngài xứng đáng như thế, để mọi người chiêm ngưỡng, tôn thờ? Nếu đúng, thì những hình ảnh đó mang lại lợi ích gì cho con người? Nếu không, thì nên làm gì mới phải?

Ai có đọc lịch sử của Đạo Phật thì đều thấy rằng: Nguyên do Đức Thích Ca phát tâm đi tu là vì thấy CẢNH KHỔ đeo đẳng cái Thân của con người. Sau 6 năm học nhiều pháp sai lầm, giờ chót, nhờ Thiền Định, tức là 49 ngày đêm trải tòa cỏ ngồi Tư Duy mà Gặp được Con Đường Thoát Khổ gọi là Đắc Đạo. Những gì Ngài nghiên cứu, thực hành, kết quả, sau đó truyền lại, đều nhắm vào Giải Khổ cho kiếp sống của con người mà thôi. Không có thần thông, phép mầu, cứu độ cho bá tánh nào hết.

Thế nhưng nhiều người đọc kinh mà không hiểu Nghĩa, cứ “Y Ngữ” để hiểu lầm về Phật, Bồ Tát và việc “Cứu độ chúng sinh”, tưởng là Đức Phật cứu độ cho bá tánh, trong khi Đức Thích Ca diễn tả điều đó trong Nội Tâm của mỗi người, không phải là ở cảnh bên ngoài. Đọc lại lịch sử tu hành của Ngài thì chúng ta thấy, Ngài cũng là một con người bình thường như mọi người, cũng từng có vợ, có con. Khác chăng là ngài được Sinh ra trong Cung vàng, điện ngọc, nhưng ngài vẫn sẵn sàng từ bỏ để đi tìm câu trả lời cho trăn trở của mình về kiếp sống con người. Cuối cùng thì Ngài đã tìm ra, và con đường tu hành của Ngài chỉ là để Giải Thoát cho bản thân khỏi Khổ vì các Pháp, vì Sinh, Lão, Bệnh, Tử mà thôi. Đạo Phật còn gọi là Đạo Nhân Quả. Theo luật này, ai làm nấy chịu, gieo gì thì gặt đó, không ai có quyền thay đổi, gánh vác thế cho người khác. Ngay cả con Phật mà Ngài cũng không cứu được nữa là!

Tu Phật cũng không phải để trở thành Thần Linh, mà chỉ là hành trình chuyển đổi cái Tâm của chính người tu, từ dính mắc đau khổ, phiền muộn, trở thành thanh tịnh, an lạc gọi là Niết Bàn. Về những danh xưng Phật, Bồ Tát, Chúng Sinh được giải thích như sau: Chúng Sinh là những tư tưởng đen tối, xấu xa, ganh tỵ, ghét hờn, thâm độc trong Tâm mỗi con người Chúng ta. Đồng thời trong đó cũng có những tư tưởng hướng thiện, tốt đẹp gọi là PHÀM THÁNH ĐỒNG CƯ. Bồ Tát là những tư tưởng thanh tịnh, có nhiệm vụ giải thích, hướng dẫn gạn lọc, để loại bỏ đi những tư tưởng xấu trong tâm, gọi là chuyển hóa chúng sinh, hay Độ Sinh. Kết quả khi Cái Tâm trở nên thanh tịnh, hết đau khổ, phiền muộn thì gọi là Niết Bàn hay Phật Quốc được thành lập.

Cũng theo Đạo Phật, khi mỗi người hết kiếp, qua đời thì Thần Thức sẽ theo Nhân Quả mà về với cảnh giới tương ứng. Cả đời làm ác thì sẽ đến với cảnh giới xấu, chịu đọa. Nếu sống lương thiện, đạo đức thì đương nhiên sẽ về nơi tốt đẹp. Không có sự can thiệp của Phật nào, cũng không có Phật nào có quyền xóa tội cho người khác để đưa họ về nước của mình. Đó mới thật sự là Nhân Quả mà Đức Thích Ca khám phá và truyền lại cho tất cả chúng ta. Ngài không cứu độ được cho ai, chỉ cứu độ bằng cách đưa ra Giáo Pháp để người muốn có được kết quả như Ngài thì tự phải hành trì để đạt được mà thôi.

