Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




TÔN VINH PHẬT









C ó thể nói là chưa bao giờ nước ta Chùa chiền lại phát triển nhiều như bây giờ, Chùa sau luôn hoành tráng hơn Chùa trước, thậm chí không thèm so sánh với Chùa trong nước, mà phải lớn hơn, hoành tráng hơn các Chùa ở Đông Nam Á. Phải chăng mức độ kính ngưỡng Phật của dân tộc mình đã đạt tới đỉnh cao? Hiện tượng đó nói lên được điều gì so với Đạo Phật chân chính? Đó có phải là niềm vui và là sự hãnh diện cho Phật Tử? Có nói lên là Chánh Pháp đã đến thời kỳ hiển lộ hay không?

Quả thật trong khi xã hội ngày càng bất an. Các nhà phê bình cũng đã lên tiếng là đạo đức suy đồi. Nạn trộm cắp, giựt dọc, giết người ở đâu cũng có, và mức độ ngày càng tàn bạo, tinh vi hơn. Con người của thời đại mới ngày càng hung bạo hơn, chỉ cần va chạm nhau một chút, hay vô tình làm mất lòng ai đó, có khi chỉ là một ánh nhìn, một câu nói xúc phạm, thì coi chừng lúc sau có cả băng nhóm kéo tới để bao vây, truy sát. Lường gạt ngày càng tinh vi, vì thế, không chỉ làm cho giới trẻ quên mất mục tiêu phấn đấu bằng cách chịu khó học hỏi mà lại muốn làm giàu nhanh chóng nên một số đã sa vào bẫy bán hàng đa cấp rồi làm khổ gia đình, họ hàng. Người già, về hưu cũng không thoát, vì những lời hứa hẹn có cánh, không cần làm gì, chỉ bỏ vô một ít là tự nó sinh sôi gấp nhiều lần chỉ trong một thời gian ngắn, ai mà chẳng ham! Học sinh thì đua đòi, ỷ mạnh hiếp yếu, cả băng nhóm hùa nhau đánh đập một đứa bạn nào đó rồi quay clip, tải lên mạng để hạ nhục! Những người đó chỉ hối hận khi đối mặt với pháp luật và lãnh bản án mà thôi.

Nhìn hiện tượng xã hội, ta thấy, một mặt thì cái ác đang càng bành trướng, mặt khác là chùa chiền mọc thêm lên. Hai phía Thiện, Ác làm như đang nỗ lực để chứng minh sự hiện diện của mình, trong khi đó thì người lương thiện ai mà chẳng mong một xã hội yên bình, mọi người vui vẻ sống với nhau, chiến tranh, thù hận, ganh ghét, đàn áp nhau không còn nữa…

Xã hội là một ngôi nhà chung, gia đình và nhà trường có trách nhiệm lớn nhất. Nhưng các bậc phụ huynh hiện nay, do cuộc sống khó khăn nên không có thì giờ quan tâm đến con cái, phó mặc cho nhà trường đào tạo được gì hay nấy. Nhà trường là nơi để trẻ con tiếp thu thêm kiến thức chuyên môn, làm vốn kiếm sống khi vào đời. Nhưng do bài vở quá nặng, nên việc trau dồi đạo đức đã bị xem nhẹ, quên rằng ngoài kiến thức, trẻ con rất cần rèn luyện đạo đức, bởi có đạo đức thì xã hội mới yên bình được. Học giỏi bao nhiêu mà thiếu đạo đức thì làm việc nào cũng gây tổn thất nơi đó, bởi chỉ biết vơ vét càng nhiều càng tốt để lo cho bản thân, không nghĩ đến lợi ích chung. Nếu gia đình, nhà trường gieo được cho những đứa trẻ hạt mầm đạo đức, nó đã in sâu vào đầu óc, thì khi trưởng thành hẳn không cần luật pháp nhắc nhở mà vẫn không quên trách nhiệm của mình đối với xã hội, với cuộc đời. Ngoài gia đình, nhà trường, thì có một lực lượng thứ ba góp phần không nhỏ cho việc hướng thiện con người đó là Tôn Giáo. Tôn Giáo không chỉ có ích lợi rất lớn cho việc hướng con người đến những điều tốt lành, mà hàng tuần, hàng tháng, những bài thuyết giảng của các Linh Mục hay các Tu sĩ Phật Giáo luôn dạy con người tránh ác, hành Thiện. Vì thế, Tôn Giáo nào có các điều khoản, giới, luật để nhắc nhở, hướng thiện cho mọi người, hướng dẫn con người biết yêu thương ông bà cha mẹ, yêu thương dân tộc, quê hương, đất nước, không xâm phạm tiền bạc, tài sản của người khác thì đó mới là Tôn Giáo chân chính.

