Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Đền Mariamman Tại Quận 1 TP Hồ Chí Minh





Nguồn Gốc Tín Ngưỡng Nữ Thần và

Đền Mariamman Tại Quận 1 TP Hồ Chí Minh










I -Nguồn gốc và du nhập


1. Nguồn gốc và tên gọi : Mariamman là một nữ thần dân gian người Tamil

Nadu (Miền Nam Ấn Độ) có nguồn gốc từ thời Tiền Vệ Đà (Pre Veda) khoảng 1.500 năm trước Công nguyên. Tới thời kỳ Hậu Vệ Đà (Post Veda) vài trăm năm sau, Mariamman được cho là hóa thân vào nữ thần Parvati, Kali hay Durga của đạo Hindu hay Ấn Độ giáo (trước là Bà La Môn giáo) cũng như một số nữ thần khác ở Bắc và Đông Ấn Độ.

-Theo thần thoại Ấn Độ, Parvati là “nữ thần núi”, là con gái của thần núi, còn có tên Devi-Uma hay Durga là nữ thần của núi tuyết Hymalaya. Nàng là vợ yêu dấu và tận tụy của thần Shiva, một trong Tam vị Nhất Thể thần (Trimurti) của Hindu giáo : Brahman, Wishnu, Shiva.

-Kali hay Kaliamman hay Mahakali là biến thể khủng khiếp nhất của Parvati hay Durga, thường được thể hiện trong hình dáng của một nữ nhân hung dữ, thân thể có màu đen với 10 chiếc đầu và nhiều tay, cổ đeo vòng hoa kết bằng sọ người, giẫm đạp lên một người lùn tượng trưng cho quái vật u tối.

-Theo nhiều tài liệu giải thích về gốc tích của từ Mariamman như sau : “Mari” theo ngôn ngữ Tamil có nghĩa “Rain” (mưa). “Amman” có nghĩa là “Mother” (Mẹ). Mariamman là Mẹ mưa hay Thần mưa. Tôn danh khác : Mẹ xứ sở.



-Về ý nghĩa : Bà là nữ thần làng, có cội rễ từ thời làng xã được thành lập ở miền Nam Ấn Độ thuộc bộ tộc bản địa Dravidian Nữ thần là người bảo vệ đất, bảo vệ làng, có nhiều quyền lực như chủ làng nên được dân làng gọi tôn vinh là Mẹ làng, Mẹ xứ sở. Lần hồi, bà trở thành nữ thần bảo vệ dân làng chống lại thần chết, chống lại bệnh tật nhất là các bệnh lây nhiễm như bệnh đầu mùa, ban đỏ.

Có rất nhiều huyền thoại về Bà. Xin nêu hai câu chuyện chủ yếu : Thứ nhất, Bà là vợ của nhà thơ Tamil tên Tirunalluvar mắc bệnh đầu mùa, mặt mày đều bị mụn nước, lở lói trông rất ghê tởm nên dân làng xua đuổi, bà phải đi ăn xin từ nhà này tới nhà kia. Một hôm, bà ngẫu nhiên lấy lá cây có tên “Nim” hay Margosa (tên Việt Nam : Sầu đâu) đắp vào các mụn lở để xua đuổi ruồi nhặng, kiến ong. Thật may mắn, lá cây này làm cho các vết mụn lở biến mất. Mặt mày, thân thể bà trở nên xinh đẹp khác thường. Khi bà trở về làng được mọi người tiếp đón như một vị Thần có phép thần thông chữa lành bệnh. Bà trở thành nữ thần của Y học. Về sau, người ta thường cầu nguyện để xin bà cho con cháu khỏe mạnh, hôn phối tốt lành, vợ chồng sinh con đẻ cái vuông tròn, vụ mùa bội thu và mua may bán đắc.

Thứ hai, bà là một phụ nữ của bộ tộc thuộc dân bản địa Dravidian da đen miền Nam Ấn Độ. Bà có công chống lại bộ tộc Aryan da trắng từ miền Bắc Á có tín ngưỡng Bà La môn tới xâm chiếm và đồng hóa. Dù không thành công nhưng bà cũng được dân bản địa tôn sùng như một vị nữ thần có công bảo vệ đất nước.

Từ đó, Mariamman trở thành một nữ thần có nhiều năng lực cứu nhân độ thế khắp miền Nam Ấn Độ. Làng nào cũng lập đền, miếu để thờ rất trang nghiêm và hành lễ rất long trọng, nhất là vào dịp lễ Vía bà tháng 10 hàng năm. Có nơi theo truyền thuyết của đạo Hindu xuất hiện sau Công nguyên, Mariamman là em gái của thần Wishnu được gọi là Mahamaya. Hơn nữa, bà còn là hóa thân của nữ thần Parvati vợ của Thần Siva nên bà được gắn với đạo Hindu (Ấn Độ giáo) tiền thân của Bà La Môn giáo.

