Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm &

Nữ Trạng Nguyên Duy Nhất Nguyễn Thị Duệ








V ào thời Lê ở làng An Tử Hạ, huyện Tiên Minh, xứ Hải Dương (nay thuộc xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, Tp.Hải Phòng) có người phụ nữ thông minh đặc biệt tên là Nhữ Thị Thục, con gái của quan Thượng thư bộ Hộ, tiến sĩ Nhữ Văn Lan dưới thời Lê Thánh Tông.

Vì sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng nên bà thông minh và học rất giỏi, tính tình quyết đoán, thông kinh sử; không chỉ thế bà thông tỏ cả dịch lý, tướng số, mang chí lớn của bậc trượng phu.

Biết tướng mạo của mình sẽ sinh quý tử, lại thấy khí số nhà Lê đã đến hồi suy tàn và mất, nên bà quyết phải lấy được người chồng có số làm vua hoặc có số sinh được con thành bậc Thiên Tử này.

Chính vì thế mà dù sinh trưởng trong gia đình quý tộc, có rất nhiều trang tuấn kiệt được giới thiệu hay để mắt đến bà đều lần lượt từ chối, bởi bà biết rằng vận mệnh họ chỉ làm quan phục tùng Vua mà thôi, tuổi trẻ của bà dần trôi qua với những cuộc giao du sơn thủy.

Vào những năm cuối của thời trẻ bà đã gặp được ông đồ nhà quê ít tiếng tăm tên là Nguyễn Văn Định ở huyện Vĩnh Lại (Vĩnh Bảo ngày nay), sở dĩ bà Thục đến với ông vì bà biết rằng ông có tướng sinh ra quý tử.

Tương truyền thì bà Thục đã tính toán rất cẩn thận ngày giờ hợp cẩn nhằm sinh ra con có thể lên ngôi Thiên Tử - đây là mong ước lớn nhất cả đời của bà.

Đêm tân hôn bà dặn đi dặn lại chồng rằng khi trăng lên đến đầu ngọn tre mới được động phòng. Ông Định cứ phải đi qua đi lại ngoài sân, rồi cứ liên tục ngước nhìn ngọn tre mong cho sớm đến giờ. Giai thoại lưu truyền trong dân gian kể rằng ông Định sốt ruột mà động phòng hơi sớm vì thế mà dù sinh con là bậc thiên tài nhưng cũng không thể làm được Thiên Tử.

Sau đó bà thụ thai, sau khi sinh con đặt tên là Nguyễn Văn Đạt, là tên khai sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm sau này.

Bà Nhữ Thị Thục rất kỳ vọng vào con nên ngay từ thuở nhỏ đã chăm sóc dạy dỗ con rất chu đáo, từ khi mới sinh Nguyễn Bỉnh Khiêm được mẹ hát ru bằng những câu dân ca hoặc những vần thơ do bà sáng tác.


1. Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585)


Ông có hiệu là Bạch Vân Am cư sĩ và thường được tôn xưng là Tuyết Giang phu tử.

Theo truyện kể trong dân gian thì Nguyễn Bỉnh Khiêm đầy thôi nôi đã biết nói, lên 4 tuổi đã được mẹ dạy học thuộc lòng các bài chính nghĩa của kinh, truyện cùng với mười bài thơ Nôm. Công lao dạy dỗ của bà đã được Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắc đến trong bài “Tựa Bạch Vân Am” của ông.

Vì muốn con sau này làm Vua, vì thế mà bà Thục có những xích mích với chồng, trong dân gian vẫn còn lưu truyền lại câu chuyện những xích mích này.

Một lần khi bà Nhữ Thị Thục đi chợ, ông Định ở nhà buộc dây vào cành tre, kéo lên, kéo xuống cho con chơi và ngâm đùa rằng: “nguyệt treo cung, nguyệt treo cung!”

Tưởng con không biết gì, ai ngờ Nguyễn Bỉnh Khiêm nói: “vịn tay tiên, nhè nhẹ rung”

Khi bà đi chợ về, ông Định kể lại chuyện khoe vợ, chẳng ngờ bà gay gắt nói: “Nuôi con mong thành Vua, thành Chúa, chứ thành bầy tôi thì nói làm gì” (Nguyệt tượng trưng cho bầy tôi).

