Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



CHUYẾN ĐI SỨ CỦA

ĐOÀN SỨ BỘ NGUYỄN DANH NHO VÀ

VIỆC DẬP CHỮ TRÊN BIA MỘ

ĐẠI DANH Y TUỆ TĨNH MANG VỀ NƯỚC








C ăn cứ để tôi viết bài này, ngoài các sử liệu mà tôi sẽ dẫn ra dưới đây, là Gia phả họ Trần Điền Trì, rất tiếc là văn bản Gia phả này, do Phó đô Ngự sử Trần Tiến ( 1709- 1770) khởi thảo, còn ở bản chép tay mà tôi nghĩ là chữ của chính Trần Tiến, đã bị tịch thu và đốt trong Cải cách Ruộng đất, cùng với việc phá rỡ Bái đường của Dòng họ, thờ 3 vị Tiến sĩ Thượng thư, đầu năm 1956. Cùng đốt với Gia phả là các tập thơ Nôm Truyện Kiều, Lục Văn Tiên, Thạch Sanh, Hoàng Trừu, Tống Trân Cúc Hoa… tịch thu từ tay nải sách của mẹ tôi, dù mẹ tôi đã giấu kín ở trong buồng. Tất cả đốt ngay trên sân nhà tôi mà tôi được chứng kiến. Khi xé từng trang Truyện Kiều ra đốt, mẹ tôi đã bật khóc. Chi tiết ấy, suốt đời tôi không quên được. Năm 1960, căn cứ vào trí nhớ của các lão thành dòng họ là cụ Trần Doãn, Trần Vẹn, Trần Túy, Trần Hòa, tôi đã chép lại được phần nào. 4 vị ấy đã mất cách đây từ 30 đến 40 năm. Đến năm 1968, Đại Cách mạng văn hóa, một vị cháu đã báo cáo với lãnh đạo địa phương là vẫn còn tàn dư của bọn quan lại phong kiến, được lén lút ghi chép lại, nên Gia phả lại bị tịch thu, đến nay không ai còn biết nó ở đâu. Vì dòng họ tôi có 1 tước Công, 5 tước Hầu, 3 tước Bá, 2 vị là Tham Tụng ( tể tướng), 3 vị làm Thượng thư ( Bộ trưởng) thời Hậu Lê, trong đó có 1 vị Thượng thư bộ Binh đã tham gia đánh dẹp cuộc khởi nghiã của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ tại bản xã bên cạnh. Quyển Niên phả lục của Trần Tiến và 35 đạo sắc của thời Lê hiện còn là do con cháu đã bí mật đưa về nhà cất giấu. Gia phả hiện nay mới được soạn lại những năm 90 - 95 của thế kỉ trước, vì sợ hiểm họa lại đến với mình và con cháu mình, nên chỉ ghi ông nào đẻ ra ông nào, để con cháu trong họ biết hàng ai trên, ai dưới mà chào hỏi nhau cho có thứ bậc. Một vài trang, tôi có ghi thêm chú thích ở dưới. Nói chung, các con cháu hiện nay, đời thứ 23 - 24, chả ai biết gì về tên tuổi và công đức của tổ tiên mình, nếu trong ngày Hợp tế 13 tháng Giêng hằng năm, tôi không thông báo vài câu, hoặc vị đại diện dòng họ không có đôi lời khai mở.

Theo Việt sử Thông giám Cương mục, chính biên quyển thứ 34 ( bản dịch) của Quốc sử quán triều Nguyễn ( Nxb Sử học, 1960), Gia phả họ Trần Điền Trì, “Di ngôn của các bô lão dòng họ về chuyến đi sứ của quan Tả Hộ”, thì tháng 4 năm Canh Ngọ ( 1690), vua Lê Hy Tông lập Đoàn sứ bộ sang nhà Thanh. Chánh sứ là Thượng Bảo khanh Nguyễn Danh Nho và Nguyễn Quí Đức. Phó sứ là Binh bộ Tả Thị lang Nguyễn Tiến Sách và Hộ bộ Tả Thị lang Trần Thọ. Tên tuổi và hành trạng của các vị này, tôi đã viết trong cuốn sách Đi tìm sự thật, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và Nhà xuất bản Hội nhà văn liên kết xuất bản và phát hành năm 2017, nên không nói ở đây, vì yêu cầu hạn chế số chữ của văn bản, không cho phép.