Chính vì tín ngưỡng thờ nữ thần Mariamman rất phổ biến ở miền Nam Ấn Độ mà lần hồi nó được lan tỏa ra khắp nơi ngoài đất nước Ấn Độ kể từ thời đầu công nguyên được các giáo sĩ xuất ngoại theo các thương thuyền tới nhiều quốc gia Đông Nam Á và nhiều nơi khác trên thế giới. Do đó, Ấn Độ giáo được biết đến thông qua tín ngưỡng thờ cúng ở các đền thờ Mariamman. Tính đến nay, có đến 80% người dân Ấn Độ theo đạo Hindu nhưng không phải tôn giáo mà thực hành như một tín ngưỡng dân gian.

2. Du nhập :

Lịch sử hàng hải của Ấn Độ được biết rất sớm và nổi tiếng trong giao thương bằng thương thuyền đến các nước, nhất là đến phía Đông Nam Á theo đường biển mà các nhà nghiên cứu gọi là Con đường hồ tiêu (Chemin des Epices), có thể xảy ra trước và sau đầu Công nguyên. “Con đường Hồ tiêu đã mở ra mối bang giao giữa Đông Nam Á với các nước Ấn Độ và phía Tây theo thư tịch cũ ghi lại...Những thương nhân Ấn Độ trong việc buôn bán với các dân tộc và quốc gia vùng Đông Dương và Đông Nam Á trong những thế kỷ trước công nguyên vốn là những người theo đạo Bà La Môn (Brahmanisme) thuộc đẳng cấp tăng lữ (Brahmana) hoặc quý tộc, võ sĩ (Kasytria) và những người thuộc giới buôn bán tự do (Vaisya). Cũng rất có thể những người thuộc đẳng cấp tăng lữ đi cùng để truyền đạo tại những nơi xa xôi mà sau này những nhà Đông phương học phương tây gọi là vùng ngoại Ấn (Inde extérieur) hoặc sau này khi văn minh Ấn Độ đã xâm nhập vào những quốc gia cổ ở Đông Nam Á, họ gọi vùng này là những quôc gia Ấn Độ hóa (Etats hindouisées d’ Extrême – Orient), (Lịch sử bang giao Việt Nam – Đông Nam Á trước công nguyên tới thế kỷ thứ XIX, Phan Lạc Tuyên TSKH Lịch sử, Bộ Giáo dục và đào tạo 1993, trang 16-17)”.

Từ đâu công nguyên (hay trước đó ít lâu) đã tồn tại một luồng thương mại quốc tế, bắt đầu từ hải cảng Alexandrie tỏa sang nước Ấn Độ, từ đó lái buôn phương Tây ngược dòng Ia-ra-quát-đi do con đường Miến Điện và thông với Trung Quốc. Mặt khác, họ tiếp tục vượt biển qua miền bán đảo Đông Dương mà giao thiệp buôn bán với Hoa Nam. Con buôn và sứ thần Gia-va thì có thể đi theo miền bờ biển Xu-ma-tơ-ra, Mã Lai, Việt Nam mà tới Hoa Nam. Suốt thời Ngụy Tấn, Nam Bắc triều,, con buôn, sứ thần Gia-va, Xri Lan-ca, Đông La Mã ...vẫn đi lại buôn bán với Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Hoa Nam” (Lịch sử Việt Nam tập 1, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp – năm 1983, trang 369).

Nhà sư Khâu Đà La (Kaundynia) và câu chuyên Tứ pháp ở Luy Lâu – Giao Châu (nay là Thuận Thành – Bắc Ninh) mà hiện nay còn lưu lại di tích ở chùa Dâu (Cổ Pháp, Diên Hựu) vào đầu thế kỷ I cho thấy đạo Bà La Môn đã lan tỏa tới nước ta. Chuyện ăn nằm kiểu thần thánh giữa nhà sư Khâu Đà La và cô gái bản địa Man Nương đã tạo ta bốn nữ thần Mây, Mưa, Sấm, Điện theo thần thoại Ấn Độ liên quan thần Indra là bắt nguồn từ Bà La môn giáo.