Nhưng thấy rằng để giảng nói cho người khác hiểu và chấp nhận những gì Ngài đã hiểu, đã hành và đạt kết quả không phải là điều dễ dàng. Bởi đầu óc con người thời đó còn chưa hiểu biết nhiều. Còn tin, còn sợ, còn nương tựa vào những vị Thần Linh khuất mày, khuất mặt. Ngôn ngữ cũng chưa đủ phong phú để diễn tả những gì không có hình ảnh để minh họa. Chính vì vậy mà Phương Tiện được Ngài đặt ra, nương theo những gì mà các Tôn Giáo đương thời đang phổ biến. Do bên họ có những vị Thần Linh quyền phép cao siêu làm cho tín đồ tin tưởng vào sự hộ trì, nên muốn dẫn dụ người theo mình thì Đức Thích Ca cũng phải đặt ra những vị Thần Linh, những Cảnh Giới tương tự. Muốn cho con người cư xử tốt với nhau, Ngài tả Phật có 32 Tướng Tốt, 80 vẻ đẹp v.v... Nhưng những Tướng Tốt, Vẻ đẹp đó thật ra được khắc họa bằng những việc làm tốt đối với ông bà, cha mẹ, thầy, bạn và mọi người chung quanh ở trong cuộc sống thôi. Phật cũng tự xưng Ngài là Như Lai, tức là người không còn bị động tâm vì các pháp, dù có đến, có đi, vì thấy các pháp đều NHƯ. Như Lai không phải là một vị Phật Tổ quyền năng bao trùm như những người hiểu sai đã diễn giải.

Chính do những người truyền Đạo ngày xưa đã không hiểu rõ Phương Tiện của Phật, đọc Kinh, thấy rõ ràng Kinh viết có vị Phật Tổ Như Lai quyền phép vô biên, có thể “cứu độ cho Tam Thiên Đại thiên Thế Giới”, rồi “Y Ngữ”, hô hào mọi người đóng góp để tạc tượng rồi tôn thờ, cầu xin! Không biết Phật tả những Tướng Tốt đó là để người tu muốn có được thì bắt chước theo đó để tạc cho Phật trong Tâm của mình, không phải để tạc bên ngoài bằng vàng, bạc, hay đá quý! Kể cả Tây Phương Cực Lạc được trang hoàng bằng 7 món châu báu thật ra để nói về kết quả Xả 3 Nghiệp của Thân là Tham Sân Si, và 4 Nghiệp của Khẩu. “Ao nước chứa tám công đức” chính là tích tụ của việc hành theo Bát Chánh Đạo mà thôi, không phải là một quốc độ có thật ở Phương Đông Phương Tây mà trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ đã giảng giải rất rõ.

Công thức tu hành để Thành Phật được Kinh Viên Giác ghi rõ trong Kệ:

NHỮNG NGƯỜI ĐOẠN THƯƠNG, GHÉT

CÙNG VỚI THAM, SÂN, SI

CHẲNG CẦN TU GÌ KHÁC

CŨNG ĐỀU ĐẶNG THÀNH PHẬT”

Và chúng ta nghĩ sao khi một người chỉ cần bỏ Tham, Sân, Si, Thương, Ghét lại có thể trở thành Thần Linh, có thể phù hộ, độ trì, “cứu vớt chúng sinh trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới”, nếu Tam thiên Đại thiên Thế Giới đó không thuộc về chính người đó? Nhưng do bị tuyên truyền nhiều đời, Phật Tử vẫn không chấp nhận được Phật chỉ có nghĩa là Giải Thoát, không phải là Thần Linh, nên bao đời cho đến nay, Chùa Chiền lúc nào cũng không ngớt khói hương và tiếng nguyện cầu! Rõ ràng Phật Tử đã bị dắt đi vảo Thần Quyền, cầu xin, nương tựa, khác hẳn với Đạo Phật Giải Thoát, chỉ tin vào Nhân Quả, không nương tựa, cầu xin, do Đức Thích Ca và Chư Tổ được Truyền Y Bát giảng dạy.