Thời gian đi sứ, các sách hiện có cũng ghi khác nhau. Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn và Gia phải họ Trần Điền Trì ghi như nhau, là đi năm Canh Ngọ (1690) về năm Tân Mùi ( 1691). Sách Biên niên Lịch sử cổ trung đại Việt Nam của Viện Sử học, Nxb Khoa học xã hội, 1987, trang 325 lại ghi, chỉ có 1 câu: Tháng 6 năm Kỉ Tị ( 1689): “ Triều đình Lê Trịnh sai sứ sang nhà Thanh đòi trả lại đất các châu Bảo Lạc, Thủy Vĩ, Vị Xuyên, Quỳnh Nhai”. Như vậy là trước 1 năm và nhiệm vụ của đoàn sứ bộ không ghi việc tuế cống, do Chánh sứ Nguyễn Danh Nho đảm nhận, chỉ ghi việc đòi đất 4 châu bị nhà Thanh lấn chiếm, do Tả Thị lang bộ Hộ, Trần Thọ đảm nhận, chứng tỏ chuyến đi sứ lần này, việc đòi đất là quan trọng hơn chăng? Cũng có thể việc đi sứ, với chuẩn bị hồ sơ đất đai bị lấn chiếm và đồ vật quí hiếm triều cống, đoàn sứ bộ Nguyễn Danh Nho phải cần đến 10 tháng để chuẩn bị, nên từ tháng 6 năm trước, 1689, đoàn đã có sắc chỉ được thành lập, để tháng 4 năm sau ( 1690) mới lên đường được chăng? Về việc đòi đất, trước đó 2 năm, tháng 5 năm Mậu Thìn ( 1688), Trần Thọ là Tả Thị lang bộ Hộ, vua sai làm Đốc đồng cùng Lê Huyến ( Lê Huyến là trấn thủ đạo Hải Dương), lên biên giới, làm trấn thủ Tuyên Quang và Hưng Hòa, để xem xét việc này. Trần Thọ đã gửi thư sang nhà Thanh qua Tổng trấn Vân Nam, để đòi lại đất, năm 1688, nhưng nhà Thanh không trả lời.

Có tài liệu viết cuộc đi sứ này vào năm Tân Mùi ( 1691) là sai, viết Nguyễn Danh Nho được bổ sung vào Đoàn sứ bộ lại càng sai.

Đoàn sứ bộ rời Thăng Long, tháng 4 năm Canh Ngọ ( 1690). Do đường xa, núi sông hiểm trở, mưa nắng thất thường, phương tiện chưa hẳn đã thuận lợi, sản vật triều cống quí hiếm lại cồng kềnh, việc bảo vệ từng sản vật một, phải vô cùng nghiêm cẩn, nên phải 9 tháng sau, đầu năm Tân Mùi, Đoàn sứ bộ ta mới đến nơi. Vì vậy, sách An Nam kỉ yếu của nhà Thanh, ghi Đoàn sứ bộ ta đến cống nạp năm Tân Mùi ( 1691). Có lẽ cũng vì thế, một vài tài liệu mới viết Nguyễn Danh Nho đi sứ năm 1691, và trong Toàn Việt thi lục, Lê Quí Đôn chọn 3 bài thơ viết về việc bang giao với nhà Thanh của Trần Thọ, cũng ghi Trần Thọ “phụng mệnh đi sứ” năm Tân Mùi (1691).

Sau cuộc đi sứ thành công này về, Nguyễn Danh Nho được thăng lên chức Bồi tụng ( Phó Tể tướng) và tước được thăng 1 cấp lên tước Nam. Còn Trần Thọ vẫn nguyên chức tước cũ, có lẽ vì việc đòi đất không thành. Có tài liệu ghi, sau chuyến đi này, Trần Thọ được thăng Bồi tụng rồi Tham tụng, Hình bộ Thượng thư, là nhầm. Chức ấy của Trần Thọ đã bị truất khá lâu trước khi đi sứ, do sai sót trong một vụ xử án.

Vua Thanh không nói gì về việc trả lại đất.