Chùa Dâu cũng là nơi đạo Phật truyền tới vào thế kỷ thứ II. Di chứng chiếc Linga cổ xưa còn được thờ bên cạnh tượng Pháp Vân, Pháp Vũ ở chùa Dâu ngày nay cho thấy đó là gốc tích của đạo Bà La Môn du nhập vào nước ta từ thời ấy. Tứ pháp có trước nên chiếm vị trí trung tâm trong điện thờ cũng như ở ba nơi khác nằm trong cụm cơ sở tín ngưỡng ở thành Luy Lâu cổ mà nay vẫn còn. Còn đạo Phật Thích ca đến sau nên được thờ vòng ngoài cùng với các vị la hán, bồ tát khác. Do đó tín ngưỡng dân gian Việt Nam theo nghi thức thờ Mẫu hay các thần đất đai, cây cối, đất đá, sông biển ..trong thiên nhiên xuất hiện trước đạo Khổng, đạo Lão và kể cả Phật giáo vào thời kỳ đầu Bắc thuộc ngàn năm. Ba đạo sau này nhất là đạo Phật đã phát triển mạnh mẽ trong văn hóa tôn giáo bên cạnh văn hóa tín ngưỡng dân gian. Sau đó, Bà la môn giáo, Ấn độ giáo đi vào đời sống văn hóa – kinh tế - xã hội ở các khu vực bản địa thời kỳ hình thành các vương quốc cổ ở Trung bộ (Champa) và Nam bộ (Phù Nam). Hồi giáo và Thiên chúa giáo lần lượt vào nước ta vào những thế kỷ tiếp theo khi xuất hiện các đoàn thương thuyền từ phương Tây xa hơn Ấn Độ như Trung Đông, Đông Âu và Tây Âu...

Mãi cho đến đầu thế kỷ 19, trong thời kỳ thực dân đế quốc, ở nước ta dưới thời thuộc địa Pháp, người Ấn Độ nhất là giới thương buôn và người lao động mới tới Sài Gòn (nay là TP Hồ Chí Minh) để làm ăn sinh sống, mặt khác do chính quyền thực dân Pháp cho nhập khẩu lao động làm thuê từ các thành phố lớn như Pondichery, Madras, Bombay...Vì họ là cư dân bản địa miền Nam Ấn Độ gốc dân tộc Dradivian màu da đen thuộc bang Tamil Nadu nên tới Việt Nam bị gọi là “Chà và” do hiểu lầm là dân Java (Indonesia). Sự có mặt của họ sớm nhất là từ năm 1897 và tăng dần qua các thời kỳ. Nói chung, có hai cộng đồng người Ấn Độ nhập cư và làm ăn sinh sống ở phường Bến Nghé và Bến Thành. Ông Maroday, một người Ấn Độ lai Việt đang định cư ở Panama, năm nào cũng về nước dự lễ vía Bà trong tháng 10. Cha của ông cũng thuộc cộng đồng Tamil tới Sài Gòn rất sớm. Năm nay ông đã trên 75 tuổi, có mẹ là người Việt quê ở Hốc Môn. Cha ông là dân lao động người Ấn, mỗi sáng sớm thường đạp xe đạp hay theo xe ngựa chở sữa tươi từ Hóc Môn xuống bán ở quanh chợ Bến Thành. Cha ông từng tham gia quản lý đền Bà Mariamman vào những năm trước 1950 và bản thân ông từng làm Thư ký cho Ban quản lý đền và lúc ông được 15-16 tuổi đã chứng kiến quang cảnh đền được xây dựng mới mang đậm nét đặc trưng kiến trúc cổ đền tháp Ấn Độ được bảo tồn cho tới ngày nay.


II -Xây dựng và bảo tồn


1. Xây dựng trước năm 1975: Ông Maroday cho biết, trước khi được xây dựng lại vào những năm 1950-1955, đền Mariamman là một ngôi miếu được dựng bằng tôn lá và gỗ. Thời kỳ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, quân phát xít Nhật chiếm đóng Đông Dương, trong đó có Sài Gon. Máy bay của phe Đồng Minh Anh Pháp Mỹ thường xuyên đến đây dội bom quanh chợ Bến Thành và có trái đã rơi vào khuôn viên của ngôi miếu thờ Bà Mariamman, cạnh giếng nước cũ bên trái ngôi miếu nhưng không gây thiệt hại nào. Thậm chí có trái nhìn thấy từ trên không rơi ngay trên ngôi miếu nhưng lại rơi ở ngoài đường Admiral de Rose (nay là Trương Định).