Sự thật đã chứng minh: Trong năm 2016, thiên tai diễn ra ngay tại Népal, quê hương của Phật, cướp đi gần 9.000 sinh mạng! Nếu Phật thật sự linh thiêng, Ngài nỡ nào nhìn đồng bào của mình phải chết thảm mà không cứu? Ngay cạnh Népal còn có một ngôi làng gọi là “Ngôi làng bán thận”, vì làng đó rất nghèo, nên tất cả thanh niên mạnh khỏe đều bán đi một chiếc thận để lấy tiền trang trải cuộc sống hoặc cất nhà, rồi phần lớn những ngôi nhà đó cũng bị cũng bị chôn vùi trong trận động đất! Còn cảnh nào thê thảm hơn! Cảnh nghèo khó vẫn diễn ra trên nước Ấn Độ mà có lúc mấy mươi ngàn nông dân đã làm đơn xin được tự tử tập thể vì mất mùa và không nhận được tiền đền bù của chính phủ! Gần đây nhất, ngày 20 tháng 7 vừa qua, một ngôi chùa dát vàng xây dựng năm 2009 tên Thiri Yadana Pylone Chantha bên bờ sông Ayeyarwa của Miến Điện cũng bị cuốn xuống sông trong nuối tiếc của biết bao nhiêu người! Nếu Phật thật sự là Thần Linh như mọi người vẫn tin tưởng sao không ra oai thần?

Mấy ngàn năm qua rồi, khói hương cúng Phật nếu gom lại chắc còn nhiều hơn mây trời, nhưng thế giới vẫn hỗn loạn, thiên tai, tật ách vẫn diễn ra, dù nhân loại cầu xin đã mỏi mòn! Không phải là Phật vô tâm hay con người cầu xin chưa đủ thành khẩn, mà là Phật Tử đã bị tuyên truyền sai lạc, Phật không phải là Thần Linh, có quyền phép vô biên, mà nhiều người đã gán cho Ngài những đức tính đó hoặc vì thiếu hiểu biết, hoặc cố tình để trục lợi! Phật Tử do bị nhồi sọ nhiều đời nên quá tin tưởng, bất cứ chuyện gì cũng cầu xin Phật độ. Nào là cầu cho gia đạo an lành, cho công việc làm ăn hanh thông, khỏi bệnh, khỏi chết, mà quên rằng ngay khi còn sống, Phật cũng đã không can ngăn được cuộc chiến, để giòng họ Thích của Ngài cùng lúc phải chết mấy trăm người. Chính Phật Thích Ca cũng đã chết vì ngộ độc thực phẩm do Thuần Đà cúng dường. Vua cha, di mẫu, vợ, con của Phật, kể cả các Đệ Tử bao đời nay có ai thoát chết đâu? Nếu Phật bất tử thì thuyết “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” đâu còn giá trị nữa! Sư Tăng dù kêu gọi mọi người hữu sự thì đến Chùa cầu xin, nhưng khi bệnh cũng phải vào Bệnh viện nhờ bác sĩ, nhờ khoa học, thuốc men cứu chữa chớ đâu có ngồi chờ Phật cứu. Nói rằng Phật quyền phép vô biên mà có Chùa nào được Phật hóa phép cho hoàn thành đâu, toàn là tiền của bá tánh góp lại. Lẽ nào tới thời này mọi người chưa nhận ra điều đó?

Biểu tượng hay Dấu Ấn thật sự của Đạo Phật là HOA SEN, một loài hoa thanh khiết, nhẹ nhàng, nói lên sự thoát tục, không nhuốm mùi trần, trong khi đó Chùa Chiền dát vàng, cẩn kim cương, ngọc, là biểu tượng của sự phí phạm vật chất, tiền tài của bá tánh. Phật đâu có ham vàng bạc, châu báu? Nếu ham, Ngài đã không bỏ ngai vàng mà đi tu! Do người đời xem vàng bạc là thứ quý giá nên muốn cúng Phật bằng những gì giá trị nhất, để rồi khối vàng ngọc vô giá lẽ ra dùng để xây dựng đất nước, để dành cho nghiên cứu khoa học, kỹ thuật phục vụ cho đời sống con người thì biến thành Chùa, Tượng vô tri, sừng sững nhìn bá tánh bất lực chống chọi với thiên nhiên, với bệnh tật, thiếu thuốc men, thiếu phương tiện đi lại, thiếu trường học, Bệnh Viện, khi bệnh không có tiền để chữa trị!