Thật vậy, thoạt nhìn các Tôn Giáo ta sẽ tưởng là chỉ là hướng con người về việc Tôn Thờ, kính mến Giáo Chủ và chịu sự thưởng phạt từ Người. Nhưng nếu chịu khó xét cho kỹ, thì sẽ thấy trong đó các vị Giáo Chủ đã khéo léo cài đặt một số điều kiện để tín đồ phải chấp hành nếu theo mình. Đó là Giới, Luật mà Tín đồ phải tuân giữ.

Có hai Tôn Giáo được cho là có số lượng tín đồ đông nhất là Đạo Thiên Chúa và Đạo Phật. Bên Thiên Chúa Giáo có 10 Điều Răn của Chúa và Sáu Điều Răn của Hội Thánh. Điều Răn thứ Bốn của Chúa là phải “Thảo Kính cha mẹ”, Thứ Năm là “Chớ giết người”. Thứ Sáu “Chớ làm sự Dâm Dục”. Thứ Bảy “Chớ lấy của người”. Thứ Tám “Chớ làm chứng dối”. Thứ Chín “Chớ muốn vợ chồng người”. Thứ Mười “Chớ tham của người”. Mười Điều Răn ấy tóm về hai điều: “Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen”. Như vậy, nếu người giáo dân chỉ một bề đi nhà thờ, thành kính xưng tội, rước lễ đều đặn mà bất hiếu với cha mẹ, thiếu quan tâm đến người khác, bỏ mặc cho họ nghèo đói, thiếu thốn, trong khi ta thừa thãi thì liệu đã giữ đúng, giữ đủ Điều Răn của Chúa chưa?

Bên Đạo Phật cũng không khác: Trong Năm Giới cũng là cấm Giết, Trộm Cắp, Dâm Dục, Nói Dối, thêm điều khoản không được uống rượu, vì Đạo Phật cho rằng khi con người say sưa, đánh mất lý trí rồi thì Giới nào cũng có thể phạm qua câu chuyện sau: Có một Thầy Tu, giữ Giới rất là nghiêm chỉnh. Một lần nọ, đi đường xa quá mệt, vừa đói là vừa khát. Ông ta ghé vào một ngôi nhà bên đường để xin nước. Không thấy chủ nhà, nhưng có một cái lu đựng rượu mà ông ta tưởng là nước, bèn múc một gáo to, uống một hơi. Khi say rượu, ông ta bèn bắt con gà của chủ nhà làm thịt để ăn. Lúc chủ nhà về phát hiện, hỏi thì ông ta chối. Câu chuyện cho rằng chỉ cần phạm một Giới Tửu thôi, là dễ dàng phạm luôn những Giới khác, vì khi say rồi thì không còn lý trí, không còn làm chủ được hành vi nữa.

Dù rằng trong Năm Giới của Đạo Phật không có đề cập đến việc phải thảo kính cha mẹ như Điều Răn Chúa của Đạo Thiên Chúa, nhưng không phải là sơ sót trong việc nhắc nhở người tu về đạo làm, con, làm người, bởi cuối cùng, khi người tu đã làm xong cho mình thì phải đền TỨ ÂN. Trong đó, Ân đầu tiên phải báo đền là Ân Cha Mẹ, rồi đến Ân Đất Nước đã che chở cho mình. Ân Thầy, Ân Phật dạy Đạo cho mình và Ân của mọi người, của chúng sinh, vì góp phần cho mình thành tựu con đường tu hành.

Con đường tu Phật chân chính chỉ là mỗi người tự quay vô để Sửa Cái Tâm - cái đã điều khiển cho cái Thân mọi hành vi - để nó không còn dẫn dắt cho cái Thân hành động sai quấy, là nguyên nhân phải lãnh bao nhiêu Nghiệp xấu, bởi đôi khi phạm tội quá nặng thì không được làm người, mà phải đọa vào kiếp cầm thú. Theo Đức Thích Ca, để có được một thân người toàn vẹn đã là rất khó, nhưng để không phải làm một con người mà phải Khổ vì nghịch cảnh thì cũng là nhờ đã tích phước hay không tạo ác nghiệp từ kiếp xa xưa. Đã vậy, mỗi người không chỉ sống hết kiếp này là xong, vì cái Thân hết Nghiệp thì Chết, nhưng Chân Tánh thì Bất Sinh, Bất Tử, vì thế, cuộc sống lại sẽ được tiếp nối dưới một dạng khác. Có thể tạm ví Chân Tánh như nguồn điện, mà những cái Thân như là những chiếc bóng đèn mà Nghiệp, Duyên của quá khứ làm ra hình dáng, màu sắc, tuổi thọ của nó. Bóng đèn thì có tuổi thọ nhất định, đến thời điểm nào đó thì sẽ đứt tim hoặc vỡ. Nhưng nguồn điện thì vẫn còn, khi được thay bóng khác thì lại sẽ tiếp tục chiếu sáng…