Nhưng có lẽ do đòi đất kiên trì trong một quá trình nhiều năm như thế, nên đến thời Nguyễn, nhà Thanh mới trả lại đất cho ta, trong dịp Việt – Thanh – Pháp hoạch định biên giới Việt Trung khoảng năm 1890. Và châu Vị Xuyên, nay là huyện Vị Xuyên thuộc tỉnh Hà Giang, nằm trong số đó, còn giữ lại tên đất cũ đến bây giờ. Chưa rõ các nơi khác, nhà Thanh có trả hết đất không – 19 xã thuộc 4 châu ở 2 đạo là Tuyên Quang và Hưng Hòa, mà 2 lần, Trần Thọ có thư đòi đất, theo phận sự được giao của triều đình nhà Lê. Tôi có danh sách cụ thể, nhưng thấy không cần ghi ra đây.

Trên đường Đoàn sứ bộ về nước, năm 1691, có qua Giang Nam, ghé thăm mộ Đại danh y Tuệ Tĩnh ở đó. Gia phả họ Trần Điền Trì của Trần Tiến có ghi một đoạn về việc này, tôi nghe đọc và giảng nghĩa năm 12 tuổi, nay nhớ không chính xác, nên không dám ghi và cũng vì thế, không khôi phục lại được. Đây chính là văn bản gốc đã bị đốt năm Cải cách Ruộng đất. Nguyễn Danh Nho sinh năm 1368, Trần Thọ sinh năm 1369, cùng đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất ( 1670) và hai làng Nghĩa Phú ( h. Cẩm Giàng, quê Nguyễn Danh Nho), Điền Trì ( h. Nam Sách, quê Trần Thọ) cũng gần nhau và hai ông thường có quan hệ rất gần gũi với nhau.

Tuệ Tĩnh là tên hiệu của Nguyễn Bá Tĩnh, người cùng họ, cùng làng với Nguyễn Danh Nho. Tuệ Tĩnh sinh khoảng năm 1330, đỗ tiến sĩ năm 1351, là một thiền sư và thày thuốc đại tài, tác giả bộ sách thuốc Nam vĩ đại “Nam dược thần hiệu, và câu nói bất hủ “ Thuốc Nam chữa bệnh cho người Nam”. Tuệ Tĩnh bị bắt cống sang Trung Hoa năm 1385, để chữa bệnh cho vua Trung Hoa, sau mất ở Giang Nam, khoảng năm 1400, trước Đoàn sứ bộ sang là khoảng 290 năm.

Phải bằng biện pháp kĩ thuật, chánh sứ Nguyễn Danh Nho và phó sứ Trần Thọ mới dập được khuôn viên bia mộ với dòng chữ trong bia đá trên mộ Tuệ Tĩnh mang về nước. Dòng chữ trong bia nguyên văn chữ Hán, dịch sang quốc ngữ là : “Ngày sau, có ai người nước Nam qua đây, xin đưa hài cốt tôi về với…”. Câu nói nổi tiếng của Tuệ Tĩnh đã ghi ở trên, được biết đến sau chuyến đi lịch sử này.

Tôi đã viết bài thơ về điều đó, bài Tuệ Tĩnh, khi báo Văn Nghệ đăng đã nhận được sự quan tâm của dư luận cả nước. (Tôi ghi lại bài thơ ở phần chú thích). Rất nhiều người đã gửi thư, điện thoại cho tôi và viết bài đăng lên các báo, hưởng ứng bài thơ, mong Bộ Y tế và các cơ quan chức năng tìm cách đưa hài cốt Đại Danh y về nước. Khi báo đăng bài thơ của tôi chưa về đến Quảng Ninh, tôi đã nhận được điện thoại hoan nghênh và ủng hộ rất nhiệt tình của Nhà thơ, Bác sĩ, Thầy thuốc ưu tú Trần Sĩ Tuấn, Tổng biên tập báo Sức khỏe & đời sống. Tập đoàn Mai Linh qua Nhà văn Nguyễn Gia Nùng, từ TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, cho biết: nếu Bộ Y tế lập đoàn tìm mộ và đưa hài cốt của Đại Danh y về nước, Tập đoàn sẽ hỗ trợ toàn bộ kinh phí chuyến đi… Đó là một cử chỉ văn hóa thật sự cao đẹp và vô cùng cảm động. Tôi thưa lại điều này và xin đề xuất: Bộ Y tế và UBND tỉnh Hải Dương, nên đặt ra vấn đề tìm kiếm và đưa phần mộ, dù di hài bị hủy hoại sau 600 năm, còn lại không đầy đủ, của Đại Danh y về nước. Không làm được điều này, chúng ta có lỗi với Người, và lỗi đó thành một nỗi ân hận của cả một dân tộc, không thể nào nguôi ngoai được.