Phật dạy: “Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành”. Như vậy, rõ ràng những người chủ trương xây thêm Chùa, đúc thêm Tượng đã làm sai tôn chỉ của Phật, chỉ lo phục vụ Phật đã nhập diệt, bỏ mặc Phật vị lai trong hoàn cảnh khổn khổ! Phật dạy người tu phải: “Ít muốn, biết đủ”, xem ra ít có người tu nào thực hiện. Phục vụ cho chúng sinh có cần nhiều Chùa, chiêu mộ thêm nhiều tu sĩ, mở nhiều chi nhánh đến như thế không? Đạo Phật kêu gọi tất cả mọi người nên từ bỏ tham vọng, đâu có riêng kêu gọi người đời! Người tu Phật tự xem như mình được ưu tiên, không tham gia việc đời, mặc cho đất nước có khó khăn thế nào, điển hình là Chùa Triramula, trong lúc chính phủ Ấn phải loay hoay đối phó với nạn động đất, người dân khốn đốn, thì thông tin trên báo là Chùa mang gởi 4,5 tấn vàng vào Ngân Hàng để mỗi năm sẽ nhận lãi khoảng 80 kg vàng, tương đương với 2.000 lượng! Chùa còn tích lũy khoảng 1 tấn vàng nữa, mà không hề nghe nói trích phần nhỏ nào chia sẻ với chính phủ để giúp đất nước trong lúc khó khăn chồng chất! Trong khi đó, người tu Phật được dạy phải đền Tứ Ân, bởi vì có đi tu hay không, thì mọi người đều cũng là con dân của dất nước, cùng sống trong xã hội với bao nhiêu người khác, được gìn giữ an ninh, trật tự, được hưởng dụng của cải, vật chất, cơm áo, thuốc men do công sức của bao nhiêu người. Do đó, mỗi người có nhiệm vụ chia sẻ, đóng góp, không có quyền đứng bên lề cuộc đời mặc ai xây dựng hay tàn phá! Như vậy, liệu những tu sĩ đó có thực hành đúng đắn lời Phật dạy hay chưa? Chẳng lẽ tu hành là để trở thành vô cảm với nỗi đau của người khác?

Chùa tượng hoành tráng, thật ra không có giá trị gì hơn là thắng cảnh để tham quan, không nói lên được điều gì lợi lạc cho người tu học. Trái lại, còn làm cớ cho những người khác đạo nhìn vào đó để mỉa mai rằng trong khi chính các vị hướng dẫn Đạo khuyên mọi người nên Xả, không ôm của cải vật chất, thì Chùa lại là nơi tích lũy hầu hết của quý trong thiên hạ với danh nghĩa để dâng cúng Phật! Chư Tăng cũng không còn theo hạnh thanh tịnh nữa mà nhờ oai đức của Phật nên họ cũng phòng ốc thênh thang, xe cộ đời mới, phương tiện hiện đại! Nhìn ra thế giới, đến giờ này chúng ta thấy nạn đói, khổ vẫn còn hoành hành. Có nơi nước còn không đủ để uống, dân tình rất khốn khổ. Ở nước ta thì trường học không có đủ để trẻ em học. Nhiều nơi không có cầu qua sông, người dân, kể cả học sinh muốn qua sông phải đu giây, nguy hiểm đến tính mạng, trong khi nhiều Sư còn có cả ngai vàng để ngồi, đi đâu thì tiền hô, hậu ủng, tổ chức nhiều lễ hội, tiêu tốn biết bao nhiêu tiền của Phật Tử! Nếu Phật xem chúng sinh “Bình đẳng như La Hầu La” thì nỡ nào cha thì ở nhà vàng, xa hoa, lộng lẫy, bỏ mặc con cái đói khổ ngoài kia? Liệu Phật có thấy đó là Đạo của mình đang phát triển, vì “con hơn cha là nhà có phúc” không?