Khi quân Nhật thua trận, quân Đồng Minh trong đó có quân đội Ấn Độ tham gia giải giới quân Nhật ở Sài Gòn đã tới đóng doanh trại và chiếm dụng nhà phố của dân cư ở chung quanh ngôi miếu và vườn Bồ Rô (nay là Công viên văn hóa Tao Đàn). Theo Luận văn tốt nghiệp trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn năm 2016 của tác giả Lại Thị Thu Trang, “Đền Mriamman được xây dựng vào năm 1885 trên mảnh đất khu miếu cũ. Lúc đầu đây chỉ là ngôi đền nhỏ đơn sơ, mái lợp tôn trên mặt bằng ngôi miếu tàn của người Việt thờ Linh Sơn Thánh Mẫu.” Hiện nay, ở cạnh cổng Công viên văn hóa Tao Đàn đường Trương Định cách đây độ 100 m có ngôi miếu Ngũ hành, có lẽ cũng bắt nguồn từ ngôi miếu cũ bị thay thế bởi ngôi đền Mriamman.

Đền thờ Mariamman được xây dựng trước tiên do cộng đồng người Ấn thuộc miền Nam Ấn Độ đã tới Sài Gòn lập nghiệp và định cư nhưng là ngôi miếu làm bằng tôn, gỗ đơn sơ chủ yếu để có nơi cầu nguyện cho sự bình an và kinh doanh phát đạt lúc họ mới nhập cư ở thành phố này. Ngôi miếu này lại do cộng đồng người Ấn nghèo khó, sinh kế bằng lao động tay chân cư ngụ ở khu vực Bến Thành này. Còn hai ngôi đền ở khu vực Bến Nghé lại do cộng đồng người Ấn khác thuộc giới kinh doanh giàu có của ba lĩnh vực kinh doanh vải sợi, địa ốc và tín dụng, đó là đền Subramaniam Swamy (thờ thần Muruga) ở số 98 Nam Kỳ khởi nghĩa và đền Sri Thenday Yutthapani (thờ thần Ganesha) ở số 66 Tông Thất Thiệp. Nghe nói còn một ngôi đền nữa (cũng thờ thần Ganesha) ở 139 Thuận Kiều, quận 6) nhưng không còn tồn tại nữa. Khi xây dựng lại thì đền Mariamman được thực hiện sau cùng. Hầu hết vật liệu xây dựng đền và nghệ thuật kiến trúc đặc trưng Ấn Độ đều được đem từ chính quốc, kể cả thợ chuyên nghiệp tay nghề cao. Chuông đồng cũ còn lưu lại tới ngày nay cũng được đúc từ Ấn Độ, Trên thân chuông có in nổi hàng chữ “Tặng đền Mariamman năm 1950” nhưng nay đã bị nứt ở vành chuông không còn sử dụng. Tuy là đền thờ nhưng lại có thêm hoạt động kinh tài theo lối cho vay tín dụng gọi là “vay bạc Chà”. Ông Maroday có nhắc tới vì ông từng là Thư ký của Ban qủan lý đền nên có trách nhiệm ghi chép sổ sách thu chi tiền vay. Đền còn lưu giữ một ít phiếu thu chi.




2. Kiến trúc của ngôi đền Mariamman :

Điều quý hiếm và đặc biệt của ngôi đền là cho tới nay, lề lối kiến trúc cũ vẫn còn giữ nguyên trạng sắc sảo và tinh tế như ban đầu, ông Maroday cho biết như vậy. Chính ông là người được phân công giám sát công trình xây dựng đền. Tất cả kiến trúc trong ngoài đền và các trang trí đều do thợ thủ công và lao động tay chân thực hiện. Ngôi đền có hình dáng là một hoành đồ gần vuông vức (mặt tiền rộng 28,84 mét, mặt hông rộng 30,08 mét) mặc dù hơi lệch theo hướng tây nam – đông bắc và chỉ có một cửa chính nhìn ra đường Trương Định theo hướng chếch đông. Về sau mới trổ thêm một cửa phụ nhỏ bên phải. Điện thờ là một cụm gồm ba điện nằm sát nhau, một chính có hình hộp vuông dài và hai phụ là hình hộp vuông vức nằm hàng ngang ở trung tâm ngôi đền. Điện thờ chính hình hộp vuông thờ tượng bà Mariamman và bên cạnh là tượng bà Parvati. Nóc điện này tiếp giáp với một tháp đa thần nằm phía trên sân thượng cao trên 10 mét, chân đế hình vuông và chóp tháp hình tròn củ hành kiểu Hồi giáo là tháp sau. Đối diện với tháp này có tháp trước tên Rajagopura đa thần nằm phía trên cửa chính ra vào đền cao 12 mét, tượng trưng cho núi Meru. Trên đỉnh tháp có 5 ngọn nằm ngang nhau, ông Maroday cho biết bên trong có chứa đất được lấy từ Ấn Độ.