Nguyễn Danh Nho người cùng họ, cùng làng với Tuệ Tĩnh, cho thửa một phiến đá tương tự như thế, rồi thuê thợ khắc chữ y như bản dập, đưa bia lên thuyền chở về làng. Khi thuyền chở bia chỉ còn cách làng một đoạn sông thì mắc cạn, thuê bao người kéo đẩy cũng không được. Nguyễn Danh Nho bước lên bờ và kinh ngạc nhận ra, cái doi đất con thuyền mắc cạn ấy, giống như con dao cầu thái thuốc của Tuệ Tĩnh, bèn cho là điềm giời, là chính ý muốn của Tuệ Tĩnh… Ngài muốn dừng bia ở đây chăng…

Nguyễn Danh Nho cho khiêng bia đá lên bờ và cho xây luôn một cái miếu để bia vào trong đó. Tôi đã đứng lặng hồi lâu trên cái doi đất hình con dao cầu thiêng liêng ấy, mà cảm nhận cái lẽ vi diệu của trời đất, nơi từng sinh ra các thiên tài…

Không biết từ bao giờ, cái miếu ấy đã thành đền, dân gian gọi là đền Bia, đền Tuệ Tĩnh, thờ Đại Danh y Tuệ Tĩnh… (*)


_____________________________________


(1) TUỆ TĨNH


Ngày sau, có ai người nước Nam qua đây

Xin đưa hài cốt tôi về với …”.


Lời ông khẩn cầu lúc lâm chung

Đã khắc vào đá

Đặt trên mộ

600 năm

Mưa nắng Giang Nam không mòn được

Trời đất Trung Hoa sương khói mịt mùng…

Bao người nước Nam đã qua đây

Đọc lời ông trong cỏ rối

Còn thấy bia đá đẫm nước mắt

Nhưng không một ai nghĩ đến việc đưa ông về

Hài cốt ông

Lặng lẽ tan trong hoang lạnh

Đất xứ người

Hài cốt ông

Lặng lẽ tan trong hoang lạnh

Đất xứ người…


Đêm khuya

Đọc Nam dược thần hiệu của ông

Bộ sách cứu đời, cứu người

Thấy dáng ông phảng phất trong chữ

Nghe văng vẳng đâu đây câu nói ấy

Lòng tự nhiên lạnh buốt

Nước mắt tôi nhoè ướt

Tôi bồi hồi thở than một mình

Chỉ có vầng trăng nghiêng bên cửa sổ

Dửng dưng…

Tôi bồi hồi thở than một mình

Chỉ có vầng trăng nghiêng bên cửa sổ

Dửng dưng…


Cỏ cây ơi

Có lẽ chỉ còn Em là vẫn nhớ lời Người

Ngày ngày thổi lên thành gió

Ngọn gió về quê từ nấm mộ

La lả cành mềm ngoài cửa sổ

Vẫn gọi thầm…

Nào biết có ai nghe…

Hồn ông thành ngọn gió

Bay suốt nước Nam

Đêm đêm đập vào từng cánh cửa

Mỗi ngôi nhà…

Nào biết

Có ai nghe…

Hồn ông thành ngọn gió

Bay suốt nước Nam

Đêm đêm đập vào từng cánh cửa

Mỗi ngôi nhà…

Nào biết

Có ai nghe…


Bài đã được GS-TS Trung Hoa, ông Phùng Trọng Bình dịch sang tiếng Trung và xuất bản trong tuyển tập thơ của tôi Trần Nhuận Minh- Thi ca tinh tuyển tập, xuất bản tại Bắc Kinh, năm 2014.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 15.10.2017.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004