Lần khác lúc vợ đi vắng, ông Định lấy sách của vợ tìm một câu để dạy con, thấy câu: “Bống bống, bang bang, ngày sau con lớn, con tựa ngai vàng”.

Ông Định hoảng sợ, lo con đọc có khi bị cho là tội phản nghịch bị chém đầu bèn sửa chữ “tựa” thành chữ “vịn”.

Bà Thục biết chuyện thì than: “Sinh con ra, mong con làm ‘vua’ thiên hạ. Nay thầy nó dạy con làm ‘tôi’, chán quá!”

Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm dần khôn lớn, bà Thục thấy con mình có tướng mạo rất tốt, hiềm nỗi da hơi dày nên biết dù có là thiên tài cũng chẳng thể làm Vua, cộng thêm mâu thuẫn trong việc dạy con, khiến bà chán nản bỏ đi. Ít lâu sau bà gặp và lấy ông Phùng Chí Công và sinh được một ông Trạng nữa cũng nổi danh đất Việt là Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan.


2. Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan


Về việc này gia phả họ Phùng ở Phùng Xá, Thạch Thất, Sơn Tây, mang tên “Ký lục tiên tổ sự tích” có ghi như sau: “Khi thân phụ Phùng Khắc Khoan ở Từ Sơn, có gặp một thiếu phụ từ Hải Dương đến, lông mày lá liễu, sắc mặt hơi buồn. Bà đi cùng đường với ông, được chừng một dặm, ông thấy bà nhàn rỗi như đi dạo, bèn trò chuyện, hỏi han. Thấy ông có phúc tướng, bà mới bộc bạch nỗi lòng. Ông rơi lệ cảm động. Hai người kết nghĩa vợ chồng. Qua năm sau, sinh được con trai có tướng lạ, mới 5-6 tuổi mà đã có khí vũ của bậc trượng phu. Bà mừng rỡ bảo ông nên dạy cho nó học, nếu trời xanh không phụ, may gặp thời phò được thiên hạ nghiêng đổ thì chí thiếp mãn nguyện”.

Người dân làng Phùng Xá cũng như nhà nghiên cứu đều nhìn nhận rằng người phụ nữ Hải Dương ấy mang họ Nhữ, mẹ của Nguyễn Bỉnh Khiêm.


Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm với lời Sấm truyền chính xác.


Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ nổi danh nhờ tài học sâu rộng, có tầm nhìn chiến lược, mà còn được người đời tôn kính vì những lời sấm truyền chính xác.

Nguyễn Bỉnh Khiêm dù không phải là vua, nhưng lại là người quyết định thế cuộc của các thế lực Vua Chúa thời bấy giờ. C ác bậc vua chúa thời đó đều phải tới hỏi ý kiến ông:

- Khi vận nước rối bời, vua Mạc Mậu Hợp đến hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm về thế cuộc, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đáp rằng: “Ngày sau nước có việc, đất Cao Bằng tuy nhỏ, cũng giữ được phúc đến vài đời”. 7 năm sau vua Mạc bị quân Trịnh đánh bật khỏi Thăng Long, nhớ lời dặn của cụ Trạng liền về đất Cao Bằng, quả nhiên giữ thêm được 96 năm nữa.

- Khi Nguyễn Hoàng lo lắng bị chúa Trịnh sát hại bèn hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Bỉnh Khiêm không trả lời chỉ nói rằng:“Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”

(nghĩa là: “Hoành sơn một dãy, dung thân ngàn đời”)

Nguyễn Hoàng liền đến phía nam dãy Hoàng Sơn chính là vùng đất Thanh Hóa, xây dựng cát cứ lập ra nhà Nguyễn sau này.

- Khi vua Lê Trung Tông mất, Trịnh Kiểm muốn nhân cơ hội này muốn chiếm ngôi Vua của nhà Lê, bèn hỏi ý kiến Phùng Khắc Khoan, nhưng ông cũng không biết nên làm thế nào bèn phái người bí mật hỏi anh mình là Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Nguyễn Bỉnh Khiêm nói rằng “Năm nay thóc giống không tốt, chúng bay nên tìm thóc cũ mà gieo mạ”, “Giữ chùa, thờ Phật thì được ăn oản”.

Phùng Khắc Khoan hiểu ý anh mình, nói với chúa Trịnh rằng phải thờ vua Lê thì mới được lâu dài.