Hai điện nhỏ thờ tượng hai vị thần bảo vệ, dân gian gọi là Cô và Cậu. Bên ngoài lớp cửa thứ nhất của điện chính được thờ tượng thần Muruga và Ganesha ở bên trái và phải (theo thần thoại là hai con của bà Mariamman). Bên ngoài cửa thứ hai cũng có hai vị nữ thần bảo vệ đứng trong lồng kính tay cầm vũ khí là dao kiếm được tạc theo phụ nữ Ấn hiện đại và trang phục có màu sắc lộng lẫy. Ngay phía trước cửa điện này là vuông rào sắt có đặt cây đèn đồng 5 ngọn tim chỉ sợi cao khoảng 1,5 mét được thắp cháy suốt ngày. Bên dưới là hai bộ Linga bằng đá granit, một cao một mét có bệ Yoni âm xuống nền điện và một cao vài tấc đặt trên bệ Yoni nổi cũng bằng đá granit. Khu vực gồm điện thờ và vuông rào có linga là hoành đồ vuông dài nằm ngay trước mặt điện thờ chính của đền có kích thước 10,5 mét x 7,3 mét. Trước khu điện này là tiền sảnh hẹp làm nơi vái lạy cầu nguyện và đặt bàn lễ vật cúng. Liền đó là một hành lang tiếp giáp với cửa chính ra vào, chạy dài qua hai cửa suốt chiều ngang của mặt tiền đền. Nơi hành lang này, ở hai bên cửa, bên phải có tượng thần Sư tử, bên trái là khánh thờ biểu tượng một thần được gọi là “Ông”.



Điện chính và phụ đều được xây tường kín chỉ chừa một cửa ra vào bằng chất liệu đá, cát nhuyển trộn xi măng được mài láng trông giống đá granit (hoa cương). Bên ngoài có hình nổi cửa giả chạm khắc công phu với đường nét thẳng của các hàng cột giả. Tất cả tạo thành một khối điện thờ được chạm nổi hoa văn kiến trúc vừa nghệ thuật vừa mỹ thuật rất bền vững hiếm có. Nóc hai điện thờ phụ được trang trí tháp hình tròn củ hành, có trang trí các tượng, thú theo vòng quanh. Nóc điện chính vuông dài có trang trí 18 tượng thần thu nhỏ của 18 tượng thần nằm trong vòng tròn ẩn dọc trên tường dãy nhà hậu ba mặt bao quanh khu điện thờ mà theo GS Phan Anh Tú đó là mô típ theo tín ngưỡng Hộ thế bát phương thiên (Lokapala) – ở đây không phải bát phương mà tới thập bát phương và nằm cách hành lang điện thờ bằng một sân nhỏ bao quanh ba mặt hành lang nhưng mới đây đã được xây nâng cao ngang với dãy hành lang điện thờ (toàn bằng đá hoa cương đỏ gốc Ấn Độ) để mở rộng mặt bằng đền. Dãy hành lang bốn mặt theo hoành đồ vuông bao quanh khu điện thờ có hai dãy cột vuông gồm vòng ngoài 6 cột và vòng trong 5 cột toàn bằng đá mài giả granit khiến cho toàn bộ ngôi đền trông như bằng đá granit (hoa cương) vừa đồ sộ vừa hòanh tráng của mô típ đền tháp cổ kính linh thiêng. Có người kể lại, khi đổ móng khu điện thờ cũng có đặt vàng bạc, đá quý dưới hố móng ngay cửa điện thờ bà Mariamman.

3. Bảo tồn sau năm 1975 :

Từ năm 1975 tới năm 1986, ngôi đền ngưng hoạt động do toàn bộ Ban quản lý đền đều về nước. Nhưng sau đó, do nhu cầu tín ngưỡng của bá tánh, ngôi đền bắt đầu hoạt động trở lại do UBND quận 1 cấp phép cử ban quản lý mới điều hành tạm thời, có một trụ trì người Ấn Độ và đã qua đời năm 2002. Tới năm 2009, UBND quận 1 chính thức cử Ban quản trị (có cũ có mới) để tổ chức điều hành theo hình thức Đền là một cơ sở tín ngưỡng dân gian thờ nữ thần Mariamman như hiện nay.