Đã có người nêu thắc mắc: “Tại sao những nước mà Đạo Phật là quốc giáo đều nghèo?”. Thật ra câu trả lời rất đơn giản. Những nước Châu Âu, Châu Mỹ đâu có sùng Đạo Phật, đâu có ngồi chờ Phật cứu độ. Họ tin vào khoa học kỹ thuật, họ chuyên tâm học hỏi, nghiên cứu, sáng tạo, sản xuất, để đưa đất nước đi lên. Ngược lại, những nước mà dân trí thấp thì tin vào sự hộ trì, cứu độ của Phật nên cứ cúng bái, cầu xin và chờ đợi. Tất nhiên là chờ trong vô vọng, vì thật ra Phật đâu có phép mầu? Do không gieo Nhân thì làm gì có Quả? Rốt cuộc là những nước không bị Đạo Phật ảnh hưởng vô tình đi đúng quỹ đạo của Đạo Phật chân chánh là gây NHÂN thiện thì đương nhiên sẽ được hưởng QUẢ lành.

Theo tôi, sở dĩ mọi người không tiếc công, của để dựng tượng, xây Chùa, vì tin rằng việc làm đó là phục vụ cho Phật, sẽ được “phước báo vô lượng trả lại”. Bản thân, gia đình họ sẽ bình an, tai qua nạn khỏi, làm ăn khấm khá hơn, lộc đến dồi dào hơn, trong khi Đạo Phật theo đúng Chánh Pháp không bao giờ hứa hẹn điều đó. Vì vậy, theo tôi, đã đến lúc những vị có trách nhiệm với Đạo Pháp nên xem lại Chính Kinh, kiểm tra lại thế nào mới là Đạo Phật chân chính, để chấn chỉnh, lập lại kỷ cương, trả về cho Đạo Phật hình ảnh của Đức Phật thanh tịnh, từ bi, không rườm rà đeo vàng, dát ngọc. Của cải trần gian xin để cho người trần sử dụng vào những việc ích nước lợi dân. Nếu muốn tu hành theo Phật thì xin hãy là những Chân Tỳ Kheo đạo hạnh với những mái chùa đơn sơ của người chê chán thế gian, không màng danh vọng giàu sang, chọn cuộc sống thanh bần rau dưa qua ngày, để chuyên tâm thực hành theo hạnh của Phật. Sống một nếp sống thanh cao, không vương mùi tục lụy như lời Phật dạy, thể hiện hình ảnh Hoa Sen nở giữa bùn nhơ, làm gương cho bá tánh, trong đó cũng không quên đóng góp cho quê hương, cho dân tộc theo khả năng của mình. Góp phần giáo hóa cho con người Cải Ác, Hành Thiện là mục đích của Đạo Phật, để tiếp tay với đất nước làm cho mọi nơi không còn cảnh tranh giành, sát phạt lẫn nhau, được thái bình, an lạc. Thay vì hướng dẫn mọi người xây Chùa, đúc tượng hữu Tướng tốn kém vô ích, thì hướng dẫn họ quay vào Tâm, tìm Phật ở đó. Xây Chùa, Đúc Tượng nơi đó, vừa khế hợp với Chánh Pháp, vừa để Đạo Phật trực tiếp đi vào lòng người, đi vào cuộc đời, mọi người cùng được Thoát Khổ trong kiếp sống như mong ước của Đức Thích Ca khi mang đạo Phật rao giảng giữa đời, là “Cứu độ cho chúng sinh hết Khổ. Mọi người đều được Giải Thoát, được sống một cuộc sống tạm trăm năm trong an lành, hạnh phúc”. Đó là chúng ta cũng góp phần để Chánh Pháp thật sự được hiển lộ giữa trần gian trong kỷ nguyên mới vậy.


Tháng 10/2017



. Cập nhật theo nguyên bản của tác từ SàiGòn ngày 11.11.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004