Đạo Phật không trở về quá khứ để cho rằng Thần Linh hay Thượng Đế đã tạo ra con người hay vũ trụ, chỉ chú trọng giải quyết cuộc sống bắt đầu từ hiện kiếp, vì Đạo Phật luận theo Nhân Quả nên cho rằng cái Thân mỗi chúng ta đang mang hiện tại đây, là chính do Nghiệp Thiện hay Ác mà chúng ta đã làm từ kiếp trước. Rồi cũng tương tự như thế mà có cái Thân của kiếp sau. Do vậy, học Đạo Phật là học cho biết nguyên nhân của Sinh Tử Luân Hồi, của Nghiệp Quả và cách thức hóa giải, rồi thực hành theo. Đức Thích Ca không thể cứu độ hay trừng phạt chúng ta. Đọc kỹ cuộc đời của Ngài từ lúc sinh ra, trưởng thành, đi tu và những gì Ngài thấy được gọi là Đắc Đạo rồi truyền lại, ta thấy Ngài chỉ là người đi trước, thấy được cách thức để Thoát Khổ, rồi vì lòng Từ Bi nên đã dùng cả cuộc đời còn lại để thuyết giảng, ai tin thì làm theo đó để được Thoát Khổ mà thôi. Chính vì vậy mà Đạo Phật được gọi là Đạo ĐỘ KHỔ. Đạo Phật cũng cho là mỗi hành vi của chúng ta, từ nghĩ tưởng cho tới thực hiện đều là cái NHÂN, đến lúc nào đó nó sẽ hình thành, gọi là Quả, và dùng đó để giáo dục cho con người sợ phải gặp Quả Báo mà Cải Ác, Hành Thiện, vì thế Đạo Phật còn được gọi là Đạo Nhân Quả. Vì thế, người tin rằng Phật là Thần Linh, có quyền phép vô biên để cứu độ hay ban ân, giáng họa cho tất cả mọi người rồi tôn thờ, cầu xin thì đó là người hiểu lầm phương tiện mà Đạo Phật đã dùng.

Hoàn toàn khác với với bên Đạo Thiên Chúa, vì Đạo này cho rằng Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo ra tất cả, toàn quyền thưởng phạt khi con người làm lành hay làm ác, do đó, việc thờ phụng, cầu xin Chúa là điều cần làm. Bên Đạo Phật, trái lại, Giáo Chủ là Đức Thích Ca chỉ là một con người bình thường như tất cả mọi người. Ngài chỉ là người khám phá ra cách thức để Thoát Khổ rồi hệ thống lại trong Giáo Pháp gồm những lý thuyết, những bài học, bài tập để người tu tự Quán sát, Tư Duy, thực hành, rồi nhận lấy kết quả của việc mình làm. Đức Thích Ca không có quyền can thiệp vào số phận của chúng ta hay của vũ trụ, vì Ngài không phải là Thần Linh. Chính mỗi chúng ta sẽ là người quyết định số phận cho mình theo Luật Nhân Quả. Làm Lành có Quả Lành, Làm Ác gặp Quả Ác. Phật không thể bao che, tha thứ, cứu độ cho chúng ta được, nên chỉ những người không hiểu hết về Phật mới cầu xin Ngài.

Dù Đức Thích Ca có ân lớn đối với con người, là đưa ra một phương pháp để cứu cho con người Thoát Khổ, nên chúng ta tri ân Ngài là điều cần làm. Thế nhưng, ai cũng biết, để tỏ lòng quý mến một ai đó, thì công thức chung là tặng cho họ những vật dụng hay những thứ mà họ yêu thích. Với phụ nữ thì tùy theo khả năng mà người yêu thích nàng sẽ tặng nữ trang, xe hơi, vật dụng, biệt thự v.v... Trước đó còn phải hỏi ý kiến xem nàng thích loại nào, kiểu nào, không thể tùy tiện mua tặng. Với cấp trên cũng thế, người nhân viên muốn tặng quà còn phải cất công đi dò hỏi những ngày kỷ niệm của gia đình sếp, ngày sinh nhật, ngày cưới v.v... để mua quà cho phù hợp, lại phải biết ý sếp thích được tặng những món gì? Đi ăn thì ở nhà hàng nào? Du lịch thì nước nào v.v… để món quà làm hài lòng người được tặng. Cúng Giỗ cho ông bà cha mẹ cũng thế. Con cháu thường cúng những thứ ông bà yêu thích lúc sinh tiền. Ông bà ăn chay thì không bao giờ cúng mặn. Ông bà hay bố thí cho người nghèo thì lúc đó họ cũng làm như thế để tỏ lòng thương nhớ. Thế nhưng để tôn vinh Phật thì chúng ta thấy đa phần có vẻ hay làm ngược lại với những gì lúc sinh tiền Ngài đã làm. Sinh thời, Ngài bỏ cung vàng, điện ngọc, xa mã để đi làm Du Tăng Khất Sĩ, cư ngụ trong rừng hay dưới cội cây. Cả cuộc đời Đức Phật từ khi tu hành là sống thanh đạm, nuôi thân bằng Khất thực, ai bố thí cho thứ gì thì ăn thứ đó, không đòi hỏi mâm cao, cỗ đầy, không cần biết món chay hay mặn. Đi thì đi bộ, chân trần. Y phục thì chỉ nhằm mục đích che thân nên dùng vải liệm thi là thứ thiên hạ vất đi, hoặc vải thô, còn mang hoại sắc đi. Không chỉ có lòng từ bi đối với đồng loại, thậm chí thời điểm mà thú rừng sinh sôi, Ngài còn dạy Chư Đệ Tử phải an cư để tránh dẫm phải, làm tổn hại đến những sinh vật bé nhỏ.