Vào thời gian đó, ngôi đền đã xuống cấp trầm trọng. Toàn bộ mặt nền đền đã cũ kỹ, xướt mẻ và hư hỏng nhất là khu nhà hậu, bỏ hoang nhiều chỗ lâu ngày nên càng hư hỏng nhiều hơn ở khu nhà bếp, nhà vệ sinh, đường thoát nước thải bị sụp lở gây ô nhiễm nặng nề, đặc biệt hơn, nóc đền là mặt bằng lát gạch tàu nên hư hỏng nặng do mưa nắng lâu ngày xâm hại. Nhiều nơi thấm dột làm ảnh hưởng tới các kiến trúc bên dưới, trong đó có nhiều tượng thần bị sứt mẻ, nứt nẻ và bạt màu. Ban Quản trị mới bắt đầu sửa chữa từng phần để duy tu bảo dưỡng và bảo tồn ngôi đền vốn là di tích văn hóa của nước bạn có quan hệ lâu đời giữa hai nước, hai dân tộc Việt Nam - Ấn Độ. Các công trình sửa chữa được thực hiện công phu, tỉ mỉ và dần dần nhằm không làm ảnh hưởng tới cấu trúc, kiến trúc cổ mang nhiều dấu ấn di sản văn hóa Ấn Độ. Do đó, toàn bộ ngôi đền được bảo tồn gần như nguyên vẹn và trở nên đẹp đẽ, hoành tráng hơn xưa, nhất là màu sắc của hai tháp, các phù điêu, hoa văn, các tượng thần từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài đều mang dấu ấn cổ kính đầy màu sắc kiến trúc văn hóa nghệ thuật của một nước có bề dầy lịch sử mang tín ngưỡng Ấn Độ. Ông Tổng lãnh sự Ấn Độ tới thăm đền lúc ấy rất ngạc nhiên tưởng rằng việc thực hiện tu sửa này là do tay nghề của thợ chuyên môn người Ấn.

Liên tục các vị Đại sứ và Tổng lãnh sự Ấn Độ của nhiều nhiệm kỳ thường xuyên tới đền tham quan, cầu nguyện. Các đoàn khách ngoại giao của Ấn Độ như Thống đốc bang, các Bộ trưởng đương nhiệm hoặc nghỉ hưu khi tới thành phố đều dành thời gian để thăm viếng đền, tới tham dự các ngày lễ vía Bà và bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với Ban quản trị và bày tỏ sự biết ơn chính quyền quận, thành phố đã gia công bảo tồn được di tích đền ngày càng đẹp đẽ hơn lên với một số trang trí mới nhưng phù hợp theo tinh thần “Đa dạng trong một thể thống nhất”..

Bà Tổng lãnh sự hiện nay và nhiều gia đình Ấn Độ làm ăn sinh sống ở thành phố thường đưa con tới làm lễ, cầu nguyện và nhận lộc của Bà Mariamman. Đền còn thu hút nhiều đoàn khách vãng lai người Ấn Độ, Malaysia, Indonesian, Singapore...đông đảo người nước ngoài với nhiều quốc tịch tới lui hàng ngày. Mỗi ngày có tới 100-200 người nước ngoài tới tham quan, nghiên cứu mặc dù chỉ với thời gian ngắn ngủi 15-20 phút. Còn người trong nước từ nhiều tỉnh thành tới rất đông hàng ngày, đặc biệt ngày thứ sáu, mùng một, rằm. Ba ngày Tết và ngày vía Bà thì đền đông nghẹt người tạo nên một cảnh quan náo nhiệt như nhiều đền chùa khác khi có lễ hội.

Cảnh quan của đền sau khi được sửa chữa, tu bổ càng thu hút khách trong ngoài nước tới chẳng những để tham quan, cầu nguyện mà còn làm nơi vãng cảnh và chụp ảnh lưu niệm, ngồi nghỉ, vui chơi chuyện trò nhiều giờ nhất là trong những ngày nắng nóng và mưa bão. Có nhiều bài viết trên báo, trên mạng ca ngợi về cảnh quan, môi trường và sự bảo tồn đậm nét cổ kính, linh thiêng của ngôi đền.

Có lần, bà Tổng lãnh sự hiện nay phát biểu với nhiều người có mặt :”Cứ mỗi lần tới viếng đền tôi đều cảm thấy thoải mái, an lành do không khí trong lành, cảnh quan sạch đẹp, kiến trúc còn đậm nét cổ kính, linh thiêng”.




III -Nghi thức cúng lễ


1. Vật phẩm cúng lễ và lễ hiến tế bằng lửa : Mỗi ngày, có ít nhất một lần cúng lễ Bà theo nghi thức cổ truyền vào giữa buổi sáng hay đầu buổi tối. Theo truyền thống, cúng vật phẩm là nghi lễ hiến dâng thức ăn cho các thần. Ở đền Bà Mariamman hàng ngày cúng thức ăn chính gồm cơm trắng, sữa bò, bánh kẹo, dừa khô, chuối “chà”và trầu lá, cau khô miếng. Vào ngày thứ sáu, mùng một, rằm tức ngày lễ trọng thì xôi (nếp, đậu xanh, đường) thay cho cơm trắng. Những thứ này được chuẩn bị, chọn lựa và sắp đặt hết sức công phu trước giờ cúng lễ. Với bếp lửa cầm tay luôn được tạo ra khói thầy cúng (xưa gọi là giáo sĩ) thành kính đến từng tượng thần chính mà đầu tiên là bà Mariamman đưa ra trước mặt để “xông khói” theo vòng xoay kim đồng hồ ba lần và lâm râm đọc vài câu kinh. Sau lễ “xông khói” tới lễ “xông lửa” bằng ngọn đèn dầu, nghi thức thực hành như “xông khói”. Đi theo thầy cúng lễ là một “đệ tử trai” cầm ly nước dừa tươi để rưới lên thức ăn đã bày ra trước với ý nghĩa tượng trưng cho nước trái cây ép (rượu) để “tăng lực” cho thần (có tên gọi Soma).