Sau này con cháu nhà Trịnh nhiều người muốn cướp ngôi nhà Lê, tìm đến Nguyễn Bỉnh Khiêm thì ông đều nói rằng “Lê tồn, Trịnh tại; Lê bại, Trịnh vong” khiến chúa Trịnh không dám cướp ngôi vua Lê. Đến đời vua cuối cùng của nhà Lê là Lê Chiêu Thống mất ngôi thì nhà Trịnh cũng bị diệt.


Nữ Trạng nguyên duy nhất trong sử Việt: Nguyễn Thị Duệ


Thời xưa “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” được xem là việc của đàn ông, vì thế mà cảnh đèn sách đi thi của các sĩ tử thì tuyệt chỉ có nam giới, không hề có bóng nữ nhi nào. Chính vì thế nếu có bậc nữ nhi nào thông tỏ Tứ thư Ngũ kinh, có chí dùi mài kinh sử thì chỉ có nước đóng giả nam mới có cơ hội lọt vào trường thi.

Lịch sử Việt Nam cũng đã từng có một bậc nhi nữ phải cải trang thành nam để thi tài, kết quả đã vượt qua tất cả các sĩ tử khác đứng đầu khoa thi.


Nguyễn Thị Duệ (1574 - 1654) quê phường Văn An, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ bà có tên là Nguyễn Thị Ngọc Toàn. Tương truyền rằng khi lên 4 tuổi bà đã biết viết chữ, đọc văn thơ, nức tiếng gần xa.

Trong dân gian còn lưu truyền câu chuyện rằng, thuở nhỏ, khi bị một cậu ấm trong vùng đến chọc ghẹo, bà đã làm hai câu thơ như sau:


Sá chi vàng đá hỗn hào

Thoảng đem cánh phượng bay cao thạch thành.


Theo sách “Đại Nam nhất thống chí” thì “bà thông minh hơn người, học rộng hay chữ, hơn 10 tuổi giả trai, theo thầy học tập”.

Cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17, cuộc chiến Trịnh - Mạc nổ ra. Năm 1592, Trịnh Tùng đưa quân tiến đánh Hạ Hồng, Nam Sách, Kinh Môn, chính là gần với quê hương của Nguyễn Thị Duệ. Trận này Mạc Mậu Hợp thất thế và bị bắt, vùng đất Hải Dương bị chiến tranh tàn phá, nhiều người chết. Để tìm đường sống, nhiều người dân trong vùng theo chân nhà Mạc chạy lên Cao Bằng, gia đình Nguyễn Thị Duệ cũng nằm trong số đó.

Tại Cao Bằng, bà tìm học người thầy họ Cao. Khi nhà Mạc mở khoa thi năm 1594, dù có phần sa sút so với trước kia nhưng vẫn có nhiều sĩ tử các nơi đăng ký tham gia. Nguyễn Thị Duệ cùng người thầy của mình cũng đăng ký.

Nguyễn Thị Duệ năm ấy 20 tuổi, cải trang nam nhi mang tên là Nguyễn Du, vượt vào trường thi. Kết quả bất ngờ là bà đã đứng đầu cuộc thi này, còn thầy của bà đứng thứ hai.


Hiền tài khiến Vua chúa triều nào cũng mến phục


Đến buổi yến tiệc dành cho các sĩ tử, nhiều ánh mắt đổ về người đỗ đầu với sự ngưỡng mộ. Vua Mạc Kính Cung thấy chàng trai đỗ đầu này dáng người mảnh mai, nét mặt thanh tú, bèn tìm cách dò hỏi mà biết rõ mọi chuyện của Nguyễn Thị Duệ. Thế nhưng khi biết thân thế thật sự của bà, vua Mạc không trách cứ mà còn khen ngợi.

Nguyễn Thị Duệ được mời vào cung để làm thầy dạy cho các phi tần của vua, ban hiệu là “Lễ nghi cố vấn”, rồi sau đó được tuyển làm Tinh phi. Vì thế người đời quen gọi bà là “Bà chúa Sao”.

Năm 1625, quân Trịnh tiến đánh Cao Bằng diệt nhà Mạc, Nguyễn Thị Duệ phải chạy vào ẩn náu trong rừng nhưng bị quân Trịnh đuổi theo bắt được. Tướng nhà Trịnh là Nguyễn Quý Nhạ vốn cùng quê với bà, từ lâu đã nghe danh tiếng của bà, bèn thảo một tờ biểu cho chúa Trịnh xem xét. Chúa Trịnh Tráng sau khi tìm hiểu, biết bà là người có học thức bèn giao cho bà giảng dạy cho các phi tần ở phủ chúa, cung vua.