Vậy mà, từ nhiều thời cho đến hiện nay, để tôn vinh Phật thì chúng ta thường hô hào nhau cất chùa cho to, trang hoàng lộng lẫy, dùng vàng, bạc hay chất liệu quý để đúc tượng cho lớn, rồi khói hương thờ lạy! Những nước như Miến Điện, Thái Lan, Campuchia còn dùng vàng để đúc mái Chùa, đúc Tượng, cẩn ngọc quý lên đó mà cho tới thời này trở thành những điểm du lịch thu hút du khách khắp nơi đến chiêm bái. Số người Xuất Gia ngày càng đông nhưng đa phần là Thờ Phật, không phải là tu Phật, nên vắng hẳn những bài Kệ như của các vị Giác Ngộ thời xưa, chỉ tập trung vào việc Tụng Kinh, Niệm Phật, tổ chức lễ hội cho đình đám. Chùa chiền cũng mất đi nét thanh tịnh, u nhàn, mà cũng rộn ràng xe cộ màu sắc! Việc đào tạo bậc giác ngộ không thấy nói đến mà chỉ chú trọng đến thu nạp đệ tử cho đông, cất thêm nhiều chi nhánh, kêu gọi tín đồ quy y cho nhiều, cho rằng như vậy là hoằng dương Chánh Pháp. Theo tôi, lẽ ra như thế gian thường tình, chúng ta muốn tôn vinh ai thì cách hay nhất là làm cho họ hài lòng. Điều Đức Thích Ca mong mỏi không phải là những Chùa Chiền to lớn, trang hoàng lộng lẫy, lễ hội hoành tráng, đông đảo tín đồ, mà là tất cả mọi người sẽ Thành Phật như ngài. Điều mong mỏi đó được thể hiện qua lời Thọ Ký: “Ta là Phật đã thành. Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành”, hoặc câu Kệ Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa:“Xá Lợi Phất nên biết. Ta muốn tất cả chúng. Bằng như ta không khác” sao chúng ta không nghiên cứu để thực hiện điều đó?

Đạo Phật ra đời cũng gần được 3.000 năm rồi, Phật Tử có vẻ như ngày càng đi vào thờ cúng, cầu xin càng nhiều, khác hẳn những gì Đức Thích Ca dạy đến nỗi những nhà Khảo Cổ, khi đến Ấn Độ để khảo sát những địa danh nơi Đức Phật sinh ra và giảng đạo đã thốt lên câu đáng cho chúng ta suy nghĩ: “Trớ trêu thay, sau cái chết của Đức Phật - người đã giảng về sự vô ích của những nghi lễ thờ cúng và sự sùng bái cá nhân - lại trở thành đối tượng được thờ cúng và sùng bái nhiều nhất trong lịch sử”! Theo những gì mà Đạo Phật đặt ra cho mỗi người ngay khi bước vào quy y và suốt đời phải giữ, là Ngũ Giới, trong đó thể hiện sự tôn trọng tự do, tư hữu của người và vật chung quanh, lời nói phải trung thực, và đền đáp Tứ Ân qua cách sống. Vì vậy, nếu chúng ta cho rằng mình là đệ tử Phật, mà không hiếu kính ông bà cha mẹ, sống cho có đức độ, hành theo những gì Phật mong mỏi, chỉ chú trọng vào hình thức bên ngoài, thì e rằng chưa xứng đáng là đệ tử của Ngài, vì Phật Ngôn có câu: “Kẻ nào ca ngợi ta, tán thán ta mà không hành theo lời ta chỉ dạy. Kẻ đó đang phỉ báng nặng nề ta”.


Tháng 8/ 2017




. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 09.9.2017.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004