Sau khi lễ “xông lửa” hoàn tất, thầy cúng mang ra cho những người đi lễ đền có mặt đưa hai bàn tay ra“hơ lửa” rồi vuốt lên mặt để “hưởng lộc” của thần. Đệ tử cầm ly nước dừa tươi múc ra một muỗng nhỏ cho vào tay của người nhận lộc, hoặc uống hoặc rưới lên đầu. Đây cũng được hiểu là cách ban và nhận “phép-lộc” của thần .

Nghi thức cúng lễ “hiến tế bằng lửa” được giải thích theo tâm linh và thần thoại như sau : Nếu ngày không cúng lễ này thì không có đêm. Nhờ cúng lễ mà vũ tru tuần hoàn theo đêm ngày, tháng, năm. Ngọn đền tượng trưng cho thần lửa Agni, làm trung gian giữa thầy cúng và các thần. Thần lửa đốt (ăn) hết thức ăn được người đời hay thầy cúng “dâng hiến” cho các thần hưởng, với ý nghĩa : người thành tâm cúng dâng lễ vật thì sẽ được các thần chứng giám để ghi công đức cho đến khi qua đời linh hồn sẽ được về thượng giới hay cõi thọ sống an lành vĩnh viễn.

Thầy cúng còn cầm theo cái chuông nhỏ để rung lắc lên một hồi khi tới trước một tượng thần, có ý nghĩa như báo động. Trong lúc đó, chuông lớn trong đền được kéo lên thong thả từ lúc thầy cúng khởi sự làm lễ cúng cho bà Mariamman cho tới khi kết thúc, tức thầy cúng trở lại tượng Bà để báo cho thần biết lễ cúng đã hoàn tất bằng nghi thức tắt đèn lửa cầm tay. Chuông lớn gióng lên ngân nga là để thông báo cho dân chúng trong khu vực (xưa là dân gốc Ấn) biết giờ lễ cúng hiến tế của đền.

2. Tuần lễ vía Bà : Theo lịch Ấn Độ, lễ vía Bà hàng năm có xê dịch trước sau vài ngày trong tháng 10 hàng năm. Vía Bà theo cổ truyền kéo dài một tuần lễ và ngày kết thúc chính là ngày Vía của Bà Mariamman. Vào những ngày trước đó là lễ Vía của các thần : Kaliamman, Saravasti và Laksmi.

Hình thức trang trí vật liệu tuần lễ vía Bà rất công phu và phức tạp. Trước cửa đền dựng lên hai cây chuối hột tươi có đủ ngọn, lá và trái mà bắt buộc phải có quày đang trổ trái và bắp. Việc chọn lựa loại chuối hột với đầy đủ yếu tố như vừa kể rất công phu, khó khăn vì phải đi tìm mua ở ngoại thành trong các vườn chuối đang tới thời kỳ trổ buồng. Cùng với tìm mua chuối hột cây, còn có bắp dừa tươi hay dừa nước, lá xoài tươi. Với hai loại lá này, ban tổ chức huy động nhiều người có tay khéo léo và biết cách thức tạo hình như từng lá dừa non phải cắt, xếp và thắt thành hình mũi tên ngược để treo giăng khắp đền xen kẽ với lá xoài. Ý nghĩa của mũi tên ngược là để tưởng nhớ sự đau thương của Bà lúc ra trận chiến đấu với quân xâm lược chẳng may hy sinh giữa trận tiền do nhiều mũi tên của kẻ thù. Lá xoài tượng trưng cho rừng cây hay mùa màng bội thu.