Với học vấn uyên thâm, Nguyễn Thị Duệ ở trong cung dạy lễ nghĩa, văn thơ. Tại phủ chúa mỗi khi được hỏi han, bà đều viện dẫn kinh sử cùng các tích cổ nhằm khéo khuyên chúa nghe theo lời răn dạy của các bậc Thánh hiền, lấy dân làm gốc.


Có công lớn trong nền giáo dục nước nhà


Cả vua Lê và chúa Trịnh đều coi trọng bà, phong bà là Nghi Ái Quan, cho phép bà được chấm các bài thi Hội, thi Đình. Nhiều câu chuyện về bà được lưu truyền trong dân gian.

Năm Đức Long thứ 3 thời vua Lê Thần Tông (1631), bà làm giám khảo kỳ thi tiến sĩ được tổ chức ở làng Mao Điền, Hải Dương, có rất nhiều sĩ tử dự thi. Khi chấm bài, các quan giám khảo thấy có một quyển làm 4 mục rất tốt, nhưng lại bỏ qua không làm 8 mục. Nhưng vì bài làm rất tốt nên các quan không nỡ đánh trượt, bèn trình lên cho Chúa xem. Chúa đọc thấy rất tâm đắc nhưng còn vài chỗ chưa hiểu nên hỏi Nguyễn Thị Duệ. Bà liền giải nghĩa theo điển tích, nói ra hàm ý sâu xa, khiến Chúa cùng các quan phải khâm phục cả người làm lẫn người diễn giải. Bà còn bình rằng: “Bài văn làm được 4 câu mà hay còn hơn làm hết 12 câu mà không hay, triều đình cần người thực tài chứ không cần kẻ nịnh bợ”. Thế là các quan cùng đồng ý chấm cho người làm bài đậu tiến sĩ khoa thi năm đó. Đến lúc tra ra mới biết sĩ tử làm bài thi đó là Nguyễn Minh Triết, em họ của bà.

Nhằm khuyến khích việc học tập khắp nơi để có được hiền tài cho đất nước, Nguyễn Thị Duệ đã gửi đề thi đến từng địa phương, rồi tập trung bài lại để chấm.

Nguyễn Thị Duệ cũng xin triều đình lấy nhiều mẫu ruộng tốt cho canh tác lấy hoa lợi, số tiền thu được dùng để thưởng cho những ai có thành tích tốt trong học tập.


LỜI KẾT


Tưởng nhớ Trạng Trình và Nữ Trạng Nguyên


- Văn Miếu ở Mao Điền: Chính giữa thờ Khổng Tử, sau đó lần lượt hai bên là Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phạm Sư Mạnh, Vũ Hữu, Tuệ Tĩnh và đặc biệt bà Nguyễn Thị Duệ là nữ trạng nguyên duy nhất của nước Việt (Văn Miếu ở Mao Điền chỉ đứng sau Văn Miếu Quốc Tử Giám bởi nó đã có 500 năm tồn tại).

- Khu di tích và đền thờ Trình Quốc Công là quần thể các công trình lịch sử - văn hoá gắn với cuộc đời và sự nghiệp danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm, một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất của lịch sử Việt Nam thế kỷ 16, trên quê nội (thuộc làng Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng). Qua cổng tam quan với 3 chữ Hán “Trung Am từ” (đền Trung Am) là khu đền chính thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đền được xây sau khi Trạng Trình mất (1585) với diện tích hơn 4ha, gồm 3 gian được lập trên nền nhà cũ của Trạng Trình, nơi đặt tượng và bài vị của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Sau này những nhà nghiên cứu về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đều đánh giá cao vai trò của bà Nhữ Thị Thục trong việc giáo dục Nguyễn Bỉnh Khiêm, giáo sư sử học Trần Quốc Vượng có nhận xét rằng: Bà Nhữ Thị Thục - thân mẫu danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong ba người phụ nữ nổi tiếng, tài trí hơn người của Việt Nam ở thế kỷ XVI. Đó là Trạng nguyên Linh phi Nguyễn Thị Duệ, Quận công Nhữ Thị Thuận và phu nhân Nhữ Thị Thục”.



(Tham khảo: Sách báo – Internet)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 14.10.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004