Ngày trước giải phóng năm 1975, lễ vía Bà còn cử hành thêm một nghi thức long trọng là rước tượng bà đi vòng quanh đền. Do tượng bà Mariamman bằng đồng đen khối lớn và nặng gắn liền với bệ đá chắc chắn nên không khiêng lên được mà phải thay thế bắng tượng bà Parvati được đặt bên cạnh. Tượng đồng Parvati nhỏ và nhẹ, không có chân đế nên thuận tiện đặt lên kiệu khiêng đi. Sau khi đi ba vòng quanh đền, tượng bà được rước về vị trí cũ. Thầy cúng hay trụ trì đền lên sân thượng –nóc đền cầm cây cung bắn tên tre ra bốn hướng. Tục truyền, hễ ai nhặt được mũi tên thiêng này sẽ được may mắn, hạnh phúc và có nhiều tài lộc.

Ông Maroday như kể ở trên cho biết thêm, trong lễ vía bà còn có nghi thức đi trên lửa (bếp than đang cháy đỏ rực), một tập quán cổ truyền hết sức đặc biệt của Ấn Độ được người trụ trì đền hay giáo sĩ thực hành, đã thu hút rất đông người xem và khen ngợi. Do đó, người ta cho là giáo sĩ là nhà tu hành khổ luyện có tài phép.

Ngày nay, ban tổ chức lễ vía Bà đã thay “rước tượng” bằng “rước ảnh” cho đơn giản và dễ dàng nhưng vẫn giữ nghi thức lễ cổ này.


VI-Kết luận


Theo tín ngưỡng ban đầu của miền Nam Ấn Độ đặc biệt bang Tamil Nadu, bà Mariamman được thờ cúng như một Mẹ xứ sở, một thần làng (hay thành hoàng) như phần nhiều dân tộc ở khu vực Đông Nam châu Á thuộc nền văn minh lúa nước. Tín ngưỡng này xuất hiện từ thời Tiền Veda có trên ngàn năm trước công nguyên. Tục lệ thờ cúng bà có nhiều nghi thức mê tín dị đoan như đi trên lửa than, lên đồng bóng, xiên lìn (xỏ que nhọn qua miệng hay mũi), nhảy múa, vật cúng ngoài hoa quả còn có máu súc vật và giết súc vật để tế thần. Người xưa còn chế biến trụ đá làm cột mốc biên giới, ranh làng xã tượng trưng cho bà để bảo vệ xóm làng, đất nước.

Từ cột đá này người xưa liên hệ ngay tới biểu trưng của thần Siva theo Bà La môn giao hay Ấn Độ giáo sau này. Lần hồi theo thời gian, người theo hai đạo này lại gắn bà với các vị thần linh chủ yếu (Braman, Wishnu, Sihva) hoặc các vị thần nữ là vợ, là em, là bạn của các vị thần linh thiêng này thông qua các thần thoại (Uma, Durga, Parvati Laksmi, Kaliamman...)

Tới khi truyền lan ra nước ngoài, nữ thần Mariamman được chính thức nhập chung với các vị thần nam, nữ cùa Bà La Môn giáo, đặc biệt Ấn Đô giáo từ thế kỷ 15-16 hay 18-19 như ở Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Singapore, Lào và Việt Nam mặc dù mỗi nơi Mariamman được đặt tên lại hay giữ nguyên. Như Mariamman ở Việt Nam, Thái Lan, ở Malaysia là Sri Mahamariamman, Sri Mariamman ở Singapore...

Như vậy, đền Mariamman, Bà được lắp ghép với các thần của Ấn Độ giáo đậm nét Bà La môn giáo từ khi nữ thần này xuất khẩu đi khắp thế giới như ngoài Châu Á còn tới các châu lục khác và Ấn Độ giáo trở thành đạo Hindu. Còn trong những thế kỷ đầu sau công nguyên hai đạo gốc này tới Việt Nam thì vẫn giữ nguyên hình thức thờ cúng cổ truyền nhưng có thêm nữ thần bản địa như ở Bắc Ninh có Tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện = Thần Mây, Thần Mưa, Thần Sấm, Thần Sét), ở Vương quốc Champa có nữ thần Pô y Naga (Nha Trang), Pô Sa nư (Phan Thiết)...

Ngày nay, sau khi UNESCO công nhận tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam thì chúng ta có thể coi các nữ thần bản địa ở các tỉnh thành Việt Nam là một dạng tín ngưỡng thờ mẫu tương đồng. Từ đó, nên coi nữ thần Mariamman được thờ trong đền ở quận 1 thành phố Hồ Chí Minh có cùng tên mang đậm nét tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu hữu nghị của hai dân tộc, hai đất nước và hai nền văn hóa Việt Nam - Ấn Độ.


bài Tham luận về Tín ngưỡng Nữ thần Mariamman tại Hội thảo khoa học ngày 26/10/2017
của Vương Liêm (Trưởng Ban Quản Trị đền Mariamman)



Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa từ SàiGòn ngày 11.11.2017 